Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tưởng Niệm Linh Cương

Tưởng Niệm Linh Cương

Lời Ban Biên Tập

Thi sĩ Linh Cương về với Chúa vào ngày 11/11/2012, cách đây tròn một năm.   Nhân dịp này, Thư Viện Tin Lành xin gởi đến bạn đọc bài viết về Linh Cương, một thi sĩ Tin Lành được nhiều người yêu thích.

Thi Sĩ Linh Cương (1927-2012)

ThiSiLinhCuong Vài Nét Tiểu Sử

Thi sĩ Linh Cương, tên thật là Nguyễn Đình Hưng, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1927 tại làng Chánh Khoan, quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.  Thân phụ của Thi sĩ Linh Cương là cụ Nguyễn Đình Khoan.

Vào thập niên 1930, cụ Nguyễn Đình Khoan đem gia đình từ Bình Định vào Sài Gòn lập nghiệp, sinh sống tại Gia Định.  Tại đây cụ tiếp nhận Chúa.

Với lòng yêu mến Chúa sâu xa, cụ Nguyễn Đình Khoan sau đó đã về quê, thăm viếng và giới thiệu niềm tin nơi Đức Chúa Giê-xu cho bà con và những người trong làng.  Một số người nghe cụ Nguyễn Đình Khoan giới thiệu Chúa, đã tin Chúa và trở thành những tín hữu Tin Lành đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành tại xã Mỹ Đức, quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.   Trong số những tín hữu đó có cụ Đặng Thanh Tân là thân sinh Mục sư Đặng Đăng Khoa; cụ Đặng Thái Hòa là ông nội của Mục sư Đặng Thái Ninh; và cụ Nguyễn Lữ là ông nội của Mục sư Nguyễn An Toàn.

Chịu ảnh hưởng của một người cha có lòng yêu mến Chúa, Linh Cương tiếp nhận Chúa từ thời niên thiếu.  Linh Cương được gia đình dạy dỗ, hướng dẫn lớn lên trong đức tin nơi Chúa.  Lúc còn trẻ, Linh Cương giúp việc cho các giáo sĩ Irwin Stebbins và D.I. Jeffrey.  Trong thời gian làm việc tại Đà Lạt, Linh Cương tham gia một số mục vụ của hội thánh địa phương.

Linh Cương là người có khiếu về văn chương và ngoại ngữ.  Ông tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài Gòn với bằng cử nhân Anh Văn, Pháp Văn và Việt Văn.  Như một số người có học trong nửa đầu của thế kỷ 20, Linh Cương biết chữ Hán, và rất giỏi chữ Hán.

Sau khi tốt nghiệp đại học, trong những năm đầu của thập niên 1950, Linh Cương tham gia làm việc trong ngành giáo dục.  Ông là Hiệu Trưởng của Trường Tiểu Học Tin Lành tại Sài Gòn và Hiệu Trưởng Trường Trung Tiểu Học Tin Lành tại Khánh Hội.

Cuối thập niên 1950, Linh Cương làm việc cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, công tác tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.  Năm 1975, Linh Cương và gia đình di tản khỏi Việt Nam.  Trong 12 năm kế tiếp, Linh Cương tiếp tục làm việc cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và sống tại Okinawa, Nhật.

Năm 1987, Linh Cương về hưu. Ông cùng gia đình định cư tại Garland, Texas.  Tại đây, ông tham gia hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin Lành Baptist Đức Tin.

Trong lúc an hưởng tuổi già, Linh Cương tiếp tục sáng tác.  Năm 1993, Linh Cương tham gia Ban Biên Tập Nguyệt San Linh Lực của Hội Thánh Tin Lành Giám Lý Việt Nam tại San Diego. Linh Cương là thành viên trong Ban Biêp Tập Linh Lực gần 20 năm, cho tới khi ông qua đời.

Linh Cương về với Chúa vào ngày 11/11/2012, hưởng thọ 85 tuổi.  Ông được an táng tại Dallas, Texas.

Sáng Tác

Linh Cương là người giàu tình cảm, có kiến thức sâu rộng về văn chương và văn học cổ điển.  Linh Cương thích làm thơ và đã làm thơ từ thời niên thiếu.

