Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Kỷ Niệm 400 Năm Một Tín Hữu Tin Lành Anh Đến Việt Nam

Kỷ Niệm 400 Năm Một Tín Hữu Tin Lành Anh Đến Việt Nam

Lời Ban Biên Tập

Năm 2017 là dịp kỷ niệm 500 năm Martin Luther khởi xướng phong trào Cải Chánh (1517-2017).  Năm 2017 cũng là dịp kỷ niệm 400 năm William Adams, một tín hữu Tin Lành người Anh, đến Việt Nam. Nhân dịp này, Thư Viện Tin Lành xin giới thiệu với bạn đọc một ít tài liệu về William Adams.  Tài liệu này được trích trong sách Những Người Tin Lành Tại Việt Nam Trước Năm 1911, xuất bản tại San Diego, California vào năm 2011.   Ban Biên Tập Thư Viện Tin Lành chân thành cảm ơn tác giả đã cho phép trích đăng tài liệu này. Mời bạn đọc cùng theo dõi. 

 

William Adams (1564-1620) 
Tín Hữu Tin Lành Người Anh Đầu Tiên Đến Việt Nam

Theo các sử liệu hiện có, William Adams là tín hữu Tin Lành người Anh đầu tiên đến Việt Nam. 

William Adams sinh ngày 24/9/1564 tại Gillingham, Kent, Anh Quốc. Vào thời trai trẻ, William Adams được học kỹ thuật đóng tàu dưới sự hướng dẫn của Nicholas Diggens, một chuyên viên đóng tàu của Anh tại Limehouse.  Sau thời gian tập sự, William Adams tham gia hải quân Anh.   William Adams làm thuyền trưởng của thuyền Richarde Dyffylde với thủy thủ đoàn gồm 70 người.   William Adams đã tham dự trận thủy chiến Armada đánh thắng người Tây Ban Nha vào năm 1588.  Trong 10 năm sau đó, William Adams làm việc cho Company of Barbary Merchants của người Hòa Lan. 

Đội tàu gồm năm thương thuyền của các tín hữu Tin Lành Hòa Lan khởi hành sang Á Đông vào năm 1598

Ngày 27/6/1598, William Adams làm hoa tiêu trưởng cho một thuyền Hòa Lan trong trong đội thương thuyền gồm 5 tàu Geloof (“Đức Tin”), Hoop (Hy Vọng), De Liefde (Tình Yêu), Blijde Boodschap (“Phúc Âm”), và Trouw (“Trung Tín”) do Jacques Mahu chỉ huy đi Á Châu.  Ban đầu, William Adams làm việc trên thuyền Hoop (Hy Vọng).  Trên đường đi ông được chuyển sang lái thuyền De Liefde (Tình Yêu)Trong đoàn thuyền năm chiếc, chỉ có thuyền do William Adams điều khiển đã vượt Thái Bình Dương đến được vịnh Beppu của Nhật vào ngày 19/4/1600.[1]

Các sử gia Anh cho biết William Adams là người đã đặt nền móng cho việc giao thương giữa Anh và Nhật vào năm 1613. Trước đó,  William Adams cũng là người đã giúp Hòa Lan thiết lập mối bang giao với Nhật vào năm 1609,[2] giúp Tây Ban Nha nối lại giao thương với Nhật vào năm 1608.[3]

Tượng đài kỷ niệm William Adams tại Nagisacho, Nhật

Cách đây vài năm, Hòa Lan và Nhật đã kỷ niệm 400 năm ngày giao thương giữa hai quốc gia.  Năm 2013, Anh Quốc và Nhật kỷ niệm 400 năm ngày bang giao giữa hai nước.  Cũng chính William Adams đó vào năm 1617 đã cố gắng thiết lập mối bang giao giữa Anh và Việt Nam sau khi nỗ lực lần đầu tiên do các đồng nghiệp của ông thực hiện vào năm 1614 bị thất bại.  Rất tiếc, vì những nguyên nhân khác nhau, những nỗ lực đó cũng không thành.  Nếu không,  năm 2014 Việt Nam và Anh Quốc cũng sẽ kỷ niệm 400 năm ngày bang giao giữa hai quốc gia.   

