Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Kinh Thánh: Câu Chuyện Của Gióp

Kinh Thánh: Câu Chuyện Của Gióp

Câu Chuyện Của Gióp
Gióp: Chương 1-3, 38-42

1. Tại vùng đất Út-xơ, có một người tên Gióp, là một người trọn lành, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, xa lánh điều ác. 2. Ông có bảy con trai và ba con gái. 3. Tài sản của ông gồm bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò kéo cày, năm trăm lừa cái, và rất nhiều đầy tớ – vì vậy, người này trở nên rất cao trọng trong tất cả những người cao trọng nhất tại Đông Phương.

4. Các con trai của ông, theo phiên của từng người đã đãi tiệc tại nhà của mình, và họ cũng sai mời ba chị em gái cùng ăn uống với họ. 5. Khi những ngày yến tiệc đã qua rồi, Gióp gọi họ về để thanh tẩy. Gióp thức dậy vào sáng sớm, rồi dâng tế lễ thiêu cho mỗi người con, vì ông nói rằng: “Biết đâu các con của mình đã phạm tội và trong lòng phỉ báng Đức Chúa Trời.” Gióp thường làm như vậy.

6. Và rồi có một ngày khi các con trai của Đức Chúa Trời đã đến để họ trình diện chính mình trước mặt Đức Giê-hô-va, Sa-tan cũng đến trong số đó. 7. Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến?”

Sa-tan trả lời Đức Giê-hô-va: “Tôi chu du khắp trái đất, lên xuống tại nơi đó.”

8. Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, tôi tớ của Ta hay không? Trên đất không có một ai như người. Đó là một con người trọn lành, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và xa lánh điều gian ác.”

9. Sa-tan trả lời Đức Giê-hô-va: “Gióp kính sợ Đức Chúa Trời có phải là vô cớ đâu? 10. Không phải chính Ngài đã dựng hàng rào bảo vệ chung quanh hắn, chung quanh gia đình của hắn, chung quanh mọi phía của tất cả những vật hắn sở hữu hay sao? Ngài đã ban phước trên công việc của tay hắn và làm cho những tài sản của hắn gia tăng trong xứ. 11. Nhưng bây giờ nếu Ngài giang tay ra, đụng chạm vào tất cả những điều đó, thì hắn không phỉ báng Ngài ra mặt hay sao?”

12. Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-tan: “Được rồi! Mọi vật thuộc về người nằm trong quyền hạn của ngươi, tuy nhiên tay của ngươi không được mạnh bạo với chính bản thân của người.”

Sau đó, Sa-tan đã rời khỏi nơi hiện diện của Đức Giê-hô-va.

13. Một hôm, khi các con trai và các con gái của ông đang ăn tiệc và uống rượu trong nhà của người anh cả, 14. có một sứ giả đã đến với Gióp và nói: “Khi bò đang cày, lừa đang ăn cỏ bên cạnh … 15. dân Sê-ba đã xông vào và cướp đi hết. Chúng đã giết các tôi tớ bằng gươm, chỉ có một mình tôi thoát được để thuật lại cho ông.”

16. Tuy nhiên trong khi người còn đang nói thì có một người khác đến, rồi nói: “Lửa của Đức Chúa Trời đã từ trời giáng xuống thiêu rụi cả bầy chiên và các tôi tớ, chỉ có một mình tôi trong số họ thoát được để thuật lại cho ông.”

17. Nhưng trong khi người đó đang nói thì có một người khác đến, và nói: “Dân Canh-đê đã chia làm ba nhóm xông vào các lạc đà và cướp đi tất cả, giết sạch những tôi tớ bằng gươm, chỉ có một mình tôi thoát được để thuật lại cho ông.”

18. Một lần nữa, trong khi người đó đang nói thì có một người khác đến, và nói: “Các con trai và các con gái của ông đang ăn và uống rượu tại nhà của người anh cả, 19. thình lình có một cơn gió lớn từ bên kia hoang mạc thổi vào bốn góc nhà, nó đổ sập xuống trên những người trẻ tuổi và họ đã chết, chỉ có một mình tôi thoát được để thuật lại cho ông.”

20. Gióp liền trỗi dậy, xé áo của mình, cạo đầu của mình, rồi nằm sấp xuống đất, thờ lạy; 21. và nói: “Tôi đã trần truồng lọt khỏi lòng mẹ của tôi, và tôi sẽ trần truồng để trở về. Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi. Chúc tụng danh của Đức Giê-hô-va!”

