Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tiểu Thuyết: Chim Bay Ngược Gió (1934)

Tiểu Thuyết: Chim Bay Ngược Gió (1934)

Lời Ban Biên Tập:

Thánh Kinh Báo xuất bản số đầu tiên vào tháng 1/1931 tại Hà Nội, đã được phát hành rộng rãi cho độc giả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh.  Bên cạnh những bài viết phần lớn là giảng luận, nghiên cứu, và suy gẫm Kinh Thánh, Thánh Kinh Báo còn có những mục dành cho gia đình, thiếu nhi, tin tức, văn học và thi ca.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thập niên 1930 là giai đoạn đánh dấu sự phát triển của phong trào thơ mới và sáng tác tiểu thuyết trong chữ Quốc Ngữ. Chim Bay Ngược Gió là một tiểu thuyết, dựa trên truyện tích Thánh Kinh, được sáng tác trong giai đoạn này. Tác phẩm được đăng thành nhiều kỳ trên Thánh Kinh Báo vào năm 1934.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Chim Bay Ngược Gió được phát hành, Thư Viện Tin Lành xin giới thiệu tác phẩm cùng bạn đọc. Chim Bay Ngược Gió mang một số nét đặc trưng của tiểu thuyết Việt Nam trong thập niên 1930. Tám mươi năm đã trôi qua, văn chương Quốc Ngữ đã thay đổi rất nhiều; cách dùng chữ và cách hành văn trong tác phẩm có lẽ không còn quen thuộc với một số bạn đọc.  Hy vọng tác phẩm sẽ giúp bạn đọc sẽ hiểu thêm một ít về văn chương Cơ Đốc trong giai đoạn đầu của tiểu thuyết Quốc Ngữ Việt Nam.   

CHIM BAY NGƯỢC GIÓ (1934)
(Chuyện tích nàng Ru-tơ)
Ruth_020113


Chương thứ ba:

Quạ Mớm Trả Mồi

Chim già mõi cánh phong trần,
Chim non quyết phải đem thân đền bồi,
Kìa, xem nó mớm trả mồi,
Tấc lòng hiếu thảo xui người cảm thương!

Đàn gà trống thi nhau gáy.  Chúng nó dường như đánh thức nhà nông trở dậy làm ăn.  Bọn thợ gặt, cơm nước xong, cầm liềm ra đồng, vừa đi vừa hát, hăng hái như quân lính ra trận.  Trong túp nhà tranh, hai mẹ con Na-ô-mi quì gối bên giường thiết tha cầu nguyện Đức Giê-hô-va cho mình đủ bánh nuôi thân.  Đoạn, họ ăn nắm lúa rang lót dạ, rồi Ru-tơ giắt dao xách thúng ra đi.

Biển lúa chín vàng, dập dờn trước gió, bỏ công ai bấy nay chơn lấm tay bùn.  Bọn con gặt tản ra mọi chỗ, giở liềm cắt lúa, chẳng khác chi các viên dõng tướng xông pha mặt trận, giết quân thù như trở bàn tay.  Biết Ru-tơ là bật dâu hiền, họ tranh nhau để nàng mót lúa.  Nàng là một người tài sắc, đáng lẽ không phải làm việc hèn hạ này, song vì muốn trọn đạo đối với mẹ chồng, nên nàng chẳng quản thân mình vất vả.

Mặt trời đứng bóng, bọn thợ dừng tay nghỉ một lát, chuyện trò cho khuây nỗi nhọc nhằn:

– Nầy, cô Ru-tơ: “Hoa xuân đang độ tươi cười; hại thay làm vợ con người cửu-nguyên!”  Chúng tôi tưởng khi mãn tang, cô nên tìm người phải lứa vừa đôi mà nối duyên cầm sắt.  Cô nghĩ sao?

Ru-tơ đỏ mặt ngập ngừng, muốn nói lại thôi…

– Thế nào?  Cô cứ nói…

– Trước khi lấy chồng, lòng tôi những mong lập một gia đình vui thú, vợ chồng sum họp cho đến bạc đầu; chẳng dè phận hẩm duyên ôi, lòng mong ước ấy trở thành giấc mộng!  Thôi, “Sự đời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng nửa chi!”  Bây giờ tôi như con chim đã phải cung bắn rồi, sợ không dám ngó làn cây cong nữa.  Vậy, xin cám ơn các chị em có lòng tốt hỏi đến, song tôi không muốn nói tới chuyện chồng con cho thêm phiền.