Bài thơ đầu tiên của Linh Cương được đăng trên Thánh Kinh Báo là bài Sống Lại và Sống Mãi, phát hành vào tháng 3 năm 1951 nhân dịp kỷ niệm lễ Phục Sinh.  Những câu mở đầu và kết thúc của bài thơ như sau:

Bình minh hé: nắng vàng tô vũ trụ,
Muôn hoa cười, nhí nhảnh tiếng chim ca,
Suối nhảy nhót vì cửa mồ tung mở:
Chúa sống rồi!  Vầng đá mộ lăn xa.
Thắng Thần Chết, Chúa khải ca sống lại!
Xích xiềng nào trói cột được Jêsus?
……………..
……………..
Nầy bạn hỡi!  Hồn bạn đang tan vỡ,
Mau quay bước hăm hở đến Gô-gô-tha:
Đầy, người cũ rụi, đời bạn sẽ nở hoa,
Tươi thắm mãi, sống vui, sống không già cùng Cứu Chúa!

(Sống Lại và Sống Mãi – Thánh Kinh Báo – Tháng 3, 1951)

Ngay trong tác phẩm đầu tiên này, văn phong, tư tưởng, tình cảm, và niềm tin – những đặc điểm nổi bật trong thơ Linh Cương – đã được xác định rõ. Bài thơ không phải chỉ là dấu mốc khởi đầu cho sự nghiệp sáng tác thi ca Cơ Đốc của Linh Cương kéo dài hơn sáu thập niên sau đó nhưng cũng mở đầu cho một khuynh hướng sáng tác mới trong thi ca Tin Lành Việt Nam.

Trong suốt hơn 60 năm làm thơ, Linh Cương chỉ xuất bản hai tập thơ.  Tập thơ đầu tiên Bóng Tối và Niềm Tin, gồm những bài thơ sáng tác trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 1975 cho đến tháng 6 năm 1980, trong đó có duy nhất bài Sa Mạc được sáng tác trước năm 1975.  Tập thơ này do Hội Bạn Những Người Tỵ Nạn Thế Giới tại Nimes, Pháp phát hành vào năm 1980 với mục đích khích lệ tinh thần những người Việt Nam đang sống tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á trong khoảng thời gian đó.    Tập thơ thứ hai là Niềm Tin Hy Vọng xuất bản vào năm 1991, bao gồm một số bài thơ sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến năm 1991.

Phần lớn sáng tác của Linh Cương không được in thành sách, nhưng hàng trăm bài thơ của ông đã được phát hành qua các tờ báo như Thánh Kinh Báo, Niềm Tin, Rạng Đông, Hừng Đông (trước năm 1975) và Đuốc Thiêng, Thông Công, Ánh Sáng, Linh Lực (sau năm 1975).  Bên cạnh đó, Linh Cương đã sáng tác hàng trăm bài thơ khác để tặng những người thân trong gia đình, bạn bè và các mục sư trong nhiều Hội Thánh.

Ngoài những ấn phẩm đến tay độc giả, thơ của Linh Cương cũng được phổ biến trên Đài Phát Thanh Nguồn Sống.   Những sứ điệp hy vọng trong các tác phẩm của ông đã được truyền đến cho hàng triệu thính giả Việt Nam khắp thế giới trong vài chục năm qua.

Vài Nhận Định

Đặc điểm nổi bật trong thơ Linh Cương là niềm tin sâu sắc nơi Chúa được thể hiện thật rõ nét. Tựa đề hai tập thơ Bóng Tối và Niềm Tin,Niềm Tin Hy Vọng khẳng định điều này. Niềm Tin là gạch nối giữa Bóng TốiHy Vọng; niềm tin nơi Thiên Chúa có năng quyền đem con người từ bóng tối tuyệt vọng đến ánh sáng hy vọng.

Thơ của Linh Cương, dầu viết cho chính mình, hoặc để tặng những người thân yêu, hay viết cho độc giả phổ thông, đều thể hiện một niềm tin sâu đậm nơi Chúa.  Mặc dầu Linh Cương không thuyết giảng nhưng người đọc có thể cảm nhận được đức tin nơi Chúa của tác giả bộc lộ rõ ràng qua những vần thơ.

Thi sĩ Việt Chí Nhân, một Phật tử tại California, sau khi đọc tập thơ Bóng Tối và Niềm Tin của Linh Cương đã viết như sau:

Tôi đọc thơ Linh Cương
Lòng như vấn như vương!
Bỗng tai nghe như tiếng
Chúa gọi từ Thiên Đường!