22. Trong mọi việc này, Gióp không phạm tội và không hề cáo buộc là Đức Chúa Trời sai lầm.

1. Một ngày kia, các con trai của Đức Chúa Trời đã đến để họ trình diện chính mình trước mặt Đức Giê-hô-va, và Sa-tan cũng đến ở giữa họ để chính hắn trình diện trước mặt Đức Giê-hô-va.

2. Đức Giê-hô-va hỏi Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến đây?” Sa-tan trả lời Đức Giê-hô-va rằng: “Tôi chu du khắp trái đất, lên xuống tại nơi đó.”

3. Đức Giê-hô-va nói với Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, tôi tớ của Ta? Trên trái đất không có ai giống như người. Đó là một con người trọn lành, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và xa lánh điều ác. Người vẫn giữ vững sự liêm chính dù ngươi đã giục ta làm hại người vô cớ.”

4. Sa-tan trả lời Đức Giê-hô-va rằng: “Lấy da đền da! Người ta sẵn sàng cho đi tất cả những gì mình có để cứu mạng sống của mình. 5. Nhưng nếu bây giờ, Ngài giang tay ra đụng đến xương thịt của hắn, xem hắn có nguyền rủa Ngài ra mặt hay không?”

6. Đức Giê-hô-va nói với Sa-tan: “Kìa, người ở trong tay ngươi – Nhưng hãy gìn giữ mạng sống của người.”

7. Vì vậy Sa-tan đã rời khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va, rồi hành hạ Gióp bằng những ung nhọt làm đau nhức từ bàn chân cho đến đỉnh đầu. 8. Ông phải ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi.

9. Vợ của ông đã nói với ông: “Ông vẫn giữ vững sự liêm chính của mình hay sao? Hãy nguyền rủa Ðức Chúa Trời, và chết cho rồi!”

10. Tuy nhiên ông đã nói với bà: “Bà nói như một người đàn bà ngu dại nói. Ơn phước Đức Chúa Trời đã ban, chúng ta nhận; còn tai họa, lẽ nào chúng ta không nhận?” Trong mọi việc đó, Gióp không hề phạm tội trong lời nói của mình.

11. Khi ba người bạn của Gióp – là Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, và Sô-pha người Na-a-ma – nghe tin về tất cả những tai họa đã xảy đến với ông, mỗi người từ chỗ của mình đã hẹn nhau cùng đến chia buồn với ông và an ủi ông. 12. Từ xa, họ ngước mắt nhìn nhưng họ không thể nhận ra ông. Họ cất tiếng khóc, mỗi người xé áo choàng của mình, hất bụi đất lên trời để rải trên đầu của mình. 13. Họ đã ngồi xuống đất với ông bảy ngày và bảy đêm, không ai nói với ông một lời, bởi vì họ thấy nỗi đau đớn của ông quá lớn.

1. Sau việc nầy, Gióp đã mở miệng nguyền rủa ngày sinh của mình. 2. Gióp nói rằng:

3. Nguyện ngày mà tôi đã được sinh ra, và đêm đã loan báo “Một bé trai được thụ thai”, bị hư mất đi. 4. Nguyện ngày đó trở thành tối tăm, nguyện Ðức Chúa Trời trên cao không đoái đến nó, nguyện ánh sáng cũng không tỏa rạng trên nó. 5. Nguyện nó thuộc về sự tối tăm, nguyện bóng mây của sự chết che phủ nó, nguyện sự đen tối giữa ban ngày làm nó kinh khiếp. 6. Nguyện sự tối tăm mịt mùng vây chặt đêm đó, nguyện nó không được kể vào những ngày trong năm, nguyện nó không được tính trong số các tháng.

7. Ôi! Ước gì đêm đó bị son sẻ, và không hề có tiếng reo vui về nó. 8. Nguyện những người chuyên nguyền rủa, nguyền rủa ngày đó – tức là những người sẵn sàng chọc tức cả Lê-vi-a-than. 9. Nguyện các vì sao, chiếu lúc bình minh, vẫn còn tối mãi, nguyện cho nó mong chờ ánh sáng nhưng không thấy ánh bình minh. 10. Bởi vì nó đã không đóng các cửa tử cung, cũng không che giấu sự đau đớn khỏi mắt tôi.

