Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Lịch Sử » Tái Sinh – Phần 1

Tái Sinh – Phần 1

BornAgain_CWC

Vào Truyện

Sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo khổ, chật vật, Charles Colson luôn ôm một hoài bảo lớn.  Colson làm việc cần cù, nhẫn nại, với tinh thần ái quốc nồng cháy, với bầu nhiệt huyết của một thanh niên nhiều ước mơ dầu phải đối diện với những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

Sau khi hoàn tất Ðại Học Võ Bị, Colson gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến một thời gian ngắn rồi trở về với lực lượng dự bị làm việc cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Ban đêm, ông theo học luật tại Ðại Học George Washington. Tốt nghiệp, ông giúp việc cho một Thượng Nghị Sĩ thâm niên khoảng hơn ba năm rồi mở văn phòng luật sư với người bạn thân Charles Morin ở thành phố Washington và Boston.

Tuy là một luật sư nhưng Colson luôn bị lôi cuốn bởi chính trị và thương mại. Ông thúc đẩy Richard Nixon, lúc đó đang làm luật sư ở New York ra ứng cử Tổng Thống vào năm 1964 (sau khi bị thất cử năm 1960) nhưng tình hình không thuận lợi. Bốn năm sau, ông tích cực vận động cho Nixon. Năm 1969, sau khi đắc cử, Tổng Thống Nixon mời ông làm Phụ Tá Ðặc Biệt.

Colson làm việc với lòng nhiệt thành và kiên trì nên chưa đầy một năm đã trở thành Phụ Tá Cao Cấp nhất của Tổng Thống Nixon. Colson thường được giao những sứ mạng cam go, khó khăn; cần sử dụng nhiều thủ đoạn chính trị. Ông sẵn sàng qua mặt guồng máy hành chánh để công việc hoàn tất nhanh chóng và triệt hạ những đối thủ không nương tay. Ðối với Tổng Thống Nixon, ông là người giải quyết mọi khó khăn nội bộ, mọi “thanh lý chính trị.” Với báo chí, Colson là một nhân vật bí mật, nguy hiểm. Báo chí đã gán cho ông biệt danh “The Hatchet Man.”

Tình hình chính trị tại Hoa Kỳ vào thời Tổng Thống Nixon hết sức căng thẳng. Chiến tranh Việt Nam làm hao mòn năng lực của quốc gia cũng như của dân chúng Mỹ. Phong trào phản chiến lan tràn khắp nơi, hàng triệu sinh viên biểu tình chống chính quyền. Vụ cảnh sát bắn vào nhóm biểu tình tại Ðại Học Kent State gây chết người đã gây xúc động lớn và đưa đến nhiều sự công phẫn khắp thế giới. Báo chí toàn quốc trở thành thành phần lãnh đạo của phong trào này. Họ hướng dẫn, xoay chiều, tạo dư luận và tấn công chính quyền một cách vũ bão.

Những nỗ lực ngoại giao và quân sự của chính phủ Nixon không xoa dịu được dư luận và nhất là sự tấn công của báo chí. Nóng lòng muốn chiến tranh được giải quyết ngay, bất kể lợi hại, báo chí đã công kích chính quyền một cách thậm tệ và đại quy mô. Họ đăng tải những tài liệu mật gây trở ngại cho những cuộc thương thuyết đang tiếp diễn, những bài báo chỉ trích nặng nề về những cá nhân trong chính quyền, cũng như thổi phồng những xung đột nhỏ giữa những viên chức cao cấp. Trước những đợt công kích vũ bão này. Tòa Bạch Ốc cảm thấy bị vây, lui về thế thủ, nghi ngờ báo chí và bắt đầu đánh mất thái độ khách quan với báo chí. Phía báo chí thì tố cáo là chính quyền đang tìm cách tiêu diệt họ.

Mối liên hệ không mấy tốt đẹp giữa chính quyền và báo chí lên cao điểm khi tập tài liệu mật Ngũ Giác Ðài bị lộ và đăng trên nhiều tờ báo vào năm 1972. Một trong những người sau lưng vụ nầy là Daniel Ellsberg, người chỉ trong phút chốc trở thành anh hùng của phong trào phản chiến. Phong trào nầy được thổi lên cao, đến nổi Thượng Viện bị áp lực yêu cầu chính quyền rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam vô điều kiện. Căm phẫn trước những hành động khiêu khích vô trách nhiệm của báo chí, Tòa Bạch Ốc phản công sau một thời gian dài chịu đựng. Nixon ra lệnh cho Colson phải tìm cách ngăn chận những kẻ hở và triệt hạ Ellsberg bằng cách bêu xấu ông ta trên báo chí.

Colson mướn Howard Hunt, cựu nhân viên tình báo CIA và Gordon Liddy trước đây là cảnh sát liên bang chịu trách nhiệm chận đứng những kẽ hở nầy. Quá hăng say trong công việc và ức uất trước những sự tấn công trên, hai nhân viên nầy bắt đầu áp dụng “luật rừng.” Họ đột nhập vào một phòng mạch của bác sĩ phân tâm để tìm hồ sơ của Ellsberg vốn là một bệnh nhân trước đây. Trong hoàn cảnh đó, những thủ đoạn dơ bẩn được dịp nẩy nở và định mệnh phủ phàng bắt đầu phủ xuống Tòa Bạch Ốc.

Không may cho Nixon, một nhân viên của ông là Arthur Burns, Thống Ðốc Ngân Hàng Quốc Gia bất đồng công khai với ông. Ông nầy than phiền là Nixon không nỗ lực tìm cách chận đứng giá cả, cũng như lương bổng gia tăng khiến nền kinh tế không có cơ hội phục hồi. Như đã chịu đựng quá mức từ trước đến nay, Nixon lồng lộn lên và một lần nữa ra lệnh cho Colson tìm cách “hạ” Burns trên báo chí bằng một tin thất thiệt. Vụ nầy gây sôi nổi trên báo chí. Họ buộc Colson là thủ phạm và tấn công ông bằng cách cho đăng lại những mẩu chuyện và mánh lới hay thủ đoạn mà ngày xưa Colson sử dụng.

Colson trở thành nhân vật nổi tiếng. Nhiều tờ báo muốn phỏng vấn Colson nhưng bị ông từ chối. Ông không muốn báo chí đăng tải thêm sợ có hại cho việc chung. Tuy nhiên, càng tránh báo chí, người ta lại càng tò mò về ông. Báo chí xem Colson như là một nhân vật bí mật và nguy hiểm vô cùng.

Trong khi đó, Nixon tiếp tục đeo đuổi chiến lược ngoại giao mới của mình để chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Nixon đi Trung Cộng và Nga vào đầu năm để thỏa thuận về mối tương quan lực lượng mới cũng như gửi Kissinger đi mật đàm với Lê Ðức Thọ ở Paris về vấn đề Việt Nam. Dư luận bắt đầu thấy những cố gắng của chính phủ.

Cục diện xoay chiều. Dân chúng bắt đầu bỏ Ðảng Dân Chủ để chạy theo Ðảng Cộng Hòa khi Nixon ra ứng cử trở lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1972. Những chiến thắng ngoại giao của Nixon càng làm thế đứng của Ðảng Cộng Hòa lên cao, dư luận và báo chí bắt đầu lắng dịu. Nixon giao cho Colson điều khiển chương trình vận động tranh cử của ông, và dồn hết nỗ lực vào vấn đề Việt Nam cố đạt thỏa thuận với phía Bắc Việt để đi đến việc ký kết một hòa ước.

Giữa những biến cố nầy, báo chí khoảng tháng 6 năm 1972 đăng một mẩu tin nhỏ về vụ đột nhập vào văn phòng của Ðảng Dân chủ tại tòa nhà Watergate. Trong ví của một tên cướp bị bắt lại, người ta tìm thấy một văn kiện mang tên Hunt. Ngay hai hôm sau đó, báo chí lôi Hunt và Colson vào tròng, cho rằng Colson là người đứng sau lưng xúi giục và che chở cho Hunt.

Thật ra, Colson không hay biết và dính líu đến vụ nầy. Tuy nhiên việc nầy gây sôi nổi một vài hôm rồi lắng dịu. Ai cũng cho rằng đây là một bóng mờ, một biến cố không quan trọng. Người ta đang để ý đến tình tình hình thế giới đang thay đổi mau chóng qua những nỗ lực ngoại giao thành công của Nixon. Dù vậy, báo chí được dịp “kể tội” Colson và những ký giả có cơ hội đào sâu vào những việc làm của Colson trong quá khứ.

Trong cuộc bầu cử vào đầu tháng 11 năm 1972, Nixon tái đắc cử vẻ vang. Sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam nay chỉ là vấn đề thời gian, nhưng những giây phút cuối cùng đã làm sức khỏe của Nixon kiệt quệ. Ông mất ngủ, già hẳn đi và như bị thu hút hết sức lực vào những trận chiến thương thuyết dai dẳng và bực dọc với Cộng Sản. Chiến tranh Việt Nam đã làm Nixon không còn sức kháng cự cho biến cố Watergate nữa. Hiệp định Ba Lê được ký kết vào khoảng cuối tháng 1 năm 1973, theo đó Mỹ rút ra khỏi Việt Nam để lại miền Nam tự túc chống Cộng Sản. Ðối với dân Mỹ, đây không phải là một chiến thắng vẻ vang nhưng nó đánh dấu cho sự chấm dứt một thời kỳ hỗn loạn, lung lay mọi cơ cấu của của quốc gia. Ðối với Nixon, ông đã làm được một điều phi thường là chấm dứt chiến tranh trong danh dự.

Báo chí ngưng đả kích chính quyền Nixon nhưng vết thương vẫn còn đó, Nixon rút lui và ít xuất hiện trước công chúng sau một thời gian dài chịu đựng. Nhưng báo chí vẫn tiếp tục tố cáo Colson về vụ Watergate qua những cáo trạng không bằng chứng.

Quá mệt mỏi và chán nản trong chức vụ, Colson xin từ chức ngay khi bắt đầu nhiệm kỳ mới. Nixon cố giữ ông lại nhưng ông chỉ tại chức thêm sáu tháng để sắp đặt công việc cho nhân viên mới rồi xin từ nhiệm.

Colson trở về hành nghề luật sư với người bạn cũ của mình là Charles Morin, Dave Shapiro và một số anh em khác. Ông ngỡ rằng viễn tượng giàu có trước mắt và chức vụ luật sư bận rộn của ông sẽ mang lại ý nghĩa và hương vị cho đời sống mà ông đã đánh mất, nhưng …

(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top