Một bà cao tuổi nhất nói thêm:

– Cô ở nước ngoài mới đến, chưa thông luật pháp nước tôi.  Nếu người nào chết không con, thì một anh em ruột người phải cưới vợ người.  Đứa con đầu lòng nàng sanh ra sẽ nối danh người.  Ví bằng người không có anh em ruột, thì một bà con gần nhất của người phải làm bổn phận kia.  Đức Giê-hô-va ban mạng lịnh ấy vì muốn tên tuổi mỗi người Giu-đa được lưu truyền mãi mãi.  Vậy nên cô cần cải giá với một người bà con gần nhứt của nhà chồng, mới là trọn đạo cùng Chúa và vẹn nghĩa cùng chồng… Kìa, ông chủ đã đến!

Mấy chục cái đầu cùng ngước, mấy chục con mắt đều nhìn:  Ông Bô-ô thân cao, sức mạnh, mặt lớn, tai to, ăn mặc tầm thường, dáng đi chững chạc, theo sau có vài kẻ đem cơm cho thợ ăn trưa.  Ông là bậc phú quí nhất nhì trong thành.  Ông giàu của cải, mà cũng giàu tình yêu thương, giàu đức khiêm nhường, nên hay bố thí cho người nghèo khổ.  Bàn tay từ thiện kín giấu của ông khiến lắm kẻ đau được mạnh, đói được no; song họ chẳng biết tìm ai mà cảm tạ.  Dẫu có chức lớn trong thành, ông vẫn coi mọi người như thể anh em.  Ông thường nói: “Thấy ai hơn ta, ta phải cố cho bằng họ; thấy ai kém ta, ta phải giúp cho họ bằng ta.”

Bữa nay ông nhàn rỗi, nên cất bước ra đồng, chăm nom công việc.  Đến gần đám thợ gặt, ông vui vẻ chúc mừng:

– Nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng anh em chị em!

Họ đáp:

–  Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông!

Ông thấy có một nàng hương trời sắc nước, xen vào bọn người thô lỗ quê mùa, bèn hỏi nhỏ một người thợ gặt:

– Nàng là con nhà ai?

Người đáp:

–  Nàng vốn người Mô-áp, theo mẹ chồng là bà Na-ô-mi đến ở thành này.  Vì cảnh nhà nghèo túng, tiền hết, gạo không, nàng phải đi mót lúa để đem về nuôi mẹ.  Nàng làm việc từ sáng rất đỗi nhọc nhằn, vậy mà nàng vẫn ca hát, tươi cười, đủ biết trong lòng nàng có mạch bình tĩnh, vui mừng không hề khô cạn.

Vừa kính trọng, vừa thương xót, ông đến trước mặt Ru-tơ, cúi chào mà rằng:

–  Nghe qua thân thế của cô, tôi đây hết lòng kính phục.  Tôi thiết nghĩ: Chúng ta sống ở đời, chẳng những không nên cắn xé, ăn nuốt lẫn nhau như loài cầm thú, song lại còn phải cứu giúp, đỡ đần lẫn nhau trong cơn nguy biến, mới là phải đạo.  Như vậy, trông lên mới khỏi thẹn cùng trăng sao sáng láng, ngó xuống mới không hổ với hoa cỏ tốt tươi.  Muốn làm theo ý tưởng đó, tôi bằng lòng để cô mót lúa ruộng nầy.  Tôi đã cấm bọn đầy tớ làm khó cho cô, xin cô cứ yên lòng làm việc.

Ru-tơ khép nép trả lời:

– Thấy ông giơ tay cứu kẻ sa cơ, phận hèn này xin hết lòng cảm tạ.  Nhưng theo trí hẹp óc nông của tôi, thì ông nên làm ơn cho người cùng xứ, chớ chẳng cần làm phước cho tôi, là kẻ thuộc về dân ngoại.

– Nói vậy thì lầm.  Chắc cô chưa nghe câu: “Dẫu không cùng nước, cùng nhà, người trong bốn biển cũng là anh em.”  Người đời hay phân biệt nước này xứ khác, giống nọ nòi kia, thật là tầm mắt thấy hẹp.  Cứ xét cho kỳ, nghĩ cho sâu thì không cứ đông, tây, nam, bắc, vàng, trắng, đỏ, đen, mọi người đều chung một tổ.  Vậy, phải che chở đùm bọc lẫn nhau mới trọn nghĩa “yêu người như mình” chớ!

– Lời vàng tiếng ngọc này chẳng khác ngọn đèn chiếu rọi tấm lòng ngu tối của tôi.  Tôi xin ghi tạc cái tình bác ái của ông, mong có dịp báo đền muôn một.

–  Mời cô đến ngồi cùng bọn thợ, xơi cơm, xơi nước cho mát ruột no lòng.

Đoạn, Bô-ô đưa cho nàng một đấu mạch rang.  Nàng giơ hai tay nhận lãnh, cám ơn ông rồi đổ một nửa vào góc thúng, bấy giờ mới ăn hết nửa kia.  Một người thợ gặt hỏi:

– Sao cô không ăn hết, còn để lại làm chi?