Giữa bầu trời thâm u
Mây đen phủ mịt mù
Một khoảng xanh hé mở
Tôi thấy Chúa Giê-xu!

Tôi quỳ xuống rùng mình
Nhức đau những vết đinh
Chúa xưa đã phải chịu
Khi vì đời giáng sinh!

Tại thơ Linh Cương hay
Đủ tỉnh thức kẻ say
Nên nếu chưa theo Phật
Tôi sẽ theo Chúa ngay!”

Thi sĩ Bạch Loan, một Phật tử khác tại Oklahoma đã viết:

“Linh Cương đã trồng thật nhiều loại hoa trong Vườn hoa Chúa.  Thơ Linh Cương đa cảm nhưng không ủy mị.  Anh đem tâm tình ý sống qua những tháng ngày theo bước Chúa, những đoạn trường đầy gấm hoa dàn trải, cũng như đầy thử thách chông gai, những kinh nghiệm qua bao thay đổi cuộc đời, những đau khổ yếu đuối nhất nhưng không bao giờ tuyệt vọng, để dệt thành thơ ca ngợi và làm chứng về Đấng Cứu Rỗi.

Tôi theo Phật giáo, nhưng tập thơ Bóng Tối và Niềm Tin đã giúp tôi quyết định học Kinh Thánh và tin nhận Chúa.  Thơ Linh Cương cho tôi thấy rõ thi nhân yêu Chúa nhiệt tình và sống đúng lời Kinh Thánh dạy.”

Đặc điểm thứ hai trong thơ Linh Cương là tình cảm sâu đậm dành cho Chúa, cho quê hương, cho gia đình và cho tha nhân.  Những tình cảm đó có lúc thể hiện thật nồng nàn, có lúc thật sâu lắng, và đôi khi rất con người.  Linh Cương cảm nhận bản chất con người trong tình cảm của mình, đã thưa với Chúa như sau:

Tạ ơn Chúa vô vàn yêu kính
Đã cho con bản chất con người.
Biết buồn đau, biết vui tươi
Biết thương nhớ, biết khóc cười vì đâu
Chúa thông cảm nỗi sầu thế sự
Giọt lệ kia cất giữ trong ve
Thở than ước vọng Ngài nghe
Tâm tư cay đắng nặng nề Chúa nâng
Xin giao trọn hồn thân Tay Thánh
Giữa bao nhiêu nghịch cảnh đọa đày
Ái tình Chúa vẫn còn đây
Đức tin giương cánh vút bay tận trời
Quay tìm đó, nghỉ ngơi an ủi
Cho quên đi bao nỗi lụy phiền
Ngực Ngài xin được dựa nghiêng
Lắng nghe giai điệu dịu hiền yêu thương.
(Đêm Xuân Thức Trắng Canh Dài)

Trong tập thơ Bóng Tối và Niềm Tin, Linh Cương nói rằng dầu bản chất con người khiến ông chưa quên được những sầu đau của ly tán, nhưng đức tin nơi Chúa đã giúp ông hy vọng.

Dẫu muốn quên đi niềm ly tán
Mà lòng còn nặng vết thương sâu.
Bạn ơi!  Chờ nhé ngày thiên quốc
Nắng mới bừng lên rực rỡ mầu.
(Mái Sầu)

Như Tiên tri Giê-rê-mi trong Kinh Thánh, trước cảnh nước mất nhà tan, Linh Cương đồng cảm với những khổ đau của đồng hương và xót thương cho dân tộc mình.

Buồn lại theo chân bóng nguyệt tà
Gợi lòng sầu xứ khúc ly ca
Niềm đau quê cũ còn loang lở
Cảnh khổ người thân chẳng nhạt nhòa.
(Nguyện)

Tuy nhiên, đức tin nơi Chúa đã giúp cho thi sĩ vượt khỏi bóng đêm trần tục, để nương mình nơi Chúa, tìm sự bình an trong Ngài, và trông chờ một tương lai xán lạn. Và rồi, thay vì để lòng cay đắng với hận thù, tác giả để lòng mình thấm nhuần tình yêu của Chúa.