Theo các tài liệu của Công ty Đông Ấn Anh, William Adams là người được chuẩn bị để đến Đại Việt xin bang giao vào năm 1614.  Theo chỉ thị của Thuyền trưởng John Saris,  William Adams sẽ là người mang quốc thư của Anh Hoàng James Đệ I đến trình cho những nhà lãnh đạo Việt Nam.  Tuy nhiên, Richard  Cock, giám đốc của Công ty Đông Ấn Anh tại Nhật, cần William Adams đi Yedo[4] gặp sứ quân Nhật để xin mở chi nhánh của công ty tại đó; vì công việc gặp lãnh đạo nước Nhật quan trọng hơn, do đó chuyến đi Việt Nam được giao cho Tempest Peacock và Walter Carwarden.[5] 

Mặc dầu không đi Việt Nam, trong một bức thư viết ngày 26/7/1614 gởi cho Richard Wickham, một nhân viên khác của Công ty Đông Ấn Anh tại Yedo, William Adams đã báo tin cho Wickham biết về những bất hạnh đã xảy ra cho Tempest Peacock và Walter Carwarden tại Việt Nam. Tempest Peacock và những người Hòa Lan cùng đi, sau khi giao hàng, lúc quay lại thuyền đã bị một thuyền lớn tấn công và nhận chìm.   Walter Carwarden không lên bờ, nhưng ở lại giữ thuyền, hy vọng còn sống sót.  Tuy nhiên, sau đó Walter Carwarden cũng bị chính quyền địa phương lùng bắt và hiện giờ không biết số phận ra sao.[6]

Tháng 1 năm 1617, William Adams đã mua lại chiếc Sea Adventurer (Hải Du), tân trang, rồi đổi tên thành Gift of God (Món Quà Của Chúa) để chuẩn bị cho chuyến đi Đàng Trong. Hàng hóa và vốn trên thuyền trị giá khoảng 1200 bảng Anh.[7] Ngoài việc mua bán, sứ mạng chính của chuyến đi là điều tra về nguyên nhân khiến phái đoàn Anh bị thảm sát. Bên cạnh đó, William Adams nhận trách nhiệm thăm dò về khả năng giao thương với Đàng Trong.  Trước khi đi, ngày 9/3/1617 William Adams đến gặp sứ quân Nhật xin một thư giới thiệu với những lời tốt đẹp gởi cho chúa Nguyễn.[8]  Lúc đó chúa Nguyễn và các nhà lãnh đạo Nhật đã có những quan hệ ngoại giao.

Theo nhật ký hải trình, chuyến đi Đàng Trong dự định khởi thành từ ngày 17/3/1617 nhưng mãi đến ngày 23/3/1617 thuyền mới thực sự rời khỏi Kawachi[9] (Nhật). Hai nhân viên chính của phái đoàn là William Adams, giữ chức vụ thuyền trưởng, và Edmund Saris, đặc trách việc kinh doanh. 

Ngày 20/4/1617, thuyền đến Quảng Nam.  Khi đến nơi,  William Adams và Edmund Saris dò hỏi về nguyên nhân cái chết của Tempest Peacock và Walter Carwarden.  Tuy nhiên, cả hai không tìm thấy những chi tiết mới.  Vị quan dính líu đến vụ thảm sát bây giờ là một cận thần uy tín của chúa Nguyễn. 

Ngày 31/4/1617, William Adams và Edmund Saris gặp một hoàng tử, có lẽ là Thái tử Nguyễn Phúc Lan.  Thái tử rất vui trong buổi gặp mặt này.[10]  Sau khi gặp thái tử, ngày 1/5/1617 William Adams cử một thương gia Nhật đến Thuận Hóa gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên để xin giấy phép kinh doanh.  Ngày 10/5/1617, người này trở lại và hôm sau thì William Adams nhận được môn bài[11] để mua bán tại Đàng Trong.

William Adams và Edmund Saris tiếp tục ở tại Hội An đến cuối tháng 6 năm 1617.  Trong thời gian này, Edmund Saris bị mất hết số tiền dùng để thanh toán tiền mua lụa.  Số tiền đó Edmund Saris cất trong nhà, nhưng căn nhà làm bằng lá; kẻ trộm biết phái đoàn Anh là người mới đến Hội An thiếu kinh nghiệm nên xé vách nhà lấy toàn bộ số tiền cho việc kinh doanh. 

Sau chuyến đi đó,  William Adams viết trong báo cáo gởi cho Richard Cocks, nhận xét về Đàng Trong như sau:  “Vua Đàng Trong rất sẵn lòng. Quốc gia của chúng ta nên giao thương với nước của Ngài.”[12] William Adams biết Đàng Trong sẽ trở thành một quốc gia độc lập nên đã đề nghị những nhà lãnh đạo Anh Quốc hãy bỏ qua những điều đã xảy ra trong quá khứ và xúc tiến việc giao thương với Đàng Trong. 