11. Tại sao tôi không chết khi vừa ra khỏi dạ, không tắt hơi khi mới lọt lòng? 12. Thì đâu cần những đầu gối để nâng đỡ tôi, và ngực để cho tôi bú? 13. Nếu không, giờ đây tôi đã nằm an tịnh, đã được yên giấc, và được nghỉ ngơi, 14. cùng với các vua và những người mưu lược ở trên đất, là những người đã xây dựng đền đài cho mình mà nay đã bị đổ nát; 15. hay là với những người quyền quý có nhiều vàng, là những người mà nhà của họ đầy bạc.

16. Hoặc tại sao tôi không được chôn như một đứa bé bị sảo thai, hay như một trẻ sơ sinh chưa hề thấy ánh sáng? 17. Bởi vì tại nơi đó kẻ ác không còn quấy phá, tại nơi đó người kiệt sức được nghỉ ngơi, 18. các tù nhân cùng nhau an nghỉ, không còn nghe tiếng của những kẻ áp bức. 19. Người sang và kẻ hèn đều ở đó, và kẻ nô lệ được tự do khỏi chủ của mình.

20. Tại sao lại đem sự sáng cho kẻ bị khổ đau, và ban sự sống cho người có lòng cay đắng? 21. – là những người mong chờ sự chết mà nó không đến, họ tìm kiếm nó còn hơn là tìm châu báu. 22. Họ vui mừng, hớn hở, và sung sướng khi tìm được mộ phần.

23. Là một người mà hướng đi bị che khuất, là người bị Đức Chúa Trời dựng rào cản, 24. cho nên thức ăn của tôi là tiếng thở dài, và lời thở than của tôi tuôn trào như nước. 25. Bởi vì những gì tôi lo sợ đã xảy ra cho tôi, và những gì tôi kinh hãi đã xảy đến cho tôi. 26. Tôi không được an ổn, không được bình tịnh, không được an nghỉ, bởi vì sự rối ren phiền muộn kéo đến.

….

1. Sau đó, từ giữa trận cuồng phong, Đức Chúa Trời phán cùng Gióp, Ngài nói:

2. Kẻ nầy là ai mà dám dùng những lời thiếu hiểu biết làm lu mờ ý định của Ta? 3. Bây giờ, hãy thắt đai của ngươi giống như một dũng sĩ, rồi Ta sẽ hỏi ngươi, và ngươi sẽ trả lời cho Ta. 4. Khi Ta đặt những nền móng của trái đất thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi hiểu, hãy trả lời cho Ta. 5. Chắc ngươi biết ai đã ấn định kích thước của trái đất, và ai là người căng dây đo trên nó? 6. Những nền móng của nó đã được gắn chặt vào cái gì, hay là ai đã đặt viên đá góc của nó? 7. Khi nào các sao mai cùng nhau ca hát, và các con trai của Đức Chúa Trời cất tiếng hoan ca?

8. Ai đã dùng các cửa để ngăn biển khi nước tuôn trào từ vực sâu? 9. Khi nào Ta đã dùng những đám mây làm trang phục cho nó, và lấy sự tối tăm mịt mùng làm khăn quàng cho nó? 10. Ta đã định ranh giới cho nó, đặt những cánh cửa và then cài vào lúc nào? 11. Ta đã phán: “Ngươi chỉ có thể đến đây, không được đi xa hơn nữa!” Những lượn sóng ngạo nghễ đã phải dừng lại tại đây từ lúc nào?

12. Trong cuộc đời của ngươi, có khi nào ngươi ra lệnh cho buổi sáng, hay là chỉ định vị trí cho hừng đông, 13. để nó nắm chặt những nơi tận cùng của trái đất, rồi giũ những kẻ ác ra khỏi đó hay không? 14. Nó bị biến dạng như đất sét dưới cái ấn, rồi chúng lộ ra bên ngoài như y phục. 15. Ánh sáng đã bị tước mất khỏi những kẻ ác, và cánh tay giơ cao đã bị bẻ gãy.

16. Có bao giờ ngươi đến tận nguồn của biển, hay đã tìm tòi rồi bước đi trên những vực sâu? 17. Ngươi có bao giờ thấy các cổng của sự chết, hay nhìn thấy những cánh cửa với bóng dáng của tử thần hay không? 18. Thậm chí, ngươi có biết trái đất rộng bao nhiêu hay không? Nếu ngươi biết tất cả những điều đó, hãy nói đi.