Hát rằng: dù khổ trần ai
Bóng đêm dằng dặc, tương lai mịt mù
Dù đời chưa dứt oán thù
Trong Ngài xin được ẩn cư hồn mình
Để còn đón đợi bình minh
Giọt sương ân điển thắm tình Chúa yêu.
(Hát Giữa Đêm)

Một trong những nỗi đau ray rứt của Linh Cương là ông phải sống tha phương nhưng cha mẹ ông vẫn còn tại Việt Nam.  Trong cái tết tha hương đầu tiên vào năm 1976, Linh Cương viết:

Chẳng Tết tha hương, mãi nhớ nhà
Chân trời tang hải bóng mây qua
Lòng con xa xót về quê mẹ
Vạn dặm trùng dương ôi cách xa!
(Xuân Chẳng Ở Đây)

Như Nê-hê-mi trong Kinh Thánh, khi nhận tin từ một người em viết về tình hình tại quê nhà, Linh Cương đã khóc:

Thư em đến, vẽ một trời đau khổ
Lệ khôn cầm, anh đã khóc em ơi!
(Thư Hồi Âm) 

Trước viễn ảnh gia đình đoàn tụ không thể xảy ra, Linh Cương nhắn gởi cha mẹ như sau:

Lạy mẹ cha yêu, hãy gượng vui
Đêm đêm cầu nguyện Chúa trên trời
Ngày kia tái ngộ miền vui thỏa
Sẽ được Ngài lau hết lệ đời.
(Xuân Chẳng Ở Đây)

Mặc dầu những vần thơ Linh Cương viết lên từ kinh nghiệm riêng của ông, nhiều người đọc đã cảm nhận đó cũng là tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, nhận thức của chính mình; tuy nhiên họ không thể viết thành những lời thơ kiều diễm, bình dị và đầy xúc cảm như vậy.

Có một đặc điểm của Linh Cương mà nhiều người Việt lúc đó không có là đức tin vững vàng nơi Chúa của ông.  Đức tin đó đã đem đến cho Linh Cương năng lực giúp ông vượt qua những nghịch cảnh.  Và đây có lẽ chính là lý do khiến Hội Bạn Những Người Tỵ Nạn đã xin phép Linh Cương cho phát hành tập thơ của ông để giúp đỡ những người Việt tỵ nạn phải đối diện với những khó khăn tinh thần, vật chất lẫn tâm linh trong hoàn cảnh đó.

Một đặc điểm khác trong thơ Linh Cương là nghệ thuật trình bày tư tưởng thật tinh tế nhưng  cũng thật giản dị. Thi sĩ không dùng những điển tích khó hiểu nhưng dùng những hình ảnh thật quen thuộc để trình bày ý tưởng và giúp độc giả dễ dàng cảm nhận nội dung.  Vài ví dụ về cách thể hiện ý tưởng trong thơ Linh Cương như sau:

Theo truyền thuyết, người Việt là dòng dõi Con Hồng Cháu Lạc; Linh Cương đã dùng hình ảnh bầy chim tan lạc để mô tả hoàn cảnh của những người Việt ly hương, đang sống rải rác tại các trại tỵ nạn vào lúc đó và cầu xin Chúa cứu giúp.

Bão đời tản lạc cánh chim
Gió nghìn phương vẫn chưa im giữa chiều
Hồn đau gởi trọn Chúa yêu
Đường trần tâm nguyện Ngài dìu bước chân.
(Lời Người Ở Lại)

Trong một bài thơ khác, Linh Cương so sánh hoàn cảnh của những người Việt ly hương với tâm trạng của người Do Thái bị lưu đày trong Thi Thiên 137.

Như Do Thái bên sông hờn cố quốc
Đờn cầm treo dương liễu đến bao giờ
Sao bảo hát bài ca trong tiếng khóc?
Sao bảo cười trong nhạc lá đong đưa?
(Cảm Thông)

Về nhân sinh quan, Linh Cương nhận định rằng khổ đau là một phần của cuộc sống, không sao tránh khỏi. Dựa trên lời dạy của Kinh Thánh trong Sáng Thế Ký, ngay từ lúc sáng tạo vũ trụ, Đức Chúa Trời đã tạo dựng chiều tối và ban mai. Linh Cương nhận biết Đức Chúa Trời đã sắp đặt việc sáng tạo có chủ đích: bóng tối đến trước và ban mai đến sau.  Linh Cương tin rằng bóng đêm sẽ qua và bình minh sẽ đến; khổ đau sẽ trôi qua, phước hạnh và niềm vui sẽ đến.  Các câu Kinh Thánh 5, 8, 13, 19, 23 và 31 trong Sáng Thế Ký chương 1 là nền tảng cho chủ đề tập thơ Bóng Tối và Niềm Tin của Linh Cương.

