Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tìm Hiểu: Danh Hiệu Elohim

Tìm Hiểu: Danh Hiệu Elohim

Ý Nghĩa Danh Hiệu Elohim

Elohim (אֱלֹהִים) là một danh từ trong tiếng Hebrew được dùng để chỉ về Đức Chúa Trời.  Ý nghĩa căn bản của chữ Elohim chỉ về một Đấng toàn năng, vĩnh cửu, vô hạn; công việc của Ngài chứng minh Ngài là Đấng Tạo Hóa, Đấng Bảo Tồn, và là Thẩm Phán Tối Cao của cả vũ trụ.  Chữ elohim được dùng hơn 2500 lần trong Thánh Kinh Cựu Ước. 

Về mặt ngữ vựng, chữ elohim – với tiếp vĩ ngữ “im” – là một danh từ số nhiều, giống như chữ cherubimseraphim. Tuy nhiên về mặt ngữ pháp, trong ngôn ngữ Hebrew chữ elohim thường được dùng với động từ số ít nhiều lần hơn là được dùng với động từ số nhiều. Trong những trường hợp như vậy, danh hiệu Elohim thường được dùng để chỉ về Đức Chúa Trời, và khi đó, chữ Elohim được viết hoa. Ví dụ tiêu biểu của trường hợp này là câu đầu tiên trong Kinh Thánh: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng Thế Ký 1:1).  Trong nguyên văn Hebrew, chữ Đức Chúa Trời – Elohim – là danh từ số nhiều, nhưng động từ “sáng tạo” trong câu này được dùng dưới dạng động từ số ít.    

Chữ Elohim – Đức Chúa Trời – được viết tắt là El. Chữ El thường được dùng chung với những chữ khác để mô tả những đức tính hay bản chất của Đức Chúa Trời.  Vài ví dụ tiêu biểu là: El Shaddai “Đức Chúa Trời Toàn Năng” (Sáng Thế Ký 49:24); El Elyon  “Đức Chúa Trời Chí Cao” (Phục Truyền 26:19), El Roi “Đức Chúa Trời Đoái Xem” (Sáng Thế Ký 16:13). Chữ El cũng được ghép với những chữ khác để đặt tên cho những cá nhân nhằm bày tỏ lòng tôn kính với Đức Chúa Trời. Tên của vài nhân vật trong Kinh Thánh có chữ El là Daniel (“Đức Chúa Trời là thẩm phán của tôi”), Nathanael (“Món quà của Đức Chúa Trời”), Samuel (“Đức Chúa Trời lắng nghe”), Elijah (“Jehova là Đức Chúa Trời”).  Chữ El còn được dùng để đặt tên cho những địa danh, ví dụ như Bethel (“Nhà của Đức Chúa Trời”) hay Israel (“Hoàng tử của Đức Chúa Trời”).

Thánh Kinh Tân Ước có ghi lại một câu nói của Đức Chúa Jesus trên thập tự, liên hệ đến chữ Elohim, đó là: “Eloi, Eloi, lema sabachthani?” (Mác 15:34). Trong câu này, Đức Chúa Jesus đã gọi Đức Chúa Trời là “ElohimEloi” – và Mác đã dịch là “Đức Chúa Trời của tôi!  Đức Chúa Trời của tôi!  Sao Ngài lìa bỏ tôi?”

Bên cạnh ý nghĩa chính của chữ Elohim là “Đức Chúa Trời”, có vài trường hợp trong Kinh Thánh chữ elohim – khi viết thường – được dùng để mô tả những thiên thần (Thi Thiên 8:4-6), những thẩm phán (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:6; 22:8-9) và những lãnh đạo của quốc gia (Thi Thiên 82:6; Giăng 10:34).

Thi Thiên 8:4-8 đã mô tả loài người và cho biết loài người được đặt dưới elohim (Thi Thiên 8:6). Bản dịch Việt Ngữ 1925 đã dịch chữ elohim trong Thi Thiên 8:6“Đức Chúa Trời”, và bản dịch 2011 dịch elohim là “các thiên thần”.  Điều đáng lưu ý là tác giả sách Hê-bơ-rơ trong Tân Ước đã trích lại Thi Thiên 8:6, được chép trong tiếng Hebrew, và ghi lại trong tiếng Hy Lạp ý nghĩa chữ “elohim” là “ἀγγέλους” – nghĩa là “các thiên thần”. Cả hai bản dịch Việt Ngữ 1925 và 2011 đều dịch chữ này trong Hê-bơ-rơ 2:7“thiên sứ”.  Do đó, chữ “elohim” trong nguyên văn Hebrew của Thi Thiên 8:6 có nghĩa là “thiên thần” hay “thiên sứ”.     

Dựa vào nội dung của Xuất Ê-díp-tô Ký đoạn 2122, chữ elohim trong Xuất Ê-díp-tô Ký 21:6; 22:8-9 đã được các dịch giả King James dịch là “thẩm phán”. Bản dịch Việt Ngữ 1925 dịch là “Đức Chúa Trời”, và bản dịch 2011 đã dịch trở lại là “quan tòa”.

Mặc dầu trong văn mạch của Thi Thiên 82, chữ chữ elohim trong Thi Thiên 82:6 thường được hiểu là lãnh đạo của quốc gia; tuy nhiên chữ này được cả hai bản dịch Việt Ngữ 1925 và 2011 dịch là “thần”. Cách dịch này căn cứ theo ý của Đức Chúa Jesus khi Ngài trích lại Thi Thiên 82:6 trong Giăng 10:34“Đức Chúa Jesus đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là các thần, hay sao?” Giống như trong văn hóa Á Đông, các vị vua thời xưa thường nhận mình là thiên tử, những lãnh đạo tại vùng Trung Đông ngày xưa cũng xưng nhận vai trò thiên thượng của họ để nắm quyền cai trị và phân xử trên đất nước của họ. Thi Thiên 82 nhắc nhở rằng sẽ có một ngày những người này phải trả lời về những hành vi của họ trước Đức Chúa Trời Chí Cao.   Khi dịch Thi Thiên 82, một số bản dịch đã chọn cách dịch theo chữ, nên “elohim” đã được dịch là “các thần”; trong khi đó một số bản dịch khác đã chọn cách dịch theo nghĩa, nên “elohim” đã được dịch là “những lãnh đạo” cho phù hợp với nội dung được mô tả trong Thi Thiên 82.

Kinh Thánh Cựu Ước cũng ghi nhận việc các dân tộc ngoại bang đã dùng chữ elohim để gọi những thần linh của họ. Vài ví dụ về ý nghĩa này đã được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:12, Phục Truyền 4:28, và I Các Vua 11:33.  Trong một số trường hợp khác, chữ elohim còn được dùng để mô tả những vật siêu hình và tà linh (I Sa-mu-ên 28:13).

Cộng đồng những người tin Chúa tin rằng chữ Elohim – một danh từ số nhiều – còn chứa đựng ý nghĩa về Ba Ngôi Đức Chúa Trời – bao gồm Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jesus, và Đức Thánh Linh. Trong công cuộc sáng tạo vũ trụ, Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiện diện tại đó (Sáng Thế Ký 1:1-2; Giăng 1:1-3).  Khi Đức Chúa Jesus nhận lễ báp-têm, khởi đầu cho công cuộc sáng tạo một thế giới mới, Ba Ngôi của Đức Chúa Trời cũng hiện diện tại đó (Ma-thi-ơ 3:26-27).

Tóm lại, ý nghĩa căn bản của chữ Elohim là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng vĩ đại và quyền uy.  Quyền năng của Ngài thể hiện trong khắp cả vũ trụ mà Ngài đã tạo dựng.  Quyền năng vô biên là bản chất của Đức Chúa Trời được mô tả trong danh hiệu Elohim. Tiên tri Giê-rê-mi đã viết: “Ôi! Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Chính Ngài đã dựng nên trời và đất bằng quyền năng lớn lao và bằng cánh tay dang ra của Ngài. Không có việc gì Ngài chẳng làm được” (Giê-rê-mi 32:17). Bên cạnh chữ Elohim – viết hoa – là danh hiệu của Đức Chúa Trời, chữ elohim – viết thường – được dùng để mô tả những thiên thần, những thẩm phán, những lãnh đạo, những tà thần và tà linh.

Phước Nguyên

– Những Danh Hiệu Và Biểu Tượng Của Đức Chúa Trời

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top