Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 4.d

Tái Sanh – Chương 4.d

BornAgain_CWC

Chỉ mới sau mười hai giờ trưa, mọi nút trên điện thoại của tôi đều sáng cùng một lúc. Ðiều nầy cũng chẳng gì lạ. Nó xảy ra quá thường trong suốt vụ Watergate dai dẳng nầy. Khi nào có một lời tố cáo mới về tôi, phóng viên chụp ngay lấy điện thoại gọi tôi để lấy lời phát biểu hay cảm tưởng, một việc làm bình thường của báo chí. Holly cho hay: “Nhật báo Chicago Tribune, Post, New York Times, Thông Tấn Xã AP đều gọi cùng một lúc”.

Tim tôi đập mạnh. Dạo nầy báo chí ít đăng tải về tôi. Có thể bản án chờ đợi bao lâu giờ đã đến? Tôi cú điện thoại của Chicago Tribune trước, bởi tôi thích Aldo Bickman, đặc phái viên vùng Washington ở bên kia đầu dây.

“Chuck, có tin là buổi sáng nay ông dự buổi điểm tâm cầu nguyện tại Tòa Bạch Ốc và ông đã trở thành bạn thân của Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes của tiểu ban Iowa”. Anh ta tiếp tục bằng giọng nói đầy nghi ngờ: “Tôi cũng có nghe chuyện ông đã tìm thấy được tín ngưỡng rồi”.

Tôi giận dữ chống đối: “Nầy Aldo ạ, mấy anh đã đăng tải về tôi đã quá đủ rồi, nhưng vấn đề tôn giáo là chuyên riêng tư của tôi. Tôi không muốn nói về chuyện đó với báo chí. Vậy là đủ, các anh hiểu không?”

“Nhưng Warreng đã công bố sáng nay tại Tòa Bạch Ốc là ông có mặt tại buổi điểm tâm cầu nguyện rồi mà. Việc đó ai cũng biết cả rồi”.

Tôi hoảng hốt: “Ông Warreng công bố điều ấy? Thôi được, để ông ấy nói chuyện với các anh”. Tôi cúp điện thoại ngay.

Ðiện thoại gọi đến dồn dập như thác lũ. Holly hỏi tôi: “Tôi phải nói với họ sao đây?”

“Nói họ rằng. . . ” đoạn tôi đổi ý “lấy tên tuổi của họ. Có thể tôi sẽ điện trở lại”.

Tôi gọi cho Jerry Warreng, anh ta tường thuật lại mọi sự. Anh ta nói, “Chuck, tôi đoán là có ai thấy anh vào Tòa Bạch Ốc. Mấy thứ chim nầy có cắn lấy từng cộng rơm. Cả ngày nay họ bận rộn với điểm tâm cầu nguyện. Anh mà thấy khuôn mặt sáng nay của họ thì thôi khỏi nói”.

“Nhưng Jery ạ, cả mấy tháng nay tôi ra vào Tòa Bạch Ốc đều đều, lần nào họ cũng để ý cả. Nhưng tại sao họ lại thắc mắc về hôm nay?”

Tôi gọi cho Doug Coe, anh cho biết phóng viên cũng điện thoại cho Harold và tòa nhà Fellowship nữa để lấy dữ kiện viết thành một câu chuyện. Anh căn dặn: “Chuck, hãy cẩn thận, đừng để mất bình tĩnh”.

Câu hỏi của Jerry Warreng khi nãy bây giờ làm tôi suy nghĩ nát óc, “Tại sao lại hôm nay? Dan Rather có thể hỏi câu hỏi ấy bất cứ lúc nào trong thời gian chín tháng qua. Những thời gian trước một tuyên bố quan trọng của Tổng Thống chẳn hạn, hay là dịp “Cuộc Thảm Sát Ðên Thứ Bảy”, hay lúc Ủy Ban Ðiều Tra Ervin hoạt động ráo riết là những lúc mà sự đi của tôi mới đáng nghi ngờ chứ. Nhưng họ đã không. Tại sao lại nghi ngờ hôm nay?