Tang thương là luật từ thiên cổ
Ngăn chặn làm sao được bóng đêm
Qua bao mất mát cùng tan vỡ
Quyết giữ lòng yêu Chúa trọn miền.

Ân tình Đấng Christ rộng mênh mông
Trời đất dầu qua chẳng chuyển giòng
Chúa yêu Chúa cứu hồn đau khổ
Bóng tối rồi tan sẽ nắng hồng.

Chúa thuộc về tôi, tôi thuộc Ngài
Lòng không lo sợ buổi tương lai
Buồn theo gió thoảng, niềm vui đến
Bên Chúa cùng đi suốt dặm dài.
(Nhớ Ngày Ra Đi)

Chủ đề của tập thơ thứ hai Niềm Tin Hy Vọng dựa trên câu Kinh Thánh Hê-bơ-rơ 11:1 “Đức tin là sự xác quyết cho điều mình đang hy vọng, là bằng chứng của những điều mình chẳng xem thấy.”

Nhà văn và sử gia Nam Xuyên Phạm Quảng Nam đã nhận định về nghệ thuật làm thơ của Linh Cương như sau:

“Tôi nhớ câu nói của Vincent d’Indy (1851-1931),  một giáo sư âm nhạc trứ danh người Pháp: “Le gout apprécie, le talent imite, le genie invente,” tạm dịch: “Ý thức giúp cho biết thưởng thức, tài hoa giúp cho biết mô phỏng, thiên tài giúp cho biết sáng tạo.”  Đây là những ý kiến về nghệ thuật âm nhạc nhưng có thể áp dụng cho thi văn.  Ít nhiều thi sĩ Linh Cương có đủ ba thiên tứ ấy.  Minh chứng cho nhận định này là các bài thơ trong Bóng Tối và Niềm Tin.”

Một đặc điểm khác trong thơ Linh Cương mà người đọc dễ dàng nhận thấy là cách dùng chữ của ông thật chuẩn xác. Linh Cương là người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bên cạnh những kiến thức về văn học cổ điển, Linh Cương cũng là người có kiến thức về Kinh Thánh và thần học vững vàng.  Với kiến văn như vậy, Linh Cương có thể chọn từ ngữ thật chính xác và dùng những thể thơ thích hợp cho những bài thơ của ông.  Những bài thơ của Linh Cương, do đó, vừa đơn giản, vừa tự nhiên, nhưng đầy hình ảnh, giàu nhạc điệu và chứa đựng tình cảm thật dạt dào.  Nghệ thuật tu từ đặc sắc trong thơ Linh Cương đã giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được nội dung và rung cảm với tâm tình của tác giả.

Một số người cho rằng thơ Linh Cương giàu tình cảm, nhưng quá buồn.  Nhận xét này đúng nhưng không hoàn toàn chính xác.   Lý do: Bóng Tối và Niềm Tin là tập thơ đầu tiên của Linh Cương phát hành rộng rãi cho độc giả phổ thông bên ngoài Hội Thánh – và như đã nhắc đến trong phần sáng tác – tập thơ này bao gồm những bài thơ Linh Cương viết trong giai đoạn chia ly – và nội dung những bài thơ diễn tả nỗi đau của tác giả trong  giai đoạn đó (1975-1980).

Thơ Linh Cương trong giai đoạn này, dầu có những nét độc đáo và đã để lại ảnh hưởng sâu đậm trên một số bài thơ của ông trong những năm về sau, nhưng chỉ trình bày một phần nhỏ trong khoảng đời hơn 60 năm cầm bút của Linh Cương. Những bài thơ Linh Cương sáng tác trước năm 1975 không chứa đựng những u uất, sầu đau như vậy.

Trong bài Tiến Hành Ca, tặng các sinh viên tốt nghiệp Trường Kinh Thánh Đà Nẵng lên đường đi hầu việc Chúa, Linh Cương viết như sau:

Tiến! Tiến mãi!  Kèn vang cùng xứ xứ.
Một bình minh đẹp đẽ, lên đường thôi!
Một bình minh rạng rỡ bốn phương trời
Chào chúc bạn trả xong lời nguyện ước.

