Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Tài Liệu » Tái Sinh – Chương 6.a

Tái Sinh – Chương 6.a

BornAgain_CWC

Chương 6: Colson Vào Tù

Tiếng động của những chuyên viên thâu hình ráp nối dụng cụ trên đường sỏi trước sân nhà đánh thức tôi dậy. Hôm nay 8/7/1974, ngày cuối cùng cùa Patty và tôi sống với nhau trước khi vào tù ít nhất là một năm. Tôi dụi mắt còn ngái ngủ, thò đầu ra cửa sổ la lớn: “Tới hai giờ chiều tôi mới đi. Ðến chiều mấy anh hãy trở lại. Tôi không tránh mấy anh đâu. Tin tôi đi”.

Một chuyên viên với khuôn mặt phì nộn, thân thiện của đài ABC nở nụ cười rạng rỡ. “Ðược, ông Colson, tôi sẽ trở lại vào hai giờ chiều. Chúc ông được một buổi sáng vui”.

Họ thu dọn những dụng cụ đoạn lên xe ra về. Trong quá khứ, những người này khó lòng bước đi lắm. Tôi tự nhủ, oái ăm thật bây giờ tôi là một tội nhân sắp vào khám thì báo chí bỗng nhiên tin tôi.

Chúng tôi xem chương trình “Today” trên truyền hình trong giờ điểm tâm, phát hình phần chót cuộc phỏng vấn gồm ba phần với tôi quay hôm tuần rồi. Barbara Walters xuất hiện vào cuối chương trình: “Cuộc phỏng vấn này với ông Colson được quay tại phim trường của chúng tôi tuần lễ vừa qua. Ông đến đây với vợ ông, Patty, một người đàn bà duyên dáng ủng hộ ông tích cực và hết lòng. Ðôi khi chúng ta quên đi những đau khổ riêng tư của cá nhân, nhưng sáng hôm nay, tôi không khỏi nhớ đến ông bà Colson”. Ðoạn nhìn thẳng vào ống kính, bà tiếp: “Và tôi gửi lời này đến ông bà, chúng tôi thật lòng quan tâm và lo lắng cho bà”.

Patty và tôi cố gắng kềm hãm mọi cảm xúc, xem buổi sáng hôm nay như mọi buổi sáng khác nhưng nét thương cảm trên khuôn mặt của bà Walters đã làm úng tôi bối rối. Nàng đã làm tôi ngạc nhiên trước sự chịu đựng của nàng trong những ngày cuối cùng tôi còn huởng tự do, nhưng bây giờ cũng sụt sùi như tôi.

Graham Purcell tình nguyện đưa chúng tôi đến Baltimore, nơi tôi sẽ trình diện cho những viên chức tại khám đường Fort Holabird. Anh lái xe đến đúng giờ hẹn, khuôn mặt bồn chồn lo lắng. Tôi biết đã từ lâu dưới tấm da chai lì miền Texas hoang dã của anh là một trái tim lớn và mềm mại như trái dưa chín. Cùng với Judd Best, người bạn đồng nghiệp đi theo lo thủ tục nhập khám. Patty và tôi bước lên xe của Graham tiến về phía các phóng viên và nhiếp ảnh viên đang đứng chật đường đi.

Những câu hỏi dồn dập đến từ phóng viên chứa đựngmột chút dí dỏm, khôi hài. Cảm giác của tôi ra sao khi sắp vào tù? Tôi nhớ Tổng Thống Lincoln có lần đã nói với một tù nhân rằng tù nhân là người bị bôi đen, lông cánh rũ hết và được xe chở ra khỏi thành phố. Khi hỏi cảm tưởng về lời diễn tả trên, anh ta trả lời: “Nếu không bởi vinh dự ấy thì tôi đã bỏ đi bộ rồi”.

Một phóng viên hỏi lớn, “Ông mang sách gì theo vậy?” Tôi trả lời: “Chỉ có hai cuốn Kinh Thánh”. Khi câu trả lời đó được đăng tải, hàng loạt Kinh Thánh đã được gửi đến khám đường bằng buu điện. Sau này, tôi đem tặng cho những tù nhân khác. Những mẩu đối thoại có vẻ thoải mái, nhẹ nhàng hơn, không còn nhũng nét hằn học như trước.

Các nhân viên chính phủ cố gắng bằng mọi cách bao trùm khám đường Fort Holabird bằng một màn đêm bí mật dày đặc, chỉ gọi đó là “một” “trung tâm tạm lưu vùng Baltimore – Washington dành cho những nhân chứng của chính phủ”. Vì có nhiều tù nhân bị giam, số người điều trần về những nhân vật sống trong bóng tối cũng nhiều. Do đó, nhu cầu có một nơi kín đáo, an toàn để trú ẩn hết sức là cần thiết. Holabird được chọn là một nơi tạm thời cho những tù nhân liên hệ đến Watergate sắp phải ra điều trần trong những phiên tòa tương lai.