Năm 1618, William Adams thực hiện thêm một chuyến đi Đàng Trong nữa.   Lần này William Adams, Edmund Saris và Robert Hawley đi chung với các thương nhân người Trung Hoa.  Ngày 9/3/1618, chuyến đi đã được chuẩn bị sẵn sàng.  Thuyền ra khơi vào ngày 17/3/1618 từ Fukuda.  Tuy nhiên, năm đó thời tiết không thuận.  Phần lớn các chuyến đi về phương nam đều bị hủy bỏ.  Sau gần một tháng trên biển, lẽ ra thuyền đã đến Đàng Trong, lần này thuyền chỉ vượt khỏi quần đảo Riu Kiu của Nhật được một chút.  Sau nhiều lần bàn bạc, thủy thủ đoàn quyết định hủy bỏ chuyến đi.  Thuyền quay lại Hirado vào ngày 17/5/1618.[13]

Mặc dầu chuyến đi năm 1618 không thành công nhưng có một chi tiết lý thú cho thấy William Adams rất nhiệt tâm trong việc giao thương với Việt Nam. Sau chuyến đi năm 1617, William Adams đã bắt đầu học tiếng Việt.  Cuối nhật ký hải trình trong chuyến đi năm 1618 (trang 51) và 1619 (trang 79), William Adams có viết những chữ Quốc Ngữ bằng tiếng Việt.  Học giả Purnell đã cho in lại những dòng chữ này trong cuốn sách của tác giả tại trang 248.  Những chữ Quốc Ngữ do William Adams viết có lẽ là những chữ Quốc Ngữ sớm nhất mà chúng ta được biết và vẫn còn lưu giữ cho tới nay.  Thủ bản nhật ký hải hành của William Adams hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Bodleian của Viện Đại Học Oxford, Anh Quốc.[14]

Năm 1619, William Adams lại đi Việt Nam.  Lần này, ông đến Đàng Ngoài.  Nhật ký hải hành của chuyến đi bắt đầu với dòng chữ: “Bởi ân điển của Chúa ngày 15/3/1619, khởi hành đi Đàng Ngoài từ thị trấn Ferando bằng một chiếc thuyền mới.”  Chuyến đi khởi hành thuận lợi, nhưng khi chỉ còn có 10 hải lý trước khi đến Đàng Ngoài thì gió thổi ngược và bão nổi lên.  Thuyền phải mất gần tám ngày để đi xong đoạn đường này.  Trên đường đi, thuyền của William Adams đã cứu một người Việt bị đắm thuyền trôi dạt trên biển với một mảnh ván.  Cùng đi với William Adams lần này có thuyền của những thương nhân Hòa Lan.  Một người Hòa Lan mà ông nhắc tên là Jan Joosten Lodensteyn,[15] một thủy thủ Hòa Lan, cùng với William Adams đã sống sót sau chuyến đi của thuyền De Liefde vào năm 1600. 

Sau gần đúng một tháng từ ngày khởi hành, ngày 14/4/1619, thuyền Gifts of God đến Đàng Ngoài và thả neo bình an hai dặm bên trong cửa sông Hồng.  Đến nơi, William Adams viết: “Tạ ơn Chúa Quyền Năng vì được bình an.”

Ngày 15/4/1619, thủy thủ đoàn chuyển hàng từ thuyền lớn sang ghe nhỏ để chở lên Kẻ Chợ.  Ngày 17/4/1619, dò thấy mực nước sông Hồng được bốn mét nên William Adams đem thuyền gần trong cửa sông.  Ngày 20/4/1619, William Adams cử người mang quà tặng hoàng tử, có lẽ là Thái tử Trịnh Tráng.  Ngày 22/4/1619, phái đoàn làm nhà tạm để ở.  Rút kinh nghiệm tại Đàng Trong, lần này William Adams cho đào hào chung quanh nhà.   

William Adams ở tại Đàng Ngoài gần ba tháng, dành phần lớn thì giờ thương lượng với thái tử và các thái giám.  Các viên chức Đàng Ngoài yêu cầu đưa tiền trước nhưng chậm trễ trong việc giao hàng.  Phải mất 45 ngày mới xin được giấy phép kinh doanh.  Cuối cùng, việc mua bán cũng xong. Ngày 12/7/1619, William Adams biết chắc rằng sẽ không nhận được lụa từ số tiền ứng trước cho thái tử.  Ngày 16/7/1619, thuyền khởi hành lên đường trở lại Nhật.   Trên đường về, thuyền vớt 6 người Trung Hoa bị đắm thuyền.  Ngày 22/8/1619 thuyền cách Đài Loan 60 hải lý và nhật ký ngưng ở đó.[16]   

William Adams dự tính sẽ thực hiện những kế hoạch giao thương lâu dài với Việt Nam. Tuy nhiên, những dự tính đó không thể tiến hành. Trên chuyến đi từ Việt Nam về lại Nhật, William Adams đột ngột bị bệnh nặng.  Ngày 8/9/1619,  Richard Cocks dự định cùng William Adams đi gặp sứ quân Nhật nhưng William Eaton báo cho Richard Cocks biết rằng thuyền trưởng William Adams bị bệnh rất nặng.   Vài tháng sau đó, William Adams qua đời.  