Đi! Đi nhanh! Bạn đem nguồn an phước.
Hát Tin Lành vuốt dịu những hồn đau.
Gió hiu hiu, thoang thoảng nắng lên màu
Tung nhã nhạc rền vang bầu sóng mới.
(Tiến Hành Ca – Thánh Kinh Báo – Tháng 6, 1951)

Rõ ràng, thơ Linh Cương không chỉ là thơ sầu đau, u uất; nhưng ngược lại là những vần thơ giàu nhạc điệu, đầy nhuệ khí sôi sục.

Lửa Thần rần rật cháy bùng lên
Mầu nhiệm linh quang ánh dịu hiền.
Ồ! Lửa ái ưu lòe ý sống
Lửa là nguồn sức mạnh vô biên.

Lửa sống ngàn năm, đạo sáng ngời
Tội trần đốt sạch, luyện hồn tôi,
Lửa gieo hăng hái, sôi lòng lạnh
Giục bước chân đi cứu vớt người.
(Lửa Thần – Thánh Kinh Báo – Tháng 5, 1951)

Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu đã chia sẻ kinh nghiệm cảm nhận thơ Linh Cương như sau:

“Lần đầu tiên được thưởng thức thơ Linh Cương, tôi đang bận rộn chuẩn bị các sinh hoạt mùa Giáng Sinh tại đất Thần Kinh.  Dầu tôi đang làm việc “đầu tắt mặt tối”, thơ Linh Cương đến với tôi như một ánh bình minh tươi đẹp ấm áp lạ thường.  Tôi say mê đọc suốt bài thơ Giáng Sinh, bắt đầu với những câu:
Đây, Nô-ên lại về
Với mưa bay và gió lạnh
Thấm vũ trụ
Trời lê thê
Ủ rũ tháng ngày đi …
Một nghìn chín trăm năm chục năm
Đã nói gì cho người muôn thuở?

Quả là những lời thơ diễn tả đúng cảnh vật và lòng người tại cố đô trong mùa Giáng Sinh ấy.  Thế là tôi đã tìm được một bài thơ thích hợp nhất để trình bày Phúc Âm cho đồng bào trong đêm Giáng Sinh 1951.  Bài thơ được hoan nghênh nồng nhiệt.  Một nhà trí thức ngoại giáo đã tìm tôi xin một bản sao …”

Tóm Tắt

Đã hơn 60 năm từ khi những vần thơ của Linh Cương được đăng lần đầu trên Thánh Kinh Báo. Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu, sử gia của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã ghi nhận đóng góp của Linh Cương như sau: “Qua những vần thơ của mình, Linh Cương đã nói lên những băn khoăn, xao xuyến, xót xa cũng như niềm hân hoan phấn khởi diệu kỳ của những người đã tìm được giải đáp thỏa đáng nhất cho những câu đố của cuộc đời trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.  Nhà thơ đã chân thành bộc bạch tiếng nói con tim của một thế hệ thanh niên Tin Lành trong thời ly loạn, trên các chiến trường thuộc linh, giữa những cơn giông bão đang dồn dập trút lên đất nước đau thương.”

Linh Cương đã về với Chúa được một năm. Ông đã làm trọn trách nhiệm mà Chúa đã giao cho ông.  Dầu không phải là một mục sư nhưng những sứ điệp chuyển tải qua những vần thơ của Linh Cương đã giúp cho nhiều người biết Chúa và tin nhận Chúa.

Những cống hiến của Linh Cương, nói riêng, và của thi ca Tin Lành Việt Nam, nói chung, vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ.  Hy vọng bài viết này không chỉ giúp bạn trau dồi kiến thức, hay được gây dựng niềm tin, nhưng như Linh Cương, bạn nghe tiếng Chúa phán với chính mình, và Ngài sẽ hướng dẫn bạn biết làm gì để loan truyền đức tin nơi Chúa cho thế hệ của bạn.

Phước Nguyên

Thư Viện Tin Lành
Tháng 11/2013

Tham Khảo:

  • Linh Cương, Bóng Tối và Niềm Tin (1980)
  • Linh Cương, Niềm Tin Hy Vọng (1991)
  • Thánh Kinh Báo (1950-1975)
  • Linh Lực (1993-2013)
  • Hướng Đi, số Xuân 2013

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top