Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 5.b

Tái Sanh – Chương 5.b

BornAgain_CWC

Giữa lúc bối rối, Harold Hughes cho tôi hay vào một sáng thứ hai nọ rằng Mike Wallace (phóng viên điều khiển một chương trình phóng sự nổi tiếng của đài CBS) đã thỏa điều kiện anh đưa ra trước khi chúng tôi đồng ý xuất hiện trên chương trình “Sixty Minutes” của anh ta. (Ðiều kiện đó là Mike Wallace cần gặp Harold nhiều lần trước cuộc phỏng vấn để anh ta có thể hiểu thêm thông công là gì). Doug mừng rỡ trước cơ hội làm chứng cho hàng triệu khán giả truyền hình. Tôi thì không chắc lắm vì bởi nay tôi nghi ngờ về khả năng ăn nói và lấy cảm tình người khác của tôi. Cuộc phỏng vấn được dự vào ngày 16/5/1974 tại nhà của Harold Hughes.

Khí hậu ngày hôm ấy thật khó chịu: nóng và ẩm. Khi tôi đến nhà của Harold, những xe vận tải chở máy quay phim của hãng CBS đã đến tự bao giờ. Dây điện nằm rải rác trên sân, đèn rọi và những hộp dụng cụ lớn nằm chất cả đường đi, hàng xóm hiếu kỳ bu quanh nhìn. Harold trong bộ âu phục carô “hiền nhất” theo lối ăn mặc độc đáo của anh, khuôn mặt đầy mồ hôi nhễ nhại. Eva chạy lên, chạy xuống thang lầu, mang những mâm dùng cà phê và nước ngọt. Mike Wallace thường trông “dữ tợn” trên TV, nay có vẻ dịu dàng một cách lạ lùng khi đến tự giới thiệu anh với tôi.

“Những gì mà các ông đã và đang làm thật là tốt, tốt lắm” anh ta nói với nụ cười thân thuộc. Tôi đoán chắc Harold đã “thuần” được anh nầy nhiều.

Harold và tôi vào phòng khách cầu nguyện Chúa xin Ngài điều khiển cuộc phỏng vấn. Vào xuống tầng hầm nơi phỏng vấn, chúng tôi để ý thấy bà giám đốc sản xuất Marion Goldin và những chuyên viên của CBS đã biến tầng hầm thành một phim trường tạm. Harol ngồi trên ghế đu ưa thích của anh, còn tôi ở ghế sa lông dưới những ánh đèn sáng gay gắt.

Marion nói, “OK, Mike, máy quay bắt đầu”. Những lời nói đối với Mike như tiếng chuông báo hiệu trận chiến sắp đến. Anh ta uốn lưỡi, đôi mắt nhìn sâu như cú vọ. Con người dễ tính, ăn nói nhỏ nhẹ mà chúng tôi quá quen thuộc trong mấy ngày qua giờ bỗng trở thành con hổ dữ sẵn sàng tấn công.

“Hai mươi triệu người sẽ xem chương trình này”, Mike cho chúng tôi hay trước đó. Tôi nghĩ thầm, tốt lắm. Tôi không run sợ bởi đã xuất hiện trên truyền hình nhiều lần trong quá khứ. Mấy ánh đèn nóng quá! Dưới ánh sáng trắng chói lòa, tôi có thể thấy những giọt mồ hôi nhễ nhại qua môi tôi tựa như những tinh thể lấp lánh trên bãi cát.

Mike bắt đầu tấn công, nhấn mạnh từng chữ một: “Thượng Nghĩ Sĩ Hughes, đây là người ghép ông vào danh sách “địch thủ” của Tòa Bạch Ốc, thế mà nay các ông ngồi lại với nhau. . . ”

Harold nhường câu hỏi cho tôi. Tôi giải thích rằng tôi không soạn danh sách “địch thủ” đó, tuy nhiên việc ai soạn không thành vấn đề. Chúa Giê-xu đã hàn gắn mọi rạn nứt qua quyền năng bao la của Ngài. Thế là việc làm chứng của chúng tôi thắng 1-0.

Wallace làm tới: “Thế ông có là gì ngoài chuyện cầu nguyện? Ông có là một chứng nhân thật sự ai cũng hiểu và biết đến? Ông có cố gắng đền bù lại những ai ông đã làm tổn thương không?”

Tôi trả lời ngập ngừng: “Có, trong lòng tôi”.

“Nhưng ông có cố gắng đền bù?. . . . Ông có xin lỗi không?”

“Có hai trường hợp. . . ”

Mike dồn dập, “Với ai?”

Chưa kịp trả lời, Mike đã kể hết tội của tôi: vụ bêu xấu Burns, vụ uy hiếp đài truyền hình CBS trước Tổng Nha Thông Tin Liên Bang, vụ tấn công Jack Anderson công khai. Mike ngả người vào ghế, đoạn nói cách châm biếm “Một tín đồ mới, ngoài việc nói chuyện với Ðức Chúa Trời, bộ người ấy không ăn năn, thú tội trước những việc làm như vậy à?”

Mike Wallace thắng biết bao nhiêu điểm qua giọng nói sắc bén và độc địa của anh ta. Câu trả lời của tôi rằng Chúa Giê-xu tha thứ cho mọi người chúng ta bởi ai cũng là kẻ có tội có vẻ yếu ớt quá. Phần cuối cùng sắc bén như lưỡi dao tử thần.

Wallace: hãy bàn qua những cuộn băng thâu của Tòa Bạch Ốc. Những cuộc băng này có chứng tỏ một tiêu chuẩn đạo đức tại Văn Phòng Bầu Dục không?

Hughes: Dĩ nhiên là không, đó không phải là tiêu chuẩn mà tôi muốn.

Wallace: Thế còn đối với ông thì sao, thưa ông Colson?

Colson: Tôi sẽ không cho ông biết quan điểm của tôi về những cuộn băng này, bởi tôi không tin là ta có thể. . .

Wallace: Khoan đã. . .

Colson: Mike, tôi đã họp nhiều lần tại Văn Phòng Bầu Dục, nhưng tôi không biết là có hệ thống thâu băng ở đó. Tôi nghĩ rằng. . .

Wallace: Ðiều đó có đạo đức không?

Colson:Ttôi sẽ không phán đoán về đạo đức chuyện nầy. . .

Wallace: Khoan đã. Nếu vậy xin ông giải thích cho tôi hiểu về Tin Lành mới của ông. Ông nói ông là một người mới trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tôi thấy niềm tin của ông trước đây có vẻ quan trọng hơn niềm tin mới của ông nhiều.

Mike ngã người vào ghế cười thỏa mãn. Anh ta càng thắng thêm nhiều điểm nữa.

Hughes: Mike, anh đã dồn một gánh nặng trên vai người mới trong Chúa Giê-xu – chúng tôi gọi là một em bé trong Chúa Giê-xu – và quả thật như vậy, chỉ là một em bé không hơn không kém, chưa trưởng thành đủø, chưa hiểu biết đủ. Tôi cho rằng thâu băng như thế là vô đạo đức. Tôi cho rằng dùng những từ ngữ như thế trong băng là vô đạo đức, dù là ở trong phòng kín. Và tôi cũng có thể nói rằng tôi cũng phạm những tội tương tự trong sự nghiệp chính trị của tôi.

Colson: Tôi không nghĩ rằng khi ta nhận Chúa Giê-xu vào đời mình hay khi ta quyết định sống theo sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu , là ta phải phán đoán người khác. Thật ra, Chúa Giê-xu dạy chúng ta không được làm thế. Chỉ có Ðức Chúa Trời mới là Quan Tòa của chúng ta.

Wallace: Nói thiệt với quý ông, tôi thật tình mù tịt và hoang mang trước ý nghĩa niềm tin của quý ông.

Thế là quá đủ. Tôi bối rối trước câu hỏi về những cuộn băng Tòa Bạch Ốc nên đã bị dồn vào chân tường. Thât ra tôi muốn nói: “Những cuộn băng ấy à, chúng hèn hạ, thối tha, và tôi là phần tử trong muôn vàn mẩu đối thoại như thế”. Nhưng tôi đã không, bởi tôi sẽ phải đợi đến phiên tòa vì những tế nhị về mặt luật pháp.

Tôi chẳng buồn chống đỡ thêm khi Mike kết thúc cuộc phỏng vấn. Thực tế phũ phàng hiện rõ trước mắt tôi dưới ánh đèn sáng lòa: Tôi không thể vừa là một bị cáo về hình tội có biện minh và một tín đồ của Chúa Giê-xu. Sự dày xéo giữa hai thế giới lại đến với tôi một lần nữa, lần nầy ngay trên hệ thống truyền hình toàn quốc.

Sáng thứ ba hôm sau, tôi đến hầu tòa do Thẩm Phán Gerhard Gesell làm chánh án để bàn cãi một vài điểm quan trọng trước khi có phiên tòa chính thức về vụ của Ellsberg. Vấn đề căn bản là yếu tố an ninh quốc gia có được coi là một phương thức bào chữa cho việc đột nhập vào Watergate?

Dave Shapiro đứng trước mặt viên chánh án đầu cuối lên cuối xuống như nhấn mạnh những điểm chính, giọng anh lớn dần vang khắp phòng. Có lúc khuôn mặt viên chánh án trông có vẻ hiền từ bao dung như cha tôi. Có lúc đôi mắt quắc và nghiêm trang của ông như đâm thủng tim của những ai đứng trước mặt ông.

Ðột nhiên, Gesell ngắt ngang, “Ngoài những lý do trực tiếp, mục đích của vụ án này là để gây chú ý đến sự việc nên có một chính quyền theo luật pháp, chứ không phải một chính quyền theo con người. Mục đích giản dị chỉ có thế”. Ðoạn vị chánh án mái tóc bạc chảy gọn gàng trông giống như mái tóc giả mà những vị chánh án ở Anh thường mang – giảng cho Shpiro và những luật sư về về những điểm căn bản của hiến pháp.

Tôi nhớ lại bài học Công Dân lúc còn đi học. Ðó là những nguyên tắc bất di bất dịch của chính phủ Hoa Kỳ, một thành trì chống lại những hà khắc, tàn ác do con người gây nên. Khi mà những quyền hiến định của người dân bị đe dọa và chà đạp, ngay đến lý do chính phủ dùng từ lâu là an ninh quốc gia cũng không thể chấp nhận được. Tôi không biết Gesell có phải là người có niềm tin tôn giáo không, nhưng khi ông nói, những lời của Lewis rằng con người quan trọng hơn quốc gia như vang mãi trong đầu tôi. Lewis và Gesell nói cùng một ý nghĩ. Nếu tôi không biết vụ đột nhập trước khi xảy ra, điều đó có nghĩa gì? Nếu tôi có thể chứng minh như thế về mặt luật pháp, tôi sẽ được trắng án, nhưng đó có phải là vấn đề thật sự không? Khi tôi vừa hay tin đột nhập vào văn phòng của viên bác sĩ, tôi cho việc nầy đúng cơ mà – bất cứ điều gì để càn Ellsberg lại là đúng cả. Thế thì tại sao tôi lại xét tội của tôi dựa trên thời điểm tôi biết vụ đột nhập? Biết trước hay biết sau lương tâm của tôi cũng có tội cả. Những khúc mắc về luật pháp thường vô lý khi xét trên phương diện đạo đức.

Tôi biết Chúa Giê-xu nói chuyện với tôi ngay lúc đó. Tối hôm ấy về nhà tôi cảm thấy chán chường, buồn bã chưa từng thấy. Thẩm Phán Gesell chưa quyết định về đề nghị vấn đề quanh an ninh quốc gia, ông sẽ thi hành việc đó vào cuối tuần, nhưng bây giờ không thành vấn đề nữa. không có gì ông ta quyết định có thể thay đổi sự tự xử của tôi. Tôi đã quá tự mãn trong những năm làm việc tại Tòa Bạch Ốc. Những gì xảy ra chung quanh tôi không cần phải quan tâm miễn sao tôi giữ chính mình sạch, chẳng qua tôi chỉ như một con khỉ “không thấy điều ác, không nghe điều ác, không nói điều ác” vậy. Nếu tôi không dính líu vào vụ đột nhập, đó chỉ là sự ngẫu nhiên. Tôi bêu xấu Ellberg như đã từng làm trong quá khứ mà báo chí đang chỉ trích cũng như CIA đã tiết lộ.

Nếu tôi cậy vào Tòa Bạch Ốc để bào chữa cho những hành động của mình, chắc không ai được an toàn cả. Dĩ nhiên, là tôi không thành công trong việc bào chữa này, và tôi cũng không bị buộc tội mạ lỵ cá nhân, nhưng nó có khác gì với tội đột nhập mà tôi đang bị tố cáo? Không chút nào, tôi kết luận. Nó còn tệ hơn nữa là đàng khác: thiệt hại đến tinh thần của một người so với thiệt hại đến tài sản.

Câu hỏi của ba tôi trên giường bệnh, lời nói của Thẩm Phán Gesell về hiến pháp, thái độ của tôi lúc còn ở Tòa Bạch Ốc “mọi việc thực hiện bằng mọi mưu chước suýt phạm pháp”, những câu hỏi của Mike Wallace và sự nhận biết về đời sống theo Chúa Giê-xu không toàn vẹn của tôi đang trì kéo như những dây xích lớn, nặng nề. Tôi vùng vẫy, có bẻ vặn chúng nhưng không sao thoát được. Tôi buồn nói chuyện với Patty không nổi.

“Cái gì đang nghiến anh vậy hả, Chuck?” nàng hỏi với nỗi khó chịu chứa đựng trong giọng nói, khi tôi đang ngồi trên ghế nhìn thờ ơ vào hồ nước xanh trước mặt.

“Anh chỉ mệt mà em”, tôi trả lời, nhưng tôi biết lý do thật sự còn hơn thế nữa. Tôi biết mình cần phải hoàn toàn thoát khỏi mọi lôi kéo của quá khứ.

Nể tình Doug tôi đồng ý nói chuyện cho buổi điểm tâm cầu nguyện hàng năm tại một cộng đồng nhỏ tại vùng Owosso, ngay trung tâm tiểu bang Michigan. Lúc nầy là lúc tôi kẹt hết sức – Thứ Năm 23/5/1974. Nhiều lý luận đang chống lại đề nghị dùng lý do an ninh quốc gia để bào chữa cho hành động đột nhập. Chưa đầy bốn tuần nữa tòa sẽ nhóm, mọi giây phút bây giờ đều rất quí giá. Những luật sư và tôi chỉ có thể chuẩn bị kịp bằng cách làm việc ngày đêm, kể cả cuối tuần.

Nhưng bởi lỡ hứa nên sáng thứ năm hôm đó tôi phải có mặt tại thính đường của Hội Thánh Nữ Tin Lành (Y.W.C.A.) ở Owosso. Tòa nhà tọa lạc trên một con đường vắng vẻ, nhiều cây nằm ngay trên đồi cách trung tâm thành phố không xa. Dân chúng miền Trung Tây nầy dậy sớm để đến ngồi vai sát vai ở những chiếc bàn ăn dài với những khuôn mặt thân thiện, cởi mở. Thành phần gồm những học sinh trung học, những cặp vợ chồng trung niên, những người già và một số ít mục sư. Ðối với dân chúng tỉnh nầy, ngoài lễ quốc khánh ngày 4/7, buổi điểm tâm cầu nguyện là dịp quan trọng nhất. Sau phần điểm tâm, chào mừng, cầu nguyện mở đầu, đọc Kinh Thánh từ Cựu và Tân Ước, là đến phần nói chuyện của tôi.

Tôi khám phá ra rằng khi cầu xin Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời nói qua tôi, mọi lo lắng bỗng tan biến đi. Ngài như lo hết mọi sự. Những lời nói sáng hôm nay mạnh dạng hơn trước nhiều. Vào phần cuối của bài nói chuyện dài nửa tiếng, tôi có ý muốn giải thích về những cáo trạng về tôi bởi tôi muốn người nghe cần biết sự thật để có thể dễ dàng chấp nhận bài làm chứng của tôi.

Tôi giải thích, “Tôi biết trong lòng rằng đối với nhiều cáo trạng đó, tôi không có tội. . . ”

Tôi bỗng dừng khi chợt suy nghĩ đến những lời vừa nói ra. “Những cáo trạng đó” – nhưng không phải tất cả những cáo trạng đó.

Căn phòng yên lặng ngột ngạt. Tôi nhìn xuống tờ giấy ghi chú nhưng chẳng giúp ích được gì. Trong suốt bài nói chuyện, tôi ít dùng đến nó. Sự ngập ngừng của tôi gây ngượng ngùng cho cả khán giả nữa. Mặt tôi đỏ bừng. Tôi tự nhủ, có báo chí ở đây, liệu tìm cách ăn nói cho ổn gấp.

“À không – tôi không có tội với tất cả cáo trạng đó”, tôi chữa lời. Tôi cố gắng tiếp tục, nhưng lời nói của tôi như không còn sức sống nữa.

Không ai có vẻ đến ý đến sự lỡ lời đó của tôi. Báo chí không thấy đăng gì về việc này. Nhưng những lời nhiều cáo trạng cứ rên rỉ như tiếng động cơ của máy bay đưa tôi về Washington. Có thể đó là một sự lỡ lời mà tâm lý học gọi là sự lỡ lời Freudian (*)? Hay đó là Ðức Chúa Trời dùng môi miệng của tôi? Ngài nói “Chuck, chỉ nhiều chứ không phải tất cả cáo trạng!”

Lời nói từ chính miệng tôi đã khóa chặt vấn đề lại. Sự tin Chúa Giê-xu của tôi sẽ mãi mãi không toàn vẹn nếu tôi cứ tiếp tục là một bị cáo về hình tôi cố bào chữa biện hộ, ngày càng bị cuốn vào mối nhợ Watergate. Tôi phải bỏ quá khứ ra sau lưng hoàn toàn. Nếu điều đó có nghĩa là phải vào tù, thì phải chấp nhận như vậy!

Trong sách “Giá Người Tín Ðồ Phải Trả”, tác giả Dietrich Bonhoeffer đã viết về vấn đề mà ông ta gọi là Sự Dứt Khoát Lớn như sau: “Sau khi nghe tiếng gọi của Chúa Giê-xu, bước đầu tiên phải là cắt đứt hẳn với đời sống trước đó. Việc theo Ngài tức khắc sẽ tạo ra một đời sống mới ngay. Còn ở lại đời sống cũ sẽ làm cho đời sống tín đồ không thể nào thành tựu được”.

Trước đây, sự việc trông có vẻ giản dị, chĩ gắng hòa đồng vời Ðức Chúa Trời, tìm hiểu Chúa Giê-xu là ai và tin vào Ngài. Tuy nhiên, việc tôi có sẵn sàng theo Ngài, sống nếp sống tín đồ thật sự hay không lại là việc khác. Tôi thấy không còn đường thoát nữa.

Tôi phải hỏi Patty xem thử nàng có đồng ý để tôi nhận tội vào tù. Chúng tôi nói chuyện đến khuya trong nước mắt cứ tuôn rơi không dứt. Nàng cảm thấy đau đớn. Chúng tôi đã vũng vẫy, tranh đấu quá nhiều và bây giờ, tôi chỉ cần bước tới, nhận tội và vào tù là xong.

Nàng cứ nằng nặc hỏi “Tại sao? Tại sao anh phải làm như vậy? Dave nói rằng anh sẽ được trắng án. Ðời sống của chúng ta sẽ trở lại bình thường. Anh sẽ hành nghề luật sư trở lại. Và chúng ta có thể du ngoạn nhiều nơi”.

“Patty em, mọi việc sẽ không bao giờ trở lại như trước. Tin anh đi, chỉ có cách này cuộc đời mới sáng sủa ra. Anh phải chấp nhận và làm như vậy em ạ”. Ðiều tôi yêu cầu nàng chấp nhận quả là điều khó khăn nhất, nhưng cuối cùng nàng phải đau lòng chấp nhận.

Ðoạn đến phiên Harold. Chúng tôi nói chuyện trong tầng hầm quen thuộc của nhà anh, nơi mà chỉ cách đây mười ngày được dùng làm phim trường cho chương trình “Sixty Minutes”. Tôi nói, “Harold, tôi đã đi đến một quyết định. Tôi sẽ nhận tội mà tôi thật sự phạm, đó là bêu xấu Ellsberg trong khi ông ta đang ở trong vòng điều tra. Tôi tin rằng nếu làm như thế, những công tố viên sẽ hủy những cáo trạng kia. Việc nhận tội sẽ có lợi cho quốc gia, nó sẽ chấm dứt những trường hợp tương tự có thể xảy ra trong tương lai”. Trong khi nói tôi có thể thấy được sự tự do sẽ đến với tôi trong một tương lai không xa.

Harold nghiêm sắc mặt. “Anh sẽ bị tù chừng bao lâu?”

“Năm năm là tối đa”. Tự nhiên những lời nói nầy không còn làm tôi lạnh rùng mình như trước.

“Như thế thì nặng quá. Tôi không chịu như vậy được đâu anh”.

“Harold, tôi sẽ chịu được, trừ khi anh và những anh em khác không đồng ý. Tôi đã suy nghĩ kỹ càng là phải làm như thế”.

Khuôn mặt sần sùi của Harold bỗng dịu hẳn ra, nụ cười nhạt hé mở cả hàm răng. Anh la lớn, “Ngợi khen Chúa! Tôi không thể đề nghị anh làm thế, nhưng tôi hằng mong đợi sẽ có ngày anh đi đến quyết định trên. Ðiều này làm tôi đau lòng lắm nhưng tôi vui mừng, cảm ơn Chúa”.

Phản ứng của Dave Shapiro quá hiển nhiên, tôi phải để ống nghe điện thoại xa tai tôi khi anh lồng lộn lên, “Anh ngu anh khùng anh không biết đường mà”. Dave còn bồi thêm nhiều nhát nữa.

Tôi nhẹ giọng giải thích, “Dave, bớt nóng lại. Tôi đã đi đến quyết định này, tôi biết việc gì mình phải làm”. Dave và tôi thường lớn tiếng với nhau.

“Ðược, để coi bác sĩ tâm lý có đồng ý là anh biết viêc gì mình phải làm không. Tôi sẽ không cho anh làm như vậy vào sáng thứ hai tới đâu, để anh xem”.

“Dave, tôi muốn anh nới chuyện với mấy công tố viên vào ngày thứ hai. Gặpp Bill Merrill. Nói với anh ta chúng ta không cần dàn xếp gì hết, không cần điều kiện gì. Chỉ nói rằng tôi sẵn sàng nhận tội đã từng ra cho báo chí những dự kiện có tính cách mạ lỵ đối với Daniel Ellsberg khi ông ta đang là một bị cáo về hình tội”.

“Nhưng đó không phải là một hình tội. Làm sao mà anh nhận được? Chưa hề có ai bị phạt về tội này mà”.

“Ðó là tội mà. Nếu tôi nhận tội, nó sẽ là một tiền lệ. Và như thế, trong tương lai sẽ ngăn ngừa được những chuyện tương tự”.

“Anh là thằng ngu và anh sẽ vào tù”.

“Tôi biết”.

“Nhưng tôi sẽ không làm theo lời anh yêu cầu”.

“Vậy anh tìm cho tôi một luật sư khác sẵn sàng làm theo ý tôi”.

“Colson, anh dại quá. Tôi lâu lắm rồi nhưng bây giờ mới biết là thật. Thôi bỏ chuyện nầy qua một bên. Ngày mai mình sẽ nói chuyện tiếp. Bây giờ tôi đi tìm rượu uống cho say đây”.

Tôi biết Dave không biết uống ruợu, chỉ một ly là đủ làm anh sụm. Câu nói cuối cùng của Dave là tôi buồn cười, một nụ cười thật sự cả hằng mấy tuần qua.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top