Purnell, tác giả của The Log-book of William Adams 1615-1619, viết rằng nguyên nhân căn bệnh nguy kịch của William Adams sau khi rời Việt Nam đã khiến ông qua đời vài tháng sau đó là một bí ẩn cho đến nay vẫn chưa được rõ.     

William Adams về với Chúa vào ngày 16/5/1620 tại Nhật.  Trước sự ra đi của William Adams, Richard Cock đã viết như sau:  “Tôi không thể nào bày tỏ hết lòng nuối tiếc về việc mất một người như Thuyền trưởng William Adams.  Hai Hoàng đế Nhật vô cùng quý mến ông và không một Cơ Đốc nhân nào ở khu vực nầy của thế giới có được ảnh hưởng như vậy.”[17]   

Bia mộ của William Adams tại Hirado, Nagasaki, Nhật

Bài viết trích đăng từ trang 266-271 trong sách Những Người Tin Lành Tại Việt Nam Trước Năm 1911. 
Thư Viện Tin Lành trích đăng với sự cho phép của tác giả.

Ghi Chú:

Theo các sử liệu hiện có, William Adams có lẽ là người Tin Lành đầu tiên viết chữ Quốc Ngữ. Trong chuyến đi Đàng Trong vào năm 1617, William Adams đã học một ít tiếng Việt.  Năm 1618, William Adams dự định trở lại Đàng Trong.  Trong nhật ký hải hành, William Adams đã viết các con số đếm từ một đến mười trong chữ Quốc Ngữ.  Theo C.J. Purnell, bản viết tay có những dòng chữ viết này hiện được lưu giữ tại Thư viện Bodleian của Đại Học Oxford, Anh Quốc.[18]  Đây có lẽ là những dòng chữ Quốc Ngữ sớm nhất đã được lưu giữ từ năm 1618 cho tới nay.  Linh mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam vào năm 1625. Cuốn từ điển Annam, Bồ-đào-nha, và Latin (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum)  do  Linh mục Alexandre de Rhodes tổng hợp và biên soạn phát hành vào năm 1651.

Cuộc sống của William Adams tại Nhật và ảnh hưởng của ông trên những nhà lãnh đạo nước Nhật là nguồn cảm hứng cho của  James Clavell viết cuốn tiểu thuyết Shōgun, xuất bản vào năm 1975. Cuốn sách đã được đóng thành phim, do tài tử Richard Chamberlain đóng vai William Adams.  Cuốn tiểu thuyết này đã được Ngô Vĩnh Viễn và Bùi Phụng dịch ra tiếng Việt với tựa đề Shogun (Tướng Quân), được phát hành bốn tập bởi Nhà Xuất Bản Lao Động vào năm 1988. 

Chú Thích:

[1] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 156.
[2] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 270-271.
[3] Jansens, J, A History of Catholic Church in Japan, Tokyo (1973).  Nguyễn Hữu Anh Vương, Trương Văn Thơm, Lịch Sử Giáo Hội Công giáo Nhật Bản,  143.
[4] Tokyo
[5] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 165.
[6] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 271-272.
[7] Thompson, E.M., Diary of Richard Cocks, London: The Harluyt Society (1876), xix.
[8] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 179.
[9] Kawachi hay Kochi là tên gọi thời xưa của Hirado.  Satow, E.M., The Voyages of Captain John Saris, xlix.
[10] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 232-233.
[11] Môn bài: giấy phép kinh doanh. Trong nhật ký, William Adams viết bằng chữ Quốc Ngữ là “mobay” hoặc “moopay”. Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 233, 259.
[12] Nguyên văn: The King of Cochin China is well contented. Our nation shall trade into his country. Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 177.
[13] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 242-248.
[14] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 156.
[15] Nguyên văn:  Joh Joystoll [Folio 58] và John Jostell [Folio 60]. 
[16] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 249-269.
[17] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 185.
[18] Purnell, C.J., The Log-book of William Adams, 156.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top