Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 4.c

Tái Sanh – Chương 4.c

BornAgain_CWC

Mỗi sáng ngay sau tám giờ, những nhân vật quyền lực quan trọng trong chính phủ họp nhau lại quanh chiếc bàn bằng gỗ quý trong căn phòng lịch sử mang tên Roosevelt, đối diện thẳng với văn phòng Tổng Thống ở bên kia hành lang. Trong hơn ba năm, tôi luôn có mặt trong những buổi họp nầy để nghe Kissinger tường trình về những bất an trên thế giới cần lưu ý, thảo luận về những vấn đề nội bộ khẩn cấp với John Ehrlichman hay George Shultz, cũng như duyệt lại lần cuối với Bob Haldeman về chương trình của Tổng Thống trong ngày.

Lạ lùng thay qua bao năm tháng nhiều biến động như vậy, tôi không hề biết cũng cùng lúc đó, cứ hai tuần một lần, một nhóm người khác cũng tụ lại dưới tầng trệt về cánh phía tây của Tòa Bạch Ốc. Những người hiện diện thường gồm có một hoặc hai Thứ Trưởng, đôi khi một Bộ Trưởng và một số nhân viên Tòa Bạch Ốc chia sẻ đức tin với nhau, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện chung. Nếu trước đây tôi biết có một nhóm cầu nguyện trong Tòa Bạch Ốc như vậy như vậy, chắc tôi sẽ cho rằng vì quá bận nên không thể đến dự được.

Mặc dầu Tổng Thống Nixon không muốn mời kẻ thù không đội trời chung của ông là Harold Hughes vào Tòa Bạch Ốc, nhưng nhóm nầy rất mong được thông công với Harold. Ông nhận lời mời của họ đến dự một buổi nhóm dự định tổ chức vào sáng 6/12/1973. Vì Harold chỉ đến đây có một lần trong suốt nhiệm kỳ của Nixon, và cũng vì hiện tại đang xâu xé, Washington chia làm hai phái chống nhau ra mặt, nên Harold và Doug đề nghị tôi đi theo. Có lẽ tôi có thể giúp Harold trong trường hợp những người nồng cốt ủng hộ Nixon tỏ ý chống đối dữ dội trước sự hiện diện của ông.

Tôi trước giờ dự định chừng một phút, đi mạnh dạng qua cổng phía Tây Nam, ngang qua khuôn mặt quen thuộc của những người lính canh đang vui cười vẫy tay. Trời nắng trong và đẹp, tôi hân hoan về chuyện Harold cầu nguyện tại Tòa Bạch Ốc đến độ tôi cười chào cả những phóng viên cặp mắt ngáy ngủ như lúc nào cũng rình mò mọi nơi, ghi chép ai đến và rời Tòa Bạch Ốc.

Tôi bước qua cửa dẫn xuống phòng dưới tầng trệt cạnh phía Tây, đi dọc theo hành lang có tầng thấp với nhiều hình ảnh màu lớn của Nixon và thuộc hạ ông, đoạn đi ngang qua cửa có chữ “Phòng Tình Hình”, đầu não của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia với văn phòng nằm dưới mặt đất kéo ra tận bãi cỏ phía Nam. Buổi cầu nguyện có điểm tâm tổ chức tại một phòng ăn lớn thường chỉ dành cho những nhân viên cao cấp của Tòa Bạch Ốc và Nội các của Tổng Thống. Ba chiếc bàn được xếp lại với nhauvới mười bốn chỗ ngồi. Người đã đến,quay lưng lại tường – tôi đoán chắc anh ta có ý như vậy – không ai khác hơn là HaroldHughes với khuông mặt nghiêm trọngvà ngột ngạt, chung quanh là một số ủng hộ viên nồng cốt của Nixon.

Harold nhìn lên, thấy tôi bước vào, khuôn mặt rạng rỡ hẳn ra, rồi gọi lớn : “Chào anh!”. Tôi chào hết những người quen rồi ngồi xuống ở góc cuối bàn. Mọi người từ từ đứng lên, kiếm chỗ ngồi, cuối cùng chỉ con một ghế ngay bên tay phải tôi là còn trống. Thứ Trưởng Bộ Lao Ðộng Dick Shubert có mặt cũng như Ken Bilieu, người đã về hưu nhưng được yêu cầu trở lại làm việc giúp Tân Phó Tổng Thống xếp đặc công việc lúc ban đầu, cũng có mặt. Có nhiều bạn cũ của tôi mà hầu hết tôi không biết là thích những việc như thế nầy cũng hiện diện. Những người hầu bàn người Phi trong áo choàng đỏ bắt đầu mang cà phê và bánh từ nhà bếp ra. Khi chúng tôi bắt đầu ăn, vị Tổng Giám Ðốc Ngân Hàng Quốc Gia, Arthur Burns bước vào văn phòng.

Tôi sững sờ hỏi John McLaughlin, một linh mục và cũng là người viết diễn văn cho Tổng Thống đang ngồi viết bên tay trái, “Arthur Burns làm gì ở đây?” Vì biết trước đây tôi có giở “trò dơ bẩn” khi vu cáo Burns đòi tăng lương. John nhỏ nhẹ trấn an tôi: “Arthur là người thường đến dự buổi cầu nguyện nầy lắm. ”

Tôi chống đối: “Nhưng ông ấy là người Do Thái”. Thật ra câu nói nầy chẳng có nghĩa gì bởi đó là câu tôi buột miệng bất chợt để tỏ sự ngột ngạt, khó chịu của mình. Tôi biết là John hiểu tôi sợ chạm trán với Arthur Burns.

Nhưng John McLaughlin còn bồi thêm: “Ông ấy không những là người Do Thái mà còn là người hướng dẫn buổi cầu nguyện nầy nữa. ”

Khuôn mặt Burns cũng có vẻ khó chịu khi thấy tôi và lại càng khó chịu, khổ sở hơn sau khi đảo mắt nhìn quanh chỉ còn một ghế trống ngay sát bên tôi. Ông ngần ngại một lát, đoạn bắt tay chào Harold Hughes, những người khác rồi quay qua hướng tôi chỉ gật đầu thật nhanh trước khi ngồi xuống.

Harold là điểm hấp dẫn của chương trình, ngoài sự dự liệu của những người tổ chức. Sau đó không lâu, căn phòng bình thường chứa năm mươi người đã gần đầy, những người hầu bàn phải vội vã làm thêm những dĩa trứng cho đủ. Dầu đông người, nhưng không khí không thân mật, cởi mở mà ngược lại có nhiều ngột ngạt, nghi hoặc.

Khoảng tám giờ hai mươi phút, sau khi ăn điểm tâm vội vã, Arthur Burns đứng dậy chào mừng hết mọi người và bày tỏ sự vui vẻ được Thượng Nghị Sĩ đến nhóm chung để trình bày lý do ông quyết định từ giã Thượng Viện hầu có thể hầu việc Chúa trọn thời giờ. Rồi bằng những ngôn ngữ giản dị ít thấy giữa những buổi gặp gỡ của chính trị gia, Arthur giao buổi nhóm cho Harold điều khiển.

Sau những câu nói ngập ngừng lúc ban đầu, Harold điều khiển buổi nhóm qua tài hướng dẫn bóng bẩy tiêu biểu của anh. Trong hai mươi phút đầu, căn phòng không có một âm thanh nào ngoài tiếng nói mạnh và ấm của anh. Anh kể lại bằng một sự chân thành lạ lùng về quá khứ của anh, về quyền năng của Chúa Giê-xu trên đời sống mới của anh, về những giằng co, mâu thuẫn mà anh phải đối diện khi là một tín đồ Tin Lành trong chính quyền, và rồi trong vài phút cuối cùng, anh kể lại sự việc gặp một người bạn trong Chúa mang tên Chuck Colson.

Nếu không bởi giờ phút cảm động đó, có lẽ tôi đã cười lớn trước khuôn mặt bàng hoàng, ngẩn ngơ của nhữngg người trong phòng. Qua kẽ mắt, tôi thấy Arthur Burns đang ngồi bất động, đôi mắt chăm chú nhìn vào Harold, chân mày ngẩn lên trong sự kinh ngạc, miệng ông hả ra. Ống điếu ông đang hút liên miên từ nãy giờ tắt ngám nằm lạnh lùng gọn gàng trong bàn tay phải của ông.

Harold tiếp tục, “Tôi đã học được rằng cảm giác ghen ghét sai lầm làm sao, đã bao năm có biết bao người tôi đã ghét cay, ghét đắng. Tôi chẳng làm khổ họ chút nào mà ngược lại chỉ làm khổ chính mình. Khi ghét, tôi đã ngăn không cho tình thương của Chúa Giê-xu vào lòng tôi. Một trong những người tôi ghét nhất là Chuck Colson, nhưng bây giờ chúng tôi cũng có một đức tin nơi Chúa, tôi thương anh ấy như anh em ruột của tôi. Tôi có thể giao cho anh ấy cuộc đời tôi, gia đình tôi và tất cả mọi sự tôi có”.

Khi anh dứt lời, trong phòng không một tiếng động – ai nấy đều yên lặng nhìn về hướng Harold. Rồi từng giây, từng phút trôi qua, ngỡ như cả mọi người đang âm thầm cầu nguyện.

Arthur Burns, người phải cầu nguyện kết thúc, nghẹn ngào không nói lên lời. Cuối cùng, ông bỏ ống điếu xuống bàn phía trước mặt, đoạn nhìn trân vào nó, hai tay ông khoanh chặt phía trước rồi từ từ ngẩng mặt lên. Bằng một giọng lí nhí tôi không chắc những người ngồi cuối bàn có thể nghe được, ông bắt đầu – đây là một trong những lời nói cảm động và đẹp đẽ nhất mà tôi có thể nghe từ một người”.

Ông ngừng lại giây lát để lấy giọng và cố gắng cầm nước mắt. Ông nói: “Tôi chỉ muốn nói thế thôi, chỉ thế – thay mặt cho hết thảy anh em trong nhóm, tôi muốn mời ông tiếp tục trở lại với chúng tôi”. Ông đứng dậy, nắm tay tôi và nói: “Bây giờ tôi xin mời ông Colson thay mặt cầu nguyện kết thúc”.

Mọi người trong phòng nắm lấy tay nhau. Lời mời đến quá thình lình khiến tôi kinh ngạc đến độ cả một hồi sau mới cất tiếng được. Không còn thì giờ để chuẩn bị lời cầu nguyện trong đầu nữa, tôi phải nhờ cậy vào Ðức Thánh Linh. Tôi cầu nguyện cho tất cả mọi người hiện diện, không phân biệt chức tước, đến với nhau bằng sự khiêm nhường và đầu phục, biết mình không là gì cả và Ngài là mọi sự, không có cánh tay của Ngài che chở trên vai, chúng tôi không thể nào làm tròn nhiệm vụ cho quốc gia. Khi chấm dứt lời cầu nguyện trong Danh Chúa Giê-xu Christ, Arthur bấm chặt lấy tay tôi.

Trước khi ra về, mọi người đến ôm choàng và bắt tay Harold một cách thân ái, nhắc lại lời mời của Arthur khi nãy. Nhiều người cũng đến khoác tay tôi, đón mừng tôi vào sợi dây thân ái mà tôi biết bền chặt hơn sợi dây giữa những người Tòa Bạch Ốc đang chống chọi với thế giới bên ngoài. Ðây là một giờ phút cảm động tột cùng, tôi chưa hề thấy một cảnh tượng nào có thể xứng với cảnh hôm nay trong bao năm làm việc cho chính phủ.

Sau khi chào từ giã Harold, tôi đi nhanh ra ngoài, cố bắt kịp Arthur Burns trước khi ông lên xe Limousine đang chờ sẵn. Cuối cùng tôi tìm thấy ông trong phòng tiếp tân, bên cạnh bàn giấy của người lính canh, đang chòang khăn quanh cổ. Tôi vội nói: “Tiến sĩ Burns, tôi biết là ông có lý do ghét tôi hết sức chính đáng, nhưng tôi muốn xin lỗi ông đã dựng nên câu chuyện tai hại ấy cho ông. Một ngày không xa, tôi muốn được đến thăm ông”.

Mặc dầu ăn nói nhẻ nhẹ, nhưng Arthur Burns có thể sắt đá và cương quyết vô cùng. Ai phê bình chính sách kinh tế của ông có thể bị ông trả lời bằng cái nhìn uy hiếp, bằng những đám khói lồng lộn từ ống điếu của ông và bằng một bài học dạy đời dài. Nhưng sáng hôm ấy, tôi chỉ thấy ông qua dáng người giáo tóc bạc, nhẫn nại, đôi mắt đầy thông cảm. Ông ôn tồn nói: “Ông không cần phải xin lỗi, bây giờ điều ấy không cần thiết, mọi sự đều là quá khứ cả. Thưa ông, tôi cũng muốn gặp ông nhiều nữa trong tương lai”. Sau đó, ông bồi hồi tiếp: “Tôi chưa bao giờ, chưa bao giờ cảm nhận – tôi chưa bao giờ biết -một buổi nhóm lạ lùng như vậy”. Ðoạn ông nắm chặt lấy tay tôi, chào và quây bước ra ngoài theo hướng có nắng mai đầu ngày rực rỡ.

Tôi thả bộ về văn phòng mình với lòng ngợi khen Chúa.

Buổi họp báo hằng ngày của Tòa Bạch Ốc bắt đầu vào mười một giờ sáng. Jerry Warreng, trước đây là phóng viên của báo San Diego Union và năm năm qua làm phụ tá chính cho Ron Ziegler (Tùy viên Báo của Nixon), bước vào phòng báo chí Tòa Bạch Ốc ngay sau mười một giờ trong đầu đã chuẩn bị đối đáp những câu hỏi đến tới tấp về Watergate. Phóng viên từ nãy giờ ngã người vào những ghế êm ở cuối phòng nay dồn đến phía trước, rút sách vở ghi chép. Trong khi đó, Jerry bước đến bước đến microphone để loan những tin thường ngày: Tổng Thống sẽ ký Ðạo Luật năm 1973 về Tiền Cấp Dưỡng Tàn Tật và Tử Trận cho Cựu Chiến Binh, phiên họp ba giờ chiều của Tổng Thống với các cố vấn kinh tế, buổi tiếp tân cho Tân Phó Tổng Thống Gerald Ford. Sau đó là phần câu hỏi như thuờng lệ. Ðoạn sau đây được trích từ cuốn băng thâu lại buổi họp báo (Họp Báo Tòa Bạch Băng # 1869,6/12/1973) với câu hỏi đầu tiên của Dan Rather từ đài CBS:

Rather: Jerry, Tổng Thống tiếp tục gặp Charles Colson có chuyện gì vậy?

Warren: Tổng Thống không gặp Colson?

Rather: Vậy chớ ông Colson đến Tòa Bạch Ốc hôm nay để làm gì vậy?

Warren: (Ngừng) A. . . . (ngừng) ông ấy đến dự một phiên họp ở phòng ăn tầng dưới tổ chức sáng thứ năm mỗi hai tuần một lần. Nhóm nầy gồm những nhân viên Tòa Bạch Óc thường tụ lại cầu nguyện trong giờ điểm tâm và ông Colson chỉ đến dự để. . .

Một Giọng Nói: Cầu nguyện!

Một Giọng Khác: Có phải ông ấy muốn làm Mục sư không?

Cả phòng bật phá ra cười lớn đến nỗi những lời thâu băng không thể nào nghe và đoán ra được. Sau đó, Jerry cho tôi hay kể từ khi vụ Watergate bắt đầu mười tám tháng trước đây, chưa có lần nào không khí phòng Báo Chí vui vẻ như vậy.

Rather: Tôi muốn có câu trả lời.

Warren: Ðấy là câu trả lời.

Rather: Rằng ông ấy dự buổi điểm tâm cầu nguyện?

Cuốn băng cho thấy Warreng cố gắng giải thích tường tận về sự hiện diện của Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes tại buổi nhóm sáng đó, những ai đến dự, buổi nhóm nầy thường xuyên ra sao cũng như cho biết những cựu nhân viên Tòa Bạch Ốc trong đó có tôi cũng đến dự. Mọi người ngừng hẳn tiếng cười.

Rather: Jerry, ông có thấy cái nầy hơi lạ là một luật sư ăn lương làm việc cho những tổ chức lớn và nhiều cá nhân quan trọng lại đến Tòa Bạch Ốc chỉ để dự buổi điểm tâm cầu nguyện?

Warren: Dan, tôi chẳng thấy lạ gì cả. Theo tôi, nói như thế là đi quá xa rồi đấy. Khi một nhóm người làm việc chung với nhau, ngồi với nhau để thể hiện đức tin của họ, như thế là buổi điểm tâm cầu nguyện. Tôi không thấy có gì phức tạp hơn nữa, tôi nghĩ là anh đi quá xa rồi đó.

Rather: xin cho tôi được nói thêm, tôi muốn mọi người hiểu rằng không phải tôi chống cầu nguyện hay điểm tâm cầu nguyện hay những điều tương tự khác, nhưng tôi thiết nghĩ rằng có một câu hỏi quan trọng liên hệ đến việc nầy cần phải đặt ra. Trước đây, Charles Colson là một nhân viên của Tòa Bạch Ốc, nay ông đã làm cho những người như là Teamsters Union. Chúng ta đã quá hiểu cách làm việc ở thành phố Washington nầy. Những người nầy liên hệ, giao dịch với những kẻ có quyền thế, địa vị, và những dịp như. . . buổi điềm tâm cầu nguyện chẳng hạn, họ sẽ làm việc có lợi ích cho họ. Không có mặt ở đây ít ra thấy được điều nầy hàm ý gì sao?

Warren: Tôi thấy nó chẳng hàm ý gì cả, nó bình thường cũng như việc sáng nay Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes là diễn giả chính.

Câu Hỏi: Ông ấy có làm thêm việc riêng gì không?

Câu Hỏi Khác: Hai chuyện nầy xảy ra một lúc nghĩa là sao?

Warren: Nó chỉ có nghĩa rằng đây là những người gặp bày tỏ đức tin của họ với nhau.

Câu Hỏi: Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes sẽ bước vào tôn giáo để hành đạo. Ông có thấy chuyện nầy giống như bước vào Teamsters Union không? (Cười lớn)

Warren: Tôi nghĩ đã tạm đủ, các anh đi lố quá!

Nói xong Warreng quay đi ngay để lại trong phòng những phóng viên với khuôn mặt ngỡ ngàng. Hôm đó, phóng viên chỉ có một tin để đăng tải – Colson dự buổi điểm tâm cầu cầu nguyện.

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top