Khó có thể là sự tình cờ may rủi? Tôi biết Chúa làm việc bằng những cách hết sức là bí mật, khó hiểu – Tuy thật khó cho tôi biết được ý Ngài có thể được thể hiện qua những bài viết của ký giả châm biếm việc tôi theo Chúa Giê-xu. Những ý nghĩ nầy cứ theo đuổi tôi. Tại sao Warreng không lờ câu hỏi của Rather, chỉ trả lời là tôi không gặp Nixon? Hay là anh không rõ? Nhưng tại sao lại đề cập đến buổi điểm tâm cầu nguyện? Warreng bình thường đâu làm vậy.

Thế nhưng làm sao đây có thể là việc làm của Chúa được? Sự chú ý của báo chí là điều chúng tôi chẳng muốn chút nào. Luật sự của tôi tin rằng càng ít bị để ý càng tốt. Bây giờ, những kẻ châm biếm tha hồ làm trò cười, thiên hạ và nhất là những bạn cũ của tôi sẽ cười thầm nhạo báng tôi nhiều. Cuối cùng, nếu tôi chứng thực những câu chuyện ấy, tôi sẽ bị khóa hoàn toàn vào một đời sống mới, không thể nào trở nếp sống cũ của tôi được nữa.

Bỗng nhiên, tôi chợt nhớ đến cách Tom Phillips tuyên bố đức tin của anh cho tôi. Anh đã không ngượng ngùng, và cũng chính sự mạnh bạo đó đã thay đổi đời tôi. Lời Kinh Thánh dạy trong sáng và rõ ràng như những tia nắng đang xuyên qua khe cửa sổ. Phaolô viết cho Timôthê như sau: “”Vậy có chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta”, (II Timôthê 1:8). Chúng tôi cũng có thảo luận về đề tài nầy vào một buổi sáng thứ hai cách đây không lâu. Không chứng thực câu chuyện có nghĩa là hầu như từ chối không thừa nhận những gì đang thật sự xảy đến cho đời tôi. Tôi kết luận, không còn cách nào khác, tôi không thể thay đổi, hay bóp méo câu chuyện, cũng không thể biến câu chuyện êm tai cho người đời được.

Và tôi đã quyết định. Nếu câu hỏi của Rather là kết quả của một sự ngẫu nhiên ngàn lần có một, thì không nói làm gì. Nhưng nếu đó là sự can thiệp của Chúa, tôi phải đóng vai trò của tôi cho trọn vẹn. Vì thế tôi điện thoại cho những phóng viên mà Holly đã ghi tên xuống và cố gắng hết sức giải thích về niềm tin mới của mình. Ngay cả khi nghe những lời từ chính miệng tôi được ghi lại bằng máy đánh chữ bên kia đường dây điện thoại, tôi thấy nó không tưởng kinh khủng: “Nhận Christ. . . Chúa Giê-xu Christ vào đòi tôi”. Không biết những lời nầy in thành những chữ lớn bằng mực đen của nhà in nó sẽ ghê rợn ra sao?! Lời yêu cầu, “Xin ông lập lại – lần nầy chậm hơn một chút nữa”, thỉnh thoảng được lập lại càng làm tôi sợ thêm.

Báo Los Angeles Times đăng tít lớn “NGƯỜI CHAI LÌ” COLSON ÐÃ THEO TIẾNG GỌI CỦA TÔN GIÁO báo New York Times đăng bài COLSON ÐÃ “TÌM THẤY TÔN GIÁO”. Tuần báo Times trong số ra tuần kế đó (17/12/1973) tóm tắt các bài báo dưới nhan đề “Theo Ðạo”:

Trong hết thảy những diễn viên của Watergate, ít ai có tiếng là chai lì, mưu chước, độc địa và trung thành tuyệt đối với Richard Nixon bằng Cựu Phụ Tá Tổng Thống Chatles W. Colson. Viên cựu Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến nầybị Jeb Stuart Magruder tố cáo rằng đã thúc đẩy vụ xâm nhập và tòa nhà Watergate và dính líu và nhiều thủ đoạn dơ bẩn, kể cả việc giả mạo một diễn văn của Bộ Ngoại Giao. Khi còn ở tuyệt đỉnh của danh vọng, ông đã hãnh diện tuyên bố lòng quyết tâm của mình trong sự vận động tái cử Tổng Thống như sau ‘Tôi sẵn sàng bước qua xác bà nội tiô nếu cần’.

