Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 4.b

Tái Sanh – Chương 4.b

BornAgain_CWC

Tháng chín đến nhưng tôi vẫn chưa bị tuyên án bởi Ủy Ban của Merrill như tôi tiên đoán. Lúc đầu, các bạn đồng nghiệp của tôi và tôi kết luận rằng Ủy Ban nầy dọa tuyên án chỉ là một kế khiến tôi không thể điều trần trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin và từ đó làm nhục được tôi. Hay có thể đây là sự biện hộ hùng hồn của Dave Shapiro và Jim St. Clair (luật sư mới của Colson) trong những lần gặp Cox và những viên phụ tá. Tôi nhớ có lần buổi điều trần xảy ra trong bầu không khí hết sức thân mật.

Dave đệ trình những lời biện hộ cho Công Tố Viên, cho rằng FBI (Cơ Quan Cảnh Sát Liên Bang) đã bao năm cũng “vào nhà” bất hợp pháp, một danh từ trong nghề ý nói những vụ đột nhập vì lý do an ninh quốc gia, nên vụ Ellsberg chẳng có gì là khác thường và đặc biệt. Các luật sư của Nixon tiếp thêm rằng những hồ sơ của Tòa Bạch Ốc cũng chứng minh rằng có lý do chính đáng bởi an ninh quốc gia.

Sau đó, Tổng Thống bắt đầu nhập cuộc. Trong giờ phút lạc quan, cao hứng, Nixon nói với tôi bằng một giọng đầy tự tin trong một cuộc điện đàm vào đêm khuya, “Chuck, tôi biết là họ chĩa mũi dùi vào anh, nhưng sẽ không làm được gì. Tôi sẽ không để họ làm chuyện đó đối với anh. Anh hoàn toàn vô tội, tôi biết. Vậy từ nay, tôi sẽ đứng ra lãnh hết chuyện nầy”.

Nhưng những biến cố ở Washington đang xảy ra ngoài tầm kiểm soát và tiên liệu. Sau đó không lâu, Tổng Thống gọi điện thoại cho tôi nhiều đêm về những vụ lộn xộn của Phó Tổng Thống Spiro Agnew. Những tội nặng – nhận tiền hối lộ khi còn là Thống Ðốc tiểu bang Maryland – nay đang bị mổ xẻ và nghiên cứu bởi một cuộc điều tra lớn ở Baltimore. Văn phòng luật sư của chúng tôi nhận biện hộ cho Phó TổngThống nên dính líu nặng nề việc nầy.

Thoạt đầu, Nixon muốn giúp người bạn đã hai lần đứng chung liên danh với mình. Tuy nhiên, khi những bằng chứng dồn dập đến, Tổng Thống bắt đầu thay đổi thái độ, Tòa Bạch Ốc áp lực tôi yêu cầu một kỹ nghệ gia đừng đóng góp vào quỹ biện hộ cho Phó Tổng Thống và kêu gọi ông ta nên từ chức. Ðiều nầy đã đặt tôi và thế kẹt. Tướng Haig (lúc đó làm Thứ Trưởng Ngoại Giao của Hoa Kỳ trong chính phủ Reangan) một đêm nọ nói với tôi: “Vì quyền lợi quốc gia, ông ấy phải từ chức”. Tôi phải trung thành với ai đây? Còn với niềm tin mới của tôi, tôi phải xử sự sao cho đúng? Tôi có cảm giác biến cố hàng ngày cứ tiếp tục thử thách niềm tin mới của tôi. Cuối cùng tôi quyết định không liên lạc với kỹ nghệ gia ấy, và tạm giải quyết bằng cách đứng qua một bên để các luật sự khác rành về hình luật trong văn phòng chúng tôi đứng ra lo. Cách bào chữa tôi cho Agnew là buộc Quốc Hội phải đưa ra những cáo trạng nầy vào trong một quyết nghị truy tố của Quốc Hội, vì thế lấy đi hẳn của tòa án bên ngoài quyền phán quyết trong hình tội nầy. Phe Agnew bắt đầu vận động trong Hạ Nghị Viện để tìm hậu thuẫn.

Một đêm nọ, Nixon điện thoại cho tôi hay, “Cả Jerry Ford (lúc ấy là Lãnh tụ Khối Thiểu Số tại Hạ Nghị Viện) và Carl Albert (Chủ Tịch Hạ Viện) đều chống lại cách thức bào chữa nầy”. Những vận động viên tại Tòa Bạch Ốc đã đem chính Phó Tổng Thống mình bỏ chợ! Nixon còn cho tôi biết thêm rằng Bộ Tư Pháp sẽ sẵn sàng tìm cách để Agnew khỏi bị tù nếu ông chịu từ chức.

Tôi đồng ý với Nixon sẽ trình bày mọi sự thật phũ phàng cho Phó Tổng Thống. Quả là một việc làm đau lòng cho lẫn ông và tôi. Là một người kiêu hãnh, hiên ngang, ông ngồi thản nhiên sau bàn giấy lớn bóng loáng nghe tôi trình bày về những điểm chính tại sao ông nên từ chức. Tôi có thể thấy trong đôi mắt ông có sự tổn thương khi biết rằng chính Tổng Thống đã không bảo vệ cho mình nữa.

Vị Phó Tổng Thống bác bỏ ngay đề nghị của Bộ Tư Pháp cũng chống lại áp lực đòi từ chức từ Tổng Thống. Vài tuần sau đó, ông quyết định theo ý của riêng mình. Trong phiên tòa của Tòa Án Liên Bang tại Baltimore vào tháng mười lịch sử ấy, ông nhận rằng đã có tội trốn thuế, đồng lúc đó một luật sư trong văn phòng chúng tôi chuyển lá thư từ chức của Phó Tổng Thống cho Ngoại Thương.

Spiro Agnew bị tòa phạt tù treo, một nhân vật quyền lực giờ đây ngã ngựa nhục nhã. Còn đối với quốc gia – một Phó Tổng Thống đã tử trận và một Tổng Thống đang bị tấn công kịch liệt. Nghe qua ta bỗng rùng mình, và cả chính tôi nữa, bởi tôi ở sát bên hai nhân vật nầy.

Sau đó vài ngày, Công Tố Viên Ðặc Biệt (của vụ Watergate) Archibald Cox bị cách chức và Tổng Trưởng Tư Pháp Elliot Richardson từ chức, những biến cố được người ta gán cho nhãn hiệu: “Cuộc Thảm Sát Ðêm Thứ Bảy”. Công phẫn nổi lên khắp nơi. Bộ phận truy tố bị cắt ngang. Những gì xảy ra tại thủ đô vào mùa thu 1973 đối với tôi có vẻ không tưởng, khó tin thật.

Tuy nhiên, có những điều nầy đối với tôi lạ thật. Ðó là những khám phá mới của một tín đồ Tin Lành còn non kém như tôi. Những lời Phaolô nói cho dân chúng thành Philíp trấn an tôi một cách đặc biệt:

“. . . Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Chúa Cứu Thế Giê-xu là quý hơn hết. Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Chúa Giê-xu. . . ” (Philíp 3:8,9).

Tôi tự hỏi: Tôi có thể vui lòng chấp nhận mất tất cả mọi sự không? Ðoạn Kinh Thánh nầy cứ quanh quẩn trong đầu óc tôi khi tôi càng ngày càng sa vào lưới Watergate.

Sau đó, tôi mới khám phá ra rằng tôi ít biết về bạn bè cũ của mình. Ken Belieu một trong những đồng nghiệp của tôi ở Tòa Bạch Ốc là một trường hợp. Một hôm nọ, khi chúng tôi ăn trưa với nhau ở nhà hàng Sans Souci, anh tiết lộ Chúa Giê-xu là người quan trọng nhất trong đời anh kể từ năm 1947. Nhưng sự thân hữu hay tình đồng nghiệp giữa chúng tôi cho suốt hai mươi năm cùng làm việc cho chính phủ qua nhiều cấp bậc khác nhau trong quá khứ nay không sánh gì với sự bền chặt giữa chúng tôi từ buổi ăn trưa ấy.

Một trường hợp nữa là Fred Rhodes, Phó tổng Thư Ký Bộ Cựu Chiến Binh. Nghề nghiệp khiến chúng tôi gặp nhau luôn ở Capital Hill, trong chính phủ Nixon, và qua biết bao năm trong đảng Cộng Hòa. Tôi biết Fred là Phó Chủ Tịch Hội Tin Lành Báp Tít Miền Nam và dính líu vào nhiều hoạt động Tin Lành. Gần nhau như thế mà chúng tôi chưa hề nói chuyện với nhau về tôn giáo.

Trong một dịp ăn trưa tại Câu LaÏc Bộ Luật Sư, tôi quyết định tìm lại những bạn cũ để chuyện trò cho vui. Giữa lúc bàn chuyện về Tòa Bạch Ốc không được khôn khéo trong sự giải quyết vấn đề truy tố Tổng Thống, tôi quay qua Fred, “Fred, ngoài những việc anh làm cho hội Báp Tít, anh có thật sự gặp Chúa Giê-xu chưa?” Câu hỏi quá thình lình khiến Fred làm rớt chiếc nĩa loảng xoảng trên dĩa. Anh tôi nhìn tôi nghi ngờ trong khi cố tìm câu trả lời.

“Nầy, nhưng anh cần phải hiểu câu hỏi ấy là sao đã Chuck ạ. Tôi đã gặp Ngài, nhưng anh cần biết rằng. . . ”

Anh ấy cố tìm một câu giải thích nào cho dễ hiểu, nhưng tôi ngắt ngang: “Anh nghĩ sao tôi nói với anh là tôi cũng đã gặp Ngài?”

“Tôi sẽ la lên ‘ngợi khen Chúa’“. Anh vừa nói vừa cười, tuy còn thoáng nghi ngờ. Tôi đoán chắc anh nghĩ là tôi giỡn.

“Ðừng la lên ở đây Fred, bởi anh sẽ làm mấy luật sư nầy kinh hoảng ngay. Nhưng quả thật tôi đã tin Ngài. Tôi chưa cho nhiều người biết bởi đây là chuyện riêng tư quá nhưng tôi muốn chia sẻ cùng anh để anh hay”.

Chiều hôm ấy, một người đến văn phòng tôi mang cho tôi một hộp lớn trong đó có một cuốn Kinh Thánh toàn bộ, một cuốn Kinh Thánh Tân Ước bỏ túi, ba cuốn sách của tác giả Keith Miller, vài văn phẩm Báp Tít và một cuốn Kinh Thánh đỏ, lớn gồm bốn bản dịch khác nhau. Kể từ đó, tình bạn của chúng tôi lớn lên một cách mà chúng tôi không bao giờ ngờ.

Những hột giống trồng vào đêm tháng chín nọ, hôm chúng tôi tụ họp tại nhà ông bà Quile tiếp tục nẩy mầm. Kể từ cuối tháng chín Harold Hughes, Al Quie, Graham Purcell, Doug Coe và tôi bắt đầu tụ họp mỗi buổi sáng thứ hai vào tám giờ rưỡi tại tòa nhà Fellowship (Thông Công). Mới nhìn qua, ai cũng tưởng tòa nhà theo kiến trúc cổ của Pháp nầy là một trong những tư thất rộng lớn, cổ của những Ðại Sứ, nhưng thật ra tòa nhà Fellowship nầy được trông coi bởi những thanh niên Tin Lành tự nguyện. Trước tòa nhà không một có bảng tên, thế mà đã bao năm, công chức, ngoại giao đoàn, du khách ngoại quốc từ mọi quốc gia đến đó để cầu nguyện trong sự yên lặng và để thông công. Giữa thành phố Washington nặng nề về nghi lễ và xã giao, tòa nhà nầy chiếm một vị thế đặc biệt. Vị Ngoại Trưởng của Nam Phi có thể cũng cầu nguyện cùng một tín đồ Tin Lành da đen mà công việc Chúa có thể đòi hỏi anh ta mỗi ngày phải đến London Reformatory ở gần đó. Ðiều kiện để được vào tòa nhà nầy không dựa vào chính trị, nhưng dựa vào đức tin nơi Chúa Giê-xu. Nhóm chúng tôi chỉ là một trong hàng chục nhóm hay đến đó mỗi tuần.

Tinh thần giữa anh em trong chúng tôi nẩy nở chậm nhưng bằng những bước chắc chắn. Chúng tôi thường bỏ một giờ đầu tiên tụ quanh trong thư viện kể nhau nghe những vấn đề và ưu tư riêng của từng người, đoạn đọc một đoạn trong Kinh Thánh rồi thảo luận. Và cuối cùng năm anh em chúng tôi luôn luôn quỳ xuống cầu nguyện cho nhau, cho gia đình, cho những người đang nắm vận mệnh quốc gia, dân tộc. Thường thì tình thông công quá đậm đà đến nỗi chúng tôi thường ôm lấy nhau sau khi cầu nguyện xong. Nếu có người nào đứng ngoài nhìn vào chúng tôi, chắc người ấy sẽ cho đó là một cảnh tượng lạ lùng trong một thành phố vốn bị xâu xé bởi những đấu tranh chính trị đầy phân hóa và nhiều hờn oán cả trăm năm qua.

Lạ lùng thay, Harold Hughes, Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ hết sức cấp tiến lại là người thường đề nghị chúng tôi cầu nguyện cho Tổng Thống Nixon và thuộc hạ của ông ở Tòa Bạch Ốc nhất. Vào một buổi sáng cuối tháng mười, Harold nói với tôi, “Nếu quả thật Tổng Thống vô tội như anh nghĩ, Chuck, dầu phải làm cho bạn cùng đảng của tôi bàng hoàng và kinh ngạc, nhưng tôi sẽ không ủng hộ việc truy tố Tổng Thống đâu. Tôi sẽ tranh đấu cho đến cùng. Sự hiến dâng thật sự của chúng ta là với Ðức Chúa Trời, bởi Ngài là Lẽ Thật”. Rồi vầng trán anh nhăn theo sự cương quyết của anh. “Không biết là ta có thể mời Tổng Thống đến cầu nguyện với chúng ta hay không?”

Tôi hứa với Harold sẽ mời Tổng Thống đến cầu nguyện chung, mặc dầu tôi biết Richard Nixon coi đức tin là một vấn đề hết sức riêng tư. Ông thường lên tiếng coi thường những chính trị gia dùng những thế lực hay uy tín trong tôn giáo để làm lợi cho mình trong chính trường. Cơ hội đến nhân một dịp điện đàm khi mà gánh nặng trên vai Tổng Thống quá nặng nề và chồng chất sau vụ cách chức Cox. “Thưa Tổng Thống, chúng tôi xin mời Tổng Thống đến cầu nguyện với nhóm nhỏ của chúng tôi về những nan đề nầy”. Ðoạn tôi lướt qua về thành phần anh em chúng tôi.

Theo sau lời đề nghị của chúng tôi là một sự yên lặng dài – một cách trả lời không của ông. Ðối với Nixon, thật khó cho ông hiểu rằng đức tin vào Chúa Giê-xu sẽ san bằng mọi xung khắc về ý thức hệ, mọi tranh chấp giữa đảng nầy và đảng khác, và mọi sự ngăn cách khác. Một hôm, tôi năn nỉ nhờ thư ký của ông là Rose Mary Woods mời giùm, hy vọng là với gốc Công Giáo La Mã của bà, bà sẽ tán thành và ủng hộ.

“Rose, tôi biết điều nầy nghe lạ tai nhưng chị hãy tin tôi. Tôi không nói bậy đâu. Harold Hughes thật lòng muốn cầu nguyện chung với Tổng Thống. Anh ấy muốn giúp ông. Chỉ là giữa cá nhân anh ấy và cá nhân Tổng Thống để thêm tinh thần cho ông”.

Rose trả lời: “Anh nói giỡn sao, Chuck. Sau những lời thậm tệ mà anh ấy dành cho Tổng Thống, tôi không bao giờ muốn thấy họ trong cùng một phòng cả”.

Nọc độc của Watergate nầy đã lan tràn trên mọi thứ ở thủ đô Washington nầy. Ai cũng bám chặt vào bên của mình, đến nỗi không ai có thể hiểu rằng có một lúc có thể hàn gắng lại quốc gia và những ai đang kình chống.

Chính Harold cũng là người đề nghị chúng tôi mời cựu Phó Tổng Thống Agnew đến nhóm chung, để cho ông ta có tình thông công và giúp ông ta có thể thấy rằng trong khi thế gớii cũ chung quanh ông đã sụp đổ, nhưng còn có một thế giới ý nghĩa hơn nhiều mà chúng tôi sẽ giúp ông khám phá. Lời mời của chúng tôi bị từ chối. Agnew vì bị tổn thương nặng nề bởi sự nhục nhã và từ chức đến nỗi ông quyết định đành sống cô lập trong một thị trấn nhỏ ở phía đông tiểu bang Maryland với gia đình ông.

Không mời hai vị nầy đến nhóm được, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho họ cũng như những người khác trong cũng như ngoài chính quyền. Khi chúng tôi cố gắng giữ vững đức tin trong Chúa cho nhau, chia sẻ gánh nặng và khuyến khích nhau sống càng ngày yêu mến Chúa hơn, một giờ rưỡi ấn định thường kéo dài hai, đôi khi ba giờ đồng hồ. Buổi nhóm sáng thứ hai hết sức là quan trọng đối với tôi nên không bao giờ tôi ngần ngại thay đổi chương trình đã định sẵn hay cắt ngắn giờ nghỉ để có thể đến dự. Harold thường vắng mặt những phiên họïp của Thượng Nghị Viện, còn Al thường lo về sớm sau những chuyến viếng thăm đồng bào từ vùng cử tri của mình, Graham trì hoãn những chuyến công tác, còn Doug thì lúc nào cũng có mặt – lúc nào cũng kiên nhẫn hướng dẫn và khuyến khích chúng tôi qua tính tình dịu dàng của anh.

Chúng tôi là một nhóm người xem có vẻ khó kết hợp, bởi từ những đảng phái chống nhau, từ những thành phần khác nhau trong xã hội với gốc gác và học vấn khác nhau hoàn toàn. Thế mà mỗi tuần, chúng tôi nhóm lại với nhau trong tình yêu thương của Chúa Giê-xu Christ. Chúng tôi tưởng lúc đó thế là thân lắm, nhưng không ngờ những biến cố trong những tháng kế tiếp đó kéo chúng tôi đến gần nhau hơn nữa.

“Tôi không biết là anh đã tìm thấy gì, Chuck, nhưng tôi cũng biết muốn có điều ấy nữa”. Dave Shape thèm thuồng nói với tôi sau một ngày vất vả với báo chí và Công Tố Viên. Giọng nói của Dave khàn khàn, khuôn mặt anh trông xanh xao, mệt nhọc. “Tôi nuốn rã rời trước những biến cố dồn dập đến với anh, vậy mà anh ngồi yên như không có gì có thể làm bận tâm anh cả”.

Dĩ nhiên là nó làm bận tâm tôi chứ, sự chờ đợi làm tôi phập phồng lo sợ, mỗi sáng thức dậy cứ nghĩ đọc báo sẽ thấy loan tin về bản án của mình. Hay là những lúc Công Tố Viên Merrill gọi điện thoại cho Dave, tim tôi đập mạnh chờ Dave kết thúc câu chuyện. Mỗi ngày tôi đều nghĩ, có lẽ là hôm nay. Nhưng bản án vẫn chưa đến, không phải tháng mười một, mà cũng không phải tháng mười hai.

Thật ra, công việc truy tố chậm hẳn lại sau khi Cox bị cách chức. Có một lúc chúng tôi hơi lạc quan khi Nixon, thể theo đề nghị của bạn ông là John Connally, bổ nhiệm Leon Jaworski, quê vùng Texas như Connally, nguyên Chủ Tịch Luật Sư Ðoàn Hoa Kỳ làm Công Tố Viên Ðặc Biệt, Al Haig nói với tôi khoảng giữa tháng mười một, “Không như Cox, Jaworski là một người thực tế. Ông ta rất coi trọng cơ cấu của Tổng Thống. Chúng tôi rất thông cảm lẫn nhau nên sẽ có liên hệ tốt trong sự làm việc”. Giọng nói của Al Haig chắc nịch, đầy tin tưởng.

Ngay cả sau khi việc cuốn băng bị gián đoạn bởi mười tám phút rưỡi yên lặng được tiết lộ. Nixon còn có vẻ lên tinh thần. Ông ta gọi điện thoại cho tôi nhiều lần trong tháng mười một, lần nào cũng tỏ vẻ quan tâm “tội nghiệp Rose” đến nỗi làm tôi phải nghi ngờ chắc người thư ký lâu năm của Tổng Thống sắp sửa hi sinh nhận hết trách nhiệm trong việc xóa băng trên.

Sự chờ đợi đã hành hạ Patty nhiều nhất. Một đêm nọ khi chúng tôi ngồi trước ngọn lửa trong nhà, nàng tỏ lộ những ưu tư từ lâu nay chôn kín. Tôi kể về đức tin