19. Con đường nào dẫn đến nơi ánh sáng cư trú? Chỗ của tối tăm cư ngụ là tại nơi nào? 20. Để ngươi có thể dẫn nó về ranh giới của nó, bởi vì ngươi biết đường về nhà của nó. 21. Ngươi biết tất cả phải không? – Bởi vì ngươi đã được sinh ra vào lúc đó, và năm tháng của đời ngươi thật quá nhiều! 22. Ngươi đã vào chỗ chứa tuyết, hay đã thấy chỗ chứa mưa đá, 23. mà Ta đã để dành cho thời hoạn nạn, cho lúc chiến tranh và giặc giã hay không? 24. Ánh sáng bị phân tán, gió đông tản mác khắp trên đất bằng cách nào?

25. Ai đã vạch luồng cho nước chảy, và rẻ lối cho sấm chớp? 26. Đem mưa đến vùng đất không có người, tại nơi hoang vu không có người. 27. Để nhuần tưới vùng đất hoang vắng và điêu tàn, khiến chồi đâm ra, và mầm non mọc lên. 28. Mưa có cha không? Ai sinh ra những giọt sương? 29. Băng đã xuất phát từ dạ của ai? Ai sinh ra sương tuyết trên trời? 30. Nước bị cứng như đá, mặt vực sâu bị giữ chặt lại.

31. Ngươi có thể buộc chòm sao Thất Tinh lại, hay mở xiềng cho sao Thiên Lang hay không? 32. Ngươi có thể dẫn các sao Hoàng Đạo ra đúng mùa, và dắt sao Đại Hùng cùng với các con của nó hay không? 33. Ngươi có biết những quy luật của các tinh tú trên trời, hay ngươi có thể sắp đặt ảnh hưởng của chúng trên trái đất hay không?

34. Ngươi có thể cất tiếng gọi mây để chúng đổ nước xuống, phủ trùm ngươi chăng? 35. Ngươi có thể truyền lệnh cho sấm chớp ra đi, và chúng nói với ngươi rằng: Chúng tôi sẵn sàng. 36. Ai đã đặt sự khôn ngoan vào tấm lòng? Ai đã ban sự hiểu biết cho tâm trí? 37. Ai có đủ khôn ngoan để đếm những đám mây? Ai có thể rót những bình ở trên trời. 38. Bụi đất dồn lại thành những đống cứng ngắc, và đất cục kết dính với nhau vào lúc nào?

39. Ngươi có săn mồi cho sư tử, và làm thỏa mãn khẩu vị của sư tử con hay không? 40. Lúc nào chúng ẩn trong hang, hay khi nào thì chúng rình rập trong bụi rậm? 41. Ai đã cung cấp thức ăn cho quạ vào lúc chúng lang thang không có thức ăn, và đàn quạ con kêu cầu cùng Ðức Chúa Trời.

1. Ngươi có biết khi nào các dê rừng sinh đẻ, và quan sát lúc nào nai đẻ con? 2. Ngươi có thể tính số tháng của chúng mang thai, và biết thời kỳ chúng sinh nở hay không? 3. Chúng khom xuống, sinh con, rồi trút bỏ sự đau đớn. 4. Các con của chúng lớn lên ngoài đồng, khỏe mạnh, rồi chúng ra đi và không trở về nữa.

5. Ai ban cho lừa rừng sự tự do? Ai mở dây cho lừa hoang? 6. Ta đã ban cho nó đồng hoang làm nhà, và vùng đất cằn cỗi làm chỗ ở. 7. Nó chê sự nhộn nhịp của đô thị, và không muốn nghe tiếng quát tháo của người đánh xe. 8. Nó dong ruổi trong những đồng cỏ trên những ngọn núi để tìm mọi thứ xanh tươi. 9. Bò rừng có chịu phục vụ ngươi, hay là ở qua đêm bên máng cỏ của ngươi hay không? 10. Ngươi có thể lấy dây cột bò rừng vào cày, hay là nó sẽ kéo cày theo sau ngươi trong thung lũng hay không? 11. Ngươi có tin cậy nó, bởi vì sức lực lớn lao của nó, mà giao công việc lao nhọc của ngươi cho nó hay không? 12. Ngươi có tin cậy nó mang lúa về nhà, đạp lúa trên sân, và rồi thu hoạch hay không?