Tại một buổi điểm tâm cầu nguyện dành riêng cho nhân viên Tòa Bạch Ốc hôm tuần qua, Colson 42 tuổi, hé mở một con người mới. Ông nói rằng ông đã ‘biết đến Chúa Giê-xu Christ. . . ’ Như sợ đức tin mới của mình có thể khó tin đối với một số người, Người Chai Lì Colson có sẵn một câu nói thẳng thắn dành cho những người thích moi móc, bêu xấu. Ông nói: ‘Nếu có ai muốn châm biếm về chuyện đó, tôi sẽ cầu nguyện cho người ấy’.

Tôi tiếc về câu nói “Tôi sẽ chắc cầu nguyện cho người ấy” được phổ biến rộng rãi. Tôi không phải có ý nói như để biện minh, hay để nói cho người nghe buộc phải chấp nhận bởi câu nói nầy, thật tiêu biểu cho con người cũ cố chấp, cứng đầu của tôi. Chẳng qua nó chỉ là câu trả lời thoáng qua đầu khi bị hỏi tôi sẽ ăn nói sao với những người nghi ngờ sự chân thành đó của tôi mà thôi.

Báo Boston Glode trong bài xã luận chính với tựa đề “Anh em ơi, Amen” kể lại mọi việc xấu của tôi thật cũng như tưởng tượng rồi kết luận: “Nếu ông Colson có thể ăn năn tội thì chắc chắn cả nhân loại có hi vọng rồi”.

Bình luận gia với bút hiệu Harrictb Van Horne còn thẳng hơn: “Tôi không thể tin và chấp nhận việc đến với Chúa quá đột ngột của Charles Colson. Nếu ông không ngượng ngùng bởi sự sùng đạo quá lố và đột ngột nầy, Chúa chắc chắn sẽ ngượng ngùng”.

Colman McCarthy, trước đây là một linh mục Công Giáo La Mã, hiện là triết gia kiêm ký giả theo trường phái tự do, đã so sánh việc tôi tin Chúa Giê-xu như việc tuyên bố đức tin của Rennie Davis nói Ðức Guru Maharaj Ji Ấn Ðộ. McCarthy khó chịu trước việc tôi sẵn lòng nói cho nhiều người biết về đức tin của mình, ông nói: “trong lịch sử của những người trở thành tín đồ thật sự. . . những người nầy luôn luôn giữ yên lặng trong thời gian đầu tiên”. Những bài báo như thế tiếp tục xuất hiện hàng tuần lễ sau đó.

Tôi lo ngại không biết có gì là tự mãn và tự cho mình là đúng khi nói “Tôi đã thành tín đồ?” có ai có thể chắc rằng mình thật sự như thế không? Chắc chắn là tôi đã tin nhận và tin một vài chân lý một cách mãnh liệt. Nhưng tôi chưa đổi mới. Tôi chỉ có thể nói thành thật rằng tôi đang tìm kiếm, tra cứu, cố gắng, học hỏi, thấy mình yếu đuối, hồi sức lại để tiếp tục cố gắng – trong tất cả những hành động đó lúc nào cũng cố đạt đến một sự liên hệ với Chúa Giê-xu. Có thay đổi là thay đổi trong tâm linh tôi, trong cái nhìn của đời tôi, trong trí tuệ của tôi. Làm sao những người nghe tôi kể có thể tin được, cũng như tin rằng việc trở thành tín đồ của tôi là một việc làm vĩnh viễn. Họ có quyền nghi ngờ, “Hãy cho ông ấy thể hiện qua hành động chứ không phải lời nói” cơ mà.

Tôi cũng phám phá thêm chữ trở thành tín đồ thường bị hiểu lầm bởi nhiều người. Câu chuyện của thánh Phaolô trên đường Ða Mách là câu chuyện được biết đến nhiều nhất trong lịch sử, cũng như sách vở viết về một người trở thành tín đồ cũng sống động không kém. Thế nhưng tôi chắc rằng hầu hết câu chuyện trở thành tín đồ của mọi người thường giản dị, không lâm ly, hấp dẫn như một vỡ kịch, và chỉ là một câu chuyện thường tình như những tin đăng báo.