– Dẫu tôi được no, song nhớ mẹ chồng tôi ở nhà đang đói, nên tôi phải dành dụm ít nhiều để đem về nuôi mẹ.

– Đời này hiếm kẻ như cô.  Vô số người chỉ thương chồng, quí con, song bỏ cha mẹ chồng chẳng hề nhìn tới.

Ăn xong, Ru-tơ lại xuống ruộng, vừa mót lúa, vừa hát các bài Thi-thiên mà mình đã học thuộc lòng từ khi còn ở trong miền Mô-áp.  Bô-ô đã dặn bọn đầy tớ rằng:

– Thấy kẻ hiền lương gặp bước gian nan chìm nổi, ta muốn gắng công giúp đỡ cho vẹn đạo làm người.  Vậy các ngươi cứ cho nàng mót, và giả đò làm rớt ít giẻ để nàng lượm lấy đem về nuôi nấng bà gia.  Chớ làm cho nàng xấu hổ, cũng đừng quở trách nửa lời.

Ông ưa bố thí, song hằng giấu tay, thật đáng ngợi khen kính phục.

Trời nhuộm màu vàng, chim về tổ thợ dừng tay.  Ru-tơ đập lúa hứng được vài đấu.  Nàng lâm râm cảm tạ Đấng Toàn Năng đã ban phước dư dật, rồi đội thúng trở về nhà.

Na-ô-mi đứng trên bậc cửa, vừa chờ đợi nàng dâu, vừa ngậm ngùi nhớ kỳ dĩ vãng.  Bụng đói, miệng khát, nhưng thấy mặt Ru-tơ bà cũng gượng sầu làm vui, ngõ hầu giục lòng con hiếu.

Tưởng mẹ đã quên mọi mùi cay đắng,  nàng cũng chẳng nhớ những nỗi nhọc nhằn.  Nàng đổ mạch rang vào chén, cúi đầu dâng để mẹ xơi.

Bà Na-ô-mi cảm động mà rằng:

– Con mót lúa nơi nào?

Ru-tơ đáp:

– Thưa, trong ruộng Bô-ô.

– Người đối đãi con thể nào?

– Thưa, người đối đãi con nhơn hậu quá ý con suy nghĩ.

– Ồ, cám ơn Chúa, thấy người hiền đức, ta lại tưởng đến Ngài vì ân điển Ngài vượt quá lòng ta trông đợi:  Ta xin một, Ngài cho mười.  À con! Bây giờ ta mới nhớ… Kể về dòng họ, thì Bô-ô là một người có quyền cưới con để nối danh cho nhà ta.

Ru-tơ gục đầu khóc nức nở:

– Thưa mẹ, con lìa bỏ quê cha đất tổ, theo mẹ về đây cốt để làm vẹn đạo hiếu, nào phải mong để nối dây cầm sắt cùng ai?  Bởi vậy, mỗi khi nghe nói chuyện cải giá, linh hồn con đau đớn vô cùng, luống những xót thương người đã khuất.

Na-ô-mi tươi cười, vuốt ve mái tóc và lau ráo nước mắt cho nàng dâu rồi nói:

– Đấng Toàn Năng chắc soi xét tấm lòng trong sạch của con; song nếu con thương nhớ kẻ qua đời, ắt phải lo lưu truyền tên tuổi cho người mới được.  Vả, đó là ý chỉ Đức Giê-hô-va, con phải vâng theo.

– Trưa nay, lúc đang dùng bữa, con thấy chim quạ mớm mồi cho mẹ nó để báo đền công cả đức dầy.  Chim còn như vậy, huống hồ người ta?  Đối với mẹ, con tuy là nàng dâu, song khác nào con đẻ.  Nếu con cải giá, ai lo hầu mẹ sớm hôm?

– Thấy con lại hưởng lạc thú gia đình, ta hẳn thỏa lòng ao ước.  Con chớ lo đến ta.  Thân già này đã phó thác trong tay Đấng Toàn Năng, chắc Ngài chẳng để ta đói khát.  Con ơi, “Trước ta trẻ, rày đã già, nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, hay là dòng dõi người đi ăn mày” (Thi-thiên 37:25).  Ta không ép uổng con, vì “ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên?”  Song, nếu con chẳng đổi ý, thì gánh đau mẹ thêm nặng, thành thảm mẹ thêm cao, đó con!

Ru-tơ ngửng mặt, gượng cười đáp lại:

– Ý mẹ đã quyết, con đâu dám trái lời…

(Còn tiếp)

Tài Liệu:

Cánh Chim Ngược Gió, Thánh Kinh Báo, Tháng 4/1934

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top