Bốn viên chức của khám đường liên bang đón chúng tôi tại một khách sạn ở thành phố Baltimore. Ðây là giờ phút cuối cùng, hoang mang, rối loạn. Nào là những máy hình của nhiếp ảnh viên chớp nháy lia lịa. Nào là chia tay giã từ Patty và hai người bạn. Bây giờ, tôi chính thức là một tù nhân liên bang trong vòng kiểm soát. Tôi bị ép vào ghế sau của một chiếc xe không bảng số, chạy ào ạt qua những con đường hẹp hẹp cong quẹo, luồn dưới đường xe lửa, rồi cuối cùng đến cổng của khám đường Fort Holabird, vốn là một trại lính trước đây.

Viên phụ tá Khám Trưởng đưa tôi đến Phòng Kiểm Soát, một căn phòng chung quanh là thủy tinh nằm ngay giữa hành lang của lầu một. Thủ tục bắt đầu: lấy dấu tay, chụp hình, khám xét hành lý và tài sản riêng, lắc từng hành lý một để tìm cho ra thuốc phiện hay những vật dụng bị cấm, và vô số đơn từ phải điền.

Viên phụ tá hỏi, “Anh số mấy?”

“Tôi không có số”

“Anh nói anh không có số à? Thế là sao? Tù nhân liên bang nào cũng có số mà?”

“Hay là chắc ông phải cho tôi một số”.

Viên phụ tá càu nhàu, “Mấy người ở Washington, bộ họ không biết cái hệ thống làm việc của tôi dưới nầy sao hả?”

Ðoạn tôi vô tình hỏi: “Tôi không biết. Ông có thể cho tôi biết về hệ thống ở đây được không?”

“Không! Ðiều quan trọng anh nên nhớ là anh không nên nhớ gì cả. Không ai biết là chỗ nầy có mặt trên trái đất. Anh sẽ gẵp một vài người người rất khác thường ở đây. Ðừng nói chuyện với họ về vấn đề của anh, cũng như đừng hỏi han họ về vấn đề của họ. Khi anh rời nơi đây, hãy quên là anh đã có gặp họ. Anh chỉ biết tên của họ mà thôi, còn tên lót hay họ không bao giờ anh nên tìm hiểu. Hãy tuân theo luật lệ và chỉ lo chuyện của mình thôi”.

Sau đó, ông ta chuyển tôi qua Joe, một người đen sậm, lông lá ghê rợn, nói tiếng Anh chập choạng. (Tên tuổi của những tù nhân đã thay đổi vì lý do an ninh, ngoại trừ trường hợp cho phép dùng tên thật). Hắn ta chỉ cho tôi căn phòng của tôi, chiều ngang chừng ba thước, chiều dài chừng bốn thước, nằm ngay dưới mái nhà. Căn phòng có một giường nằm, một tủ đựng quần áo đứng xiêu vẹo và một bàn giấy nhỏ. Trên bàn đầy những câu viết từ thế hệ này qua thế hệ khác đi qua căn phòng này – từ những quân nhân trẻ cấp úy cho đến những tù nhân liên bang. Nhiệt độ lên quá 100 độ (oF). Baltimore đang quằn quại dưới cơn nắng gay gắt nhất trong năm.

Khi những tù nhân khác đi ngang qua, Joe giới thiệu cho tôi. Pete, một thanh niên trẻ, gốc người Ý cho biết trước đây hắn cũng ở trong Hải Quân; Angie, một người vui vẻ, cởi mở, xuất thên từ nước Ý bỏ túi của New York. Pat và Andy, trước đây là những nhân vật chính của những đường dây thuốc phiện lớn, hoạt động với tên giả. Tôi còn được biết thêm hai thanh niên Eddie và Jimmy bị giữ riêng biệt khỏi mọi người khác vì lý do chính đáng rằng trước đây họ là cảnh sát vùng Baltimore. Cựu cảnh sát và tội phạm nhét chung và một nhà giam trông lạ lùng và nức cười làm sao!

Rồi đến Mike, thân thể vạm vỡ, tóc vàng dài thường thượt với giọng nói Boston không thể trật vào đâu được. Có nhiều tội phạm với đầy đủ mọi quốc tịch: Ý, Cu Ba, Pháp kể cả một tù nhân thân hình lông lá xâm mình sặc sỡ từ đầu đến chân.

Khi tôi hỏi Joe khóa cửa như thế nào, hắn ta ngã người về phía sau cười oang. “Không có khóa ở đây, gia đình cả mà”. May là tôi chưa xem phim The Goldfather – chứ không chữ gia đình còn ghê gợn hơn nữa kia.

Có một số người ở Holabird, tôi đã biết trước đây – Herb Kalmbach, luật sư riêng của Tổng Thống, anh ta đã trình diện trước tôi một tuần và cũng như tôi hiện đang chờ ra điều trần họp truy tố Tổng Thống sắp đến. Joe chỉ phòng của anh ta. Khi tôi quay nhìn vào, Herb, người đàn ông cao lớn, dáng bảnh bao và tân thời, đứng bật khỏi ghế chạy ra. “Tôi rất vui được gặp lại anh! Dĩ nhiên, là không phải ở nơi đây, nhưng tôi sung suóng được gặp lại bạn cũ”. Tình bạn gây lại này quả thật quan trọng cho hai chúng tôi trong thời gian sắp đến.

Tôi coi trọng lời đắng đo của Viên Phụ Tá nên cố kềm hãm sự tò mò của tôi về các tù nhân khác. Ở đây không có tiện nghi thể thao nên thời gian kéo dài lê thê. Trời nóng như thiêu đốt. Tôi bắt đầu hiểu tại sau Bud Krogh đã thu mình vào con ốc của mình. Jimmy, tên cựu cảnh sát trẻ bị tù vì tội nhận hối lộ, giúp không khí bớt căn thẳng qua những mẩu chuyện vui huyên thuyên của hắn, nhất trong những bữa ăn.

Trong một bữa ăn tối, tôi để ý tên Pete nhỏ thó với giọng nói lớn, oang oang cả căn phòng ăn đầy người. Jimmy nói nhỏ: “Ðừng đụng tới hắn, lâu lâu hắn nổi điên một lần. Hắn ta là một trong những tên đầu não về bạch phiến ở thành phố New York.

Tôi ngạc nhiên. “Thằngnhỏ đó hả?”

Jimmy trả lời, “Ðúng, thằng nhỏ đó là một trong những đầu đảng. Người ta nói rằng lời khai của hắn sẽ lột trần mặt nạ khoảng một trăm người. Ðừng đụng đến hắn. Hắn có thể lụi anh bằng con dao như vầy nè”. Jimmy vừa nói vừa nhìn về hướng con dao lớn cắt bánh mì nằm ngay giữa bàn, sáng lánh lánh trước anh nắng buổi chiều. Jimmy chỉ về hướng Mike “Anh biết không, hắn ta cũng ở trong bọn đó”.

“Cái tên ít nói đó à? Tên to xác người Boston sao?” Mike đang ngồi ăn ở gốc đối diện, khuôn mặt lạnh lùng, đôi mắt không cảm xúc, trơ như sắt.

Hắp tiếp tục, “Tôi tưởng là anh biết về Mike nhiều lắm chứ. Anh cũng ở xứ Boston mà. Khi hắn bị bắt, chuyện này vang dội dữ lắm. Người ta nói hắn giết tới hai mươi tám người”.

Tôi nhìn trân trân vào Jimmy như không tin nói, “Hai mươi tám người?”

“Anh biết mà, đó là việc làm của tên sát nhân. Giết người”. Giọng Jimmy dịu lại như có thuyết phục cho tôi tin.

Tôi không khỏi bâng khuâng nghĩ ngợi. Tên sát nhân và tên chuyên dở trò dơ bẩn – cặp Mike và tôi xứng đôi làm sao! Tôi nghiêm chỉnh, “Tại sao một tội nặng như thế mà không bị án tử hình?”

Jimmy nhún vai, “Người ta mang hắn tới đây để bảo vệ hắn. Hắn sống có lợi cho chính phủ hơn là chết”.

Trong khi cố tránh nhìn Mike, tôi bỗng thèm muốn có một căn giam riêng có chìa khóa.

Thời gian nặng nề, lếch thếch trôi. Những lần viếng thăm của Patty và anh em đã giúp tôi giữ vững thêm đức tin, mặc dầu điều kiện thăm viếng rất gắt gao và hạn chế. Việc viếng thăm quả là khó cho Patty và tôi. Những ngày dài xa nhau xen lẫn bằng vài giờ sống bình thường một cách ảo tưởng, con mắt luôn để ý nhìn đồng hồ, cuối cùng là sự đau đớn của chia tay. Tuy nhiên, qua nhiều tháng, những mẩu chuyện trò giữa chúng tôi về đức tin trở nên ý nghĩa hơn. Chúng tôi càng hiểu Kinh Thánh hơn, nhưng tôi vẫn chưa dám yêu cầu nàng cầu nguyện chung với tôi.

Một hôm cuối tháng bảy, sau một lần viếng thăm Patty viết cho tôi một lá thư: “Anh thương, em đã cầu nguyện cho chúng ta trên suốt đường về. Em nghĩ nếu từ nay về sau chúng ta cầu nguyện chung với nhau trước khi chia tay, thì chắc là hay lắm anh ạ. . . ”

Tôi nhận lá thư ấy ngày hôm sau và chỉ muốn lớn tiếng vui mừng. Trong suốt đêm ấy, tôi có cảm giác rung động sung sướng thấm qua từng thớ thịt, như cái cảm giác rằng thế giới này chẳng sẽ tàn lụi trong những giờ đen tối nhất của tôi trong quá khứ. Kể từ đó chúng tôi nắm tay cầu nguyện lớn tiếng chung với nhau trong những lần viếng thăm, dù là có những người khác gần đó. Sự hiệp một về tâm linh này sẽ giúp chúng tôi vượt qua khó khăn, trở ngại trước mắt.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top