Tôi cũng bị dằn vặt bởi quan niệm thường tình của con người rằng muốn trở thành tín đồ người ta phải được đưa đầy bằng một quá khứ đầy những gớm ghiếc và tội lỗi, lương tâm con người phải bị đè nén nặng nề bởi tội lỗi, tội ác của con người nhiều đến độ quá tuyệt vọng buông xuôi để rơi vào sự nhận đạo của Ðức Chúa Trời.

Sau khi những câu chuyện nầy được đăng dồn dập trên báo một thời gian khá lâu, nhiều người, trong đó có những công tố viên, ngỡ là tôi sắp tự nguyện bước tới thú hết mọi tội lỗi đè nén nhất về vụ Watergate.

Trong một phiên họp tại văn phòng của Jaworski vào cuối tháng mười hai với sự tham dự của Merrill cùng nhiều phụ tá trẻ của ông, vấn đề tin Chúa Giê-xu của tôi được đề cập đến.

Merrill nói, “Chúng tôi đã đọc qua những gì ông đã trải qua. Chúng tôi tin là ông thành thật và tin rằng bây giờ ông muốn bước tới nói hết mọi sự thật cho chúng tôi biết”.

Merrill ngồi đối diện tôi tại chiếc bàn lớn trong phòng làm việc của Jaworski. Vừa nói ông vừa cúi nhìn xuống như không muốn nhìn thấy tôi ngượng ngùng khi tôi khai sự thật. Tôi nhìn qua tay trái phía Leon Jaworski, khuôn mặt tròn của ông điểm một nụ cười khó hiểu.

Cố nhiên là tôi biết họ muốn gì. Ðối với họ, nếu việc tin Chúa Giê-xu là thật, tôi phải tỏ ra bằng cách nói rằng từ hồi nào đến giờ tôi có nhiều tội trong vụ Watergate. Khổ nỗi là tôi đã nói thật với họ từ ban đầu và tôi chẳng có tội tình gì cả. Họ không tin và hi vọng rằng có lẽ Ðức Chúa Trời nay chung sức với lực lượng Công Tố Viên Ðặc Biệt để tra khảo tôi. Họ cũng có nói hoặc cho tôi cảm tưởng rằng tôi chỉ có thể chứng minh sự thật của tôi trong vấn đề tin Chúa Giê-xu bằng cách nhận những tội mà trước đây tôi không khai ra.

Tôi trả lời Merrill với đầy giận dữ trong lòng, “Tôi không muốn quảng cáo về việc tôi tin Chúa và cũng không có ý lợi dụng chuyện ấy, nên tôi không muốn người khác lợi dụng nó để hại tôi”. Merrill thay đổi đề tài ngay, nhưng tôi biết ngay những sự đăng báo, loan tin về việc tôi tin Chúa đã làm giảm thêm uy tín vốn đã ít của tôi đối với những công tố viên nầy.

Những phản ứng khác cũng không kém phần sôi nổi. Má tôi giận dữ nói với người hàng xóm “Ba nó và tôi nuôi nó từ nhỏ đến lớn theo nếp sống Tin Lành. Nó làm phép báp tem và được nhận là tín đồ của một Hội Thánh theo phái Episcopal. Chúng tôi dạy cho nó mọi nguyên tắc về Tin Lành, thế mà bây giờ nó nói nó mới trở thành tín đồ Tin Lành!”

Tôi cố gắng giải thích cho má tôi rằng mặc dù ông bà hết lòng cố gắng dạy dỗ tôi, nhưng tôi không hấp thụ gì cả. Vì thế đó là lỗi của tôi, chứ không phải lỗi của ông bà.

Trong một bức thư cho người bạn, một người bà con của tôi cho rằng áp lực Watergate quá nặng. Bà viết, “Tôi e là thằng Chuck đáng thương đã chịu đựng hết nỗi vì quá mức rồi. Mấy cái thứ sùng đạo tạp nhạp nầy thường là dấu hiệu của khủng hoảng tin thần”.

Nhưng có lẽ phản ứng mạnh nhất là từ Wendell (con trai đầu lòng của Colson), lúc ấy đang học năm thứ hai tại đại học ở Princeton. Nó kể lại, một hôm đang yên lặng học hành trong phòng, một nữ sinh viên cùng đại học xá hoạt động rất hăng hái trong công tác truyền giảng tại đại học đến gõ cửa ầm ĩ. Cô ta mừng rỡ nói: “Tôi vừa thấy ba anh trên truyền hình, bây giờ ông ấy ở phía chúng tôi rồi, ông đã tin nhận Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa của đời ông!”