13. Đà điểu vỗ cánh oai hùng, nhưng không có tình thương như chim hạc. 14. Bởi vì nó đã bỏ những trứng của nó lại trên đất, để cho cát sưởi ấm chúng, 15. nó quên rằng một bàn chân có thể giẫm nát chúng, thú hoang có thể làm vỡ chúng. 16. Nói đối xử thật tàn nhẫn với các con của nó, dường như chúng không phải con của nó, và bất cần công sức của nó là vô ích. 17. Bởi vì Ðức Chúa Trời không ban sự khôn ngoan cho nó; Ngài cũng không phú sự thông sáng cho nó. 18. Tuy nhiên khi nó vươn cao phóng chạy, nó chế nhạo cả ngựa lẫn người cỡi ngựa.

19. Có phải ngươi ban sức mạnh cho ngựa, và khoác bờm lên cổ của nó hay không? 20. Ngươi có thể khiến nó nhảy như cào cào, cất tiếng hí oai phong hùng dũng hay không? 21. Nó nhịp chân trong thung lũng, hưng phấn vì sức lực của mình, nó xông vào đối diện với binh đao. 22. Nó xem thường sự sợ hãi, không hề khiếp đảm, không bỏ chạy trước lưỡi gươm. 23. Bên hông của nó, có bao đựng tên khua lách cách, giáo và gươm sáng lấp lánh. 24. Nó hăng say phóng trên đất, không dừng lại khi có tiếng kèn. 25. Khi nghe tiếng kèn, nó nói: A ha! Nó đánh mùi chiến trận từ xa, nghe tiếng hò hét gào thét của những bậc chỉ huy.

26. Có phải nhờ sự khôn ngoan của ngươi mà chim ưng bay bổng, rồi sải cánh về phương nam? 27. Có phải vì mạng lệnh của ngươi mà phượng hoàng bay lên, rồi làm tổ trên cao? 28. Nó ở trên những vách đá, lập chỗ ở và làm tổ trong các ghềnh đá. 29. Từ đó nó theo dõi con mồi, mắt của nó quan sát từ xa. 30. Các chim con của nó hút máu. Ở đâu có xác chết là ở đó có nó.

1. Đức Giê-hô-va tiếp tục phán cùng Gióp: 2. “Kẻ chất vấn đòi chỉnh sửa Đấng Toàn Năng, kẻ tranh tụng với Đức Chúa Trời, hãy trả lời đi!”

3. Gióp thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: 4. “Xin hãy xem! Con thật thấp hèn. Con lấy tay bịt miệng của con lại bởi vì con biết nói gì để trả lời cho Ngài. 5. Có lần con đã nói nhưng con không nhắc lại lần thứ hai. Con sẽ không nói thêm lời nào nữa.”

6. Sau đó, từ trong trận cuồng phong Đức Giê-hô-va phán cùng Gióp rằng:

7. Bây giờ, hãy thắt đai của ngươi giống như một dũng sĩ, rồi Ta sẽ hỏi ngươi, và ngươi sẽ trả lời cho Ta. 8. Thật vậy, không phải ngươi muốn phá bỏ sự phán xét của Ta hay sao? Không phải ngươi đã lên án Ta để chứng tỏ rằng ngươi là đúng hay sao? 9. Không phải ngươi có cánh tay quyền năng như Ðức Chúa Trời, hay là có giọng nói vang rền như sấm động của Ngài hay sao?

10. Hãy trang phục cho ngươi bằng sự oai nghi và huy hoàng, hãy mặc cho ngươi sự vinh quang và đẹp đẽ. 11. Hãy trút đổ cơn giận của ngươi. Hãy tìm mọi kẻ kiêu ngạo, rồi làm cho hắn khiêm nhường. 12. Hãy tìm mọi kẻ kiêu ngạo, rồi làm cho hắn khiêm hạ. Hãy giày đạp kẻ gian ác ngay tại chỗ của hắn. 13. Hãy chôn vùi chúng với nhau trong bụi đất. Hãy gông cùm mặt của chúng trong nơi tối tăm. 14. Sau đó, Ta sẽ nhìn nhận với ngươi rằng chính tay phải của ngươi có thể giải cứu ngươi.

15. Bây giờ, hãy xem con khủng long Bê-hê-mốt mà Ta dựng nên nó cùng với ngươi – Nó ăn cỏ như bò. 16. Bây giờ, hãy xem sức lực nơi lưng của nó, và sức mạnh trong các bắp thịt nơi bụng của nó. 17. Đuôi của nó chuyển động giống như một cây bá hương, gân đùi của nó đan quyện với nhau thật chằng chịt. 18. Các xương nó như những ống đồng, những xương sườn nó giống như những thanh sắt.

19. Nó là tạo vật hàng đầu của Đức Chúa Trời. Chỉ có Ðấng dựng nên nó mới có thể dùng gươm đến gần nó. 20. Thật vậy núi đồi cung cấp thức ăn cho nó, cùng với tất cả các loài thú ngoài đồng đang nô đùa tại đó. 21. Nó nằm bên dưới các bụi sen, và ẩn mình trong đám sậy ở đầm lầy. 22. Những bụi sen phủ bóng cho nó, và các cành liễu bên bờ suối bao bọc nó. 23. Thật vậy, nước sông chảy cuồn cuộn, không làm nó sợ hãi; dù nước sông Giô-đanh tràn đến miệng nó, nó vẫn thản nhiên. 24. Có ai có thể dùng bẫy xỏ mũi hay mắt của nó, rồi dẫn đi hay không?

1. Ngươi có thể bắt thủy quái Lê-vi-a-than bằng lưỡi câu, hay dùng dây để hạ lưỡi của nó xuống hay không? 2. Ngươi có thể xỏ dây qua lỗ mũi của nó, hay móc thủng hàm của nó hay không? 3. Liệu nó có cầu xin ngươi, hay hạ giọng năn nỉ ngươi hay không? 4. Nó có lập giao ước với ngươi, và để cho ngươi bắt nó phục vụ mãi mãi hay sao? 5. Ngươi có thể chơi đùa với nó như với chim, hay có thể cột nó vào dây để cho các con gái nhỏ của ngươi hay sao? 6. Bạn bè có thể dùng nó để đãi tiệc, hay là nó được chia phần giữa những người mua bán hay sao? 7. Ngươi có thể dùng chỉa đâm vào da của nó, hay dùng lao đánh cá đâm vào đầu của nó hay không? 8. Nếu ngươi tra tay trên nó, ngươi sẽ nhớ mãi cuộc giao tranh, và sẽ không bao giờ dám làm như vậy nữa. 9. Thật vậy, hy vọng có được nó chỉ là hão huyền, bởi vì chỉ nhìn thấy nó là đã kinh hoàng. 10. Không có ai đủ gan dạ để trêu chọc nó – Như vậy, thì ai là người có thể đứng lên để chống lại Ta? 11. Có ai trước đó đã cho Ta điều gì mà Ta phải trả lại? Mọi vật ở dưới trời đều thuộc về Ta.

12. Không phải Ta đã tạo ra các chi thể của nó, sức lực của nó, hay tỷ lệ cân đối và đẹp đẽ của nó hay sao? 13. Có ai dám lột lớp khoác bên ngoài của nó, hay là có ai đến gần để gắn cương vào giữa hai hàm của nó hay không? 14. Hàm răng của nó thật là kinh khiếp, có ai dám mở cửa hàm trên mặt của nó hay không? 15. Lớp vảy là niềm kiêu hãnh của nó, chúng gắn chặt vào nhau như được niêm phong. 16. Cái nầy sát với cái khác đến nỗi không khí cũng không lọt qua được. 17. Cái nầy nối với cái kia, chúng gắn chặt vào nhau, không tách ra được. 18. Nó nhảy mũi thì tia sáng phát ra, mắt của nó tựa như ánh bình minh. 19. Miệng của nó phun ra những ngọn đuốc, và phóng ra những tia lửa. 20. Khói tuôn ra từ những lỗ mũi của nó, giống như một nồi nước sôi đang được chụm bằng lau sậy. 21. Hơi thở của nó làm than hừng lên, một ngọn lửa phát ra từ miệng của nó. 22. Cổ của nó chứa đựng sức mạnh, cho nên trước mặt nó là sự kinh hãi và nhốn nháo. 23. Các thớ thịt của nó dính chặt vào nhau, thật chắc chắn, không thể tách ra. 24. Trái tim của nó cứng như đá – cứng như thớt dưới của cối xay. 25. Khi nó chỗi dậy, các dũng sĩ kinh hoàng – tiếng của những vật bị nghiền nát làm họ kinh hoàng. 26. Gươm, giáo, tên, lao cũng không thắng được nó. 27. Nó coi sắt như rơm, và xem đồng như gỗ mục. 28. Mũi tên không làm cho nó chạy trốn, trành đá bắn vào nó chỉ giống như trấu. 29. Nó xem gậy gộc như rơm rạ; tiếng lao phóng chỉ là trò cười cho nó. 30. Móng bên dưới của nó bén nhọn như miểng sành, và để lại dấu trên bùn khi nó sải bước. 31. Nó làm cho vực sâu sôi sùng sục như trong một cái nồi. Nó làm cho biển giống như một chảo dầu. 32. Nó bỏ lại phía sau luồng bọt lấp lánh, làm người ta nghĩ rằng vực sâu có tóc bạc. 33. Không có gì trên đất có thể sánh với nó: Một tạo vật không hề biết sợ. 34. Nó được tôn cao hơn tất cả mọi vật. Nó là vua trên tất cả con cái của sự kiêu ngạo.

1. Và rồi Gióp thưa với Đức Chúa Trời rằng: 2. “Con biết Ngài có thể làm mọi sự, không ai ngăn cản được ý định của Ngài. 3. Kẻ không hiểu biết nầy là ai mà lại cản trở ý định của Ngài. Thật vậy, con đã thốt lên những điều con không hiểu, những việc quá diệu kỳ mà con không biết. 4. Xin nghe con nói. Con sẽ cầu hỏi Ngài và Ngài sẽ trả lời cho con. 5. Trước kia, tai của con đã nghe nói về Ngài nhưng bây giờ mắt của con đã thấy Ngài. 6. Vì vậy, con xin rút lại và ăn năn trong tro bụi.”

7. Sau khi Đức Giê-hô-va đã nói những lời nầy với Gióp, Ngài cũng phán với Ê-li-pha, người Thê-man: “Cơn thạnh nộ của Ta nổi lên cùng ngươi và hai người bạn của ngươi; bởi vì các ngươi đã không nói về Ta cách chính đáng như Gióp, là tôi tớ của Ta. 8. Vì vậy bây giờ các ngươi hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực, rồi đến cùng Gióp, là tôi tớ của Ta. Hãy dâng tế lễ thiêu cho các ngươi, và rồi Gióp, tôi tớ của Ta, sẽ cầu nguyện cho các ngươi. Ta sẽ nhậm lời của người và không phạt các ngươi theo sự dại dột của các ngươi, bởi vì các ngươi đã không nói về Ta cách chính đáng như Gióp, là tôi tớ của Ta.”

9. Vì vậy, Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, Sô-pha người Na-a-ma, đã đi và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho họ. Đức Giê-hô-va đã nâng sĩ diện của Gióp.

10. Khi Gióp đã cầu nguyện cho các bạn của mình, Đức Giê-hô-va đã phục hồi lại những mất mát của Gióp. Thật vậy, Đức Giê-hô-va đã ban cho Gióp gấp đôi số tài sản mà trước kia ông đã có.

11. Sau đó, tất cả các anh em của ông, tất cả những chị em của ông, và tất cả những người ông quen biết trước kia, đã đến, ăn bánh với ông tại nhà của ông. Họ đã chia buồn và an ủi ông về những hoạn nạn mà Đức Giê-hô-va đã đem đến trên ông. Mỗi người tặng cho ông một nén bạc và một chiếc nhẫn vàng.

12. Và rồi, Đức Giê-hô-va ban phước cho những năm cuối đời của Gióp nhiều hơn lúc ban đầu. Ông có mười bốn ngàn chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò và một ngàn lừa cái. 13. Ông cũng có bảy con trai và ba con gái. 14. Ông đặt tên cho cô thứ nhất là Giê-mi-ma, cô thứ nhì là Kê-xia, và cô thứ ba là Kê-ren Ha-búc. 15. Khắp cả xứ không có phụ nữ nào xinh đẹp như các con gái của Gióp. Cha của họ ban cho họ được thừa hưởng gia sản cùng với các anh em trai.

16. Sau những điều này, Gióp sống một trăm bốn mươi năm, thấy các con, các cháu, các chắt đến đời thứ tư. 17. Rồi Gióp qua đời, cao tuổi, được thỏa mãn trọn cả đời.

Thư Viện Tin Lành (2026)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top