Ðối với Wendell, việc nầy giống như giọt nước cuối cùng nhỏ vào ly nước đầy. Từ lâu nay, một sinh viên mười chín tuổi như nó phải khổ sở chiến đấu tạo chỗ đứng trong trường khi người cha mình hằng ngày bị tố cáo hết tội nầy đến tội khác. Tuy nhiên, nó không chuẩn bị tinh thần trước cho chuyện nầy. Nó vỗ mạnh tay vào trán, thở dài than vãn: “Thôi chết rồi, ba tôi lại như mấy người khùng theo Giê-xu kia!”

Còn Dave Shapiro thì khỏi nói. Sáng hôm báo bắt đầu đăng những tin tôi theo Chúa Giê-xu, anh đi sòng sọc và phòng tôi: “Colson, lần nầy là hết rồi đó, hết thiệt rồi, tại anh hết. Hy vọng người đó (tôi đoán anh nói đến Chúa Giê-xu) có thể cứu anh chứ tôi thì chịu”.

Tôi ôn tồn “Dave, từ từ đừng nóng nảy. Tôi không ngăn cản chuyện nầy được. Mấy chuyện nầy trước sau gì cũng bị họ khui ra mà”.

Anh la lớn, tay giận dữ đấm vào mặt bàn của tôi, “Anh bảo tôi đừng nóng nảy sao được. Tưởng là vụ Ellsberg coi như êm, tưởng là báo chí không nhắc đến anh nữa, cũng cả tháng rồi, ngờ đâu bây giờ xảy ra vụ nầy. Việc nầy ai cũng có thể nghĩ là trò bẩn thỉu vĩ đại nhất của Colson, tấn kịch cuối cùng nhằm lấy lòng thương hại. Mà không chừng thật như vậy. Ðối với tôi bây giờ hả, họ chỉ còn có cách tuyên án anh là xong chuyện”. Vừa thốt lời, Dave giận dữ bước ra khỏi phòng đi ngang qua Holly đang sợ hãi nhét những ngón tay bịt tai lại.

Những bạn cũ của tôi cũng cảm thấy khó hiểu tôi trong việc nầy. Brad Morse, Phó Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, tưởng là biết tôi rõ lắm cho đến một hôm nọ, Jonathan Moore, phụ tá của tôi ở Saltonstall và phụ rễ cho tôi khi Patty và tôi làm đám cưới, đến thăm. Brad nhìn trừng vào Jonathan “Mấy chuyện Giê-xu với Colson nầy chú mầy nghĩ sao, hả? Trong đời tôi chỉ bị gạt có hai lần, lần nào cũng bởi mấy ông Tin Lành nầy cả. Chú mầy nghĩ Chuck có bình thường không?”

Một sinh viên luật khoa Ðai Học Harvard có tính tình hết sức nghiêm trang trước đây có lần làm việc tập sự cho tôi tại Tòa Bạch Ốc đã nói hết sức thẳng thừng rằng “Một số trong chúng ta biết, ngưỡng mộ và kính trọng con người ‘trước đây’ của Colson. Còn những câu chuyện theo Chúa nầy, thêm vào đó là sự tự phụ về tín ngưỡng, thật tình mà nói tôi tẩy chay hoàn toàn”. Người thanh niên coi đó như lời chối bỏ quá khứ của tôi, mà anh ta biết mình là một phần trong đó.

Frank Fitzsimmons, Chủ Tịch Nghiệp Ðoàn Teamster, một tín đồ Công Giáo La Mã sùng đạo đã phẫn nộ. “Ðối với mấy thằng báo chí đó, không có gì là cao quý, thiêng liêng cả. Chúng dám viết về vấn đề tín ngưỡng của một người. Ðây là điều dơ bẩn nhất, thấp hèn nhất”.

Cũng có một vài bài báo có cảm tình về việc nầy. Bill Greider, một phóng viên của Washington Post cho lên trang nhất bài báo chính ghi lại chi tiết mọi sự việc sau lưng việc tôi trở thành tín đồ, sự liên hệ giữa Harold Hughes và tôi và nhóm cầu nguyện mỗi sáng thứ hai. Cách làm việc của Chúa bí mật, khó hiểu thật: chính kẻ thù kinh khủng của tôi ở báo Post lại là người đầu tiên viết một bài báo thật tâm tìm hiểu vấn đề. Greide viết, “sự tỉnh thức về tâm linh của Colson có thể không giải quyết được những khó khăn của ông đối với Ủy Ban Ðiều Tra về Watergate, nhưng đã làm hài lòng nhóm người thường cầu nguyện chung với ông tại nhà của Harold Hughes”. Bài báo đầy thông cảm trên tờ Post nầy, cùng với câu chuyện đầy quan tâm viết bởi một phóng viên tín đồ Tin Lành trẻ của UPI, đã được đăng tải trên hàng trăm tờ báo xuất bản trên toàn quốc.

Ðêm thứ hai ngày 17/12/1973, Eric Sevareid dành trọn chương trình bình luận của ông trong giờ tin tức buổi tối của Ðài Truyền Hình CBS cho trận bão xảy ra ngày hôm ấy tại thành phố Washington – và việc Colson trở thành tín đồ. Ông cho rằng, một việc làm của Ðức Chúa Trời, trận bão tuyết sáng nay đã tiết kiệm năng lượng và làm sạch bầu không khí của thành phố Washington hơn cả mọi đạo luật bảo tồn môi sinh và Quốc Hội đang cố gắng soạn thảo. Ðối với việc Colson trở thành tín đồ, một việc làm khác thường của Ðức Chúa Trời, ông ta nói: “Ông Charles Colson trước đây từng là người chai lì nhất trong đám người chai lì tại Tòa Bạch Ốc và cũng là người đa số nghĩ rằng ông cần cầu nguyện cũng như một luật sư biện hộ giỏi, nay xuất hiện trên trang nhất với tin ông trỏ thành tín đồ Tin Lành. Ông không ăn năn trước những cáo trạng có tính cách pháp lý nhưng ông đã thú nhận tội lỗi ông quá lớn. Một Colson mới không tuyên bố là có thể bước đi trên mặt nước, nhưng đã ngừng bước trên xác bà nội của ông. Có nhiều người đang khát khao đi tìm một niềm tin sẵn sàng coi tấm lòng thay đổi tấm lòng thay đổi của Colson là sự thật. Nói cho cùng, chính biết bao kẻ chỉ trích, phê bình đã đòi hỏi sự thay lòng nầy vậy. Ông Colson đang ở trên con đường phải về nhiều phương diện. Một việc làm của Quốc Hội có chỗ đứng riêng của nó, nhưng chính việc làm giản dị của Ðức Chúa Trời lại mang lại kết quả”.

Bài bình luận của Sevareid được xem bởi ba mươi triệu người Mỹ, cùng với hai bài báo của Post và UPI đến với hàng triệu người nữa, là một lời làm chứng hùng hồn và mạnh mẽ cho Chúa. Tôi không bao giờ ngờ có những phản ứng hay những chuyện như vậy có thể xảy ra. Ðối với tôi, những chuyện nầy đến quá ngạc nhiên, quá lạ lùng.

Ngay sau đó, nhiều gói thư từ lớn bắt đầu đổ về văn phòng tôi. Có bao thư ngoài để Ủy Ban Ðiều Tra Ervin, có thư đề Tòa Bạch Ốc, có thư chỉ về Washington, D. C. . . . có thư đề Watergate nhờ gởi lại. Lúc đầu tôi cố gắng trả lời từng thư nhưng sau đó đành bó tay vì quá nhiều. Thư đến từ mọi nơi trên toàn quốc, một số từ ngoại quốc, có thư xa từ tân Manila và Tân Ðề Li. Gần như thư nào cũng hứa sẽ cầu nguyện cho tôi, nói về sự vui mừng bởi có thêm một người đến với Chúa, đến với tình thương của Ngài. Có nhiều thư rủa sả thêm về trò chính trị của Nixon và tôi, nhưng sau đó vui nhậïn tôi như người anh em, hứa sẽ cầu nguyện cho tôi. Có nhiều thư cho biết đây là lần đầu tiên họ viết thư cho một nhân vật chính phủ. Mọi người đều ngợi khen Ðức Chúa Trời.

Tôi không bao giờ đếm có bao nhiêu thư, nhưng đống như chồng chất trên bàn giấy đã làm tôi phấn khởi mỗi đêm khi đọc lại. Một chiều nọ, ngay sau Giáng Sinh, tôi nhận được một lá thư đã ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài đến cái nhìn về những mục tiêu của tôi trong tương lai. Bức thư chỉ vỏn vẹn trong một trang giấy như thế nầy:

25/12/1973

Kinh thưa ông,

Có lẽ ông sẽ ngạc nhiên bởi bức thư nầy lắm. Sau khi đọc xong bài báo về ông trên tờ Charleston Evening Post, tôi có cảm tưởng rằng ông (trong quá khứ) là người khác thường. Tôi là một Trung Sĩ Không Quân. Ðã mười chín năm nay, tôi cố gắng tìm hiểu chính mình. Tôi đến nhà thờ nhiều lần nhưng họ (các vị Mục Sư) chẳng giúp được tôi hiểu chính mình. Sau khi đọc bài báo về ông, nó đã giúp được tôi nhiều hơn bất cứ điều gì khác trong suốt đời tôi. Sáng nay là Giáng Sinh. Thường thường giờ nầy tôi đã say hoặc sắp say, nhưng sáng nay tôi ở nhà xem các con mở quà của chúng và chuẩn bị đi nhà thờ, thay vì ở một quán rượu hay nhà một người bạn để nhậu nhẹt. Ngay cả rượu năm nay tôi cũng không mua một chai nữa. Chính những người địa vị như ông thú tội về quá khứ (có thể không đẹp lắm mà chỉ gồm những điều xấu) đã giúp những người như tôi nhiều. Giờ đây, tôi cảm thấy trong thoải mái nhiều và cầu xin Chúa giúp đỡ chúng ta trong mọi nổ lực.

Tôi sẽ đi tìm cuốn sách TIN LÀNH đó để đọc.

Xin Chúa ban phước cho ông.

Trung sĩ Nathaniel Green.

Tôi chẳng cần để ý có ai thấy mình đang ngồi trong phòng làm việc khóc tuôn trào khi đọc đi đọc lại bức thư của Trung Sĩ Green. Bức thư đã nói lên hết mọi sự. Trong suốt mười một năm của đời tôi, tôi cố gắng hết sức mình làm những điều cho chính phủ mà tôi tin sẽ gây hạnh phúc cho đồng bào. Nhưng trong suốt thời gian ấy, tôi không thể tìm ra được một người, hay một cuộc đời nhờ tôi mà hạn hạnh phúc hơn lên. Dù cố tưởng, tôi thấy không có gì sánh bằng nỗi sung sướng tràn ngập khi thấy một người đoàn tụ với gia đình trong ngày Giáng Sinh. Và cách đạt đến điều ấy là bởi báo chí, giới mà tôi thù oán, chống đối biết bao năm.

C. S Lewis đã viết, “cá nhân. . . quan trọng hơn. . . bởi đời sống cá nhân vĩnh cửu trong khi chế độ, quốc gia hay triều đại văn minh chỉ tồn tại có một khoảnh khắc so với sự vĩnh cửu ấy”.

Nếu một người bạn của tôi đến nói rằng, “Mọi người trong thành phố nầy đang cười vào mặt anh đấy”, tôi sẽ để mặc cho họ cười. Ngoài kia còn biết bao nhiêu Trung Sĩ Green, tôi thầm nghĩ khi nhìn ra khoảng tối bên ngoài của buổi chiều đang lịm nắng. Chỉ có một Chúa, hằng sống và đang làm việc bằng những cách người ta sẽ không bao giờ hiểu. Tôi cảm ơn Ngài, cảm ơn Ngài vì những câu hỏi hóc búa của ký giả Rather, cảm ơn Ngài vì Jerry Warreng lầm lỡ tiết lộ cho báo chí về buổi điểm tâm cầu nguyện và cũng cảm ơn Ngài về những bài báo bóp méo, đay nghiến.

“Holly ơi, cả câu chuyện ý nghĩa thật, đáng thật”, tôi nói với người thư ký khi đi ngang bàn giấy cô. Khuôn mặt người thư ký ngỡ ngàng, kinh ngạc. Tôi tiếp: “Ý nghĩa thật, đáng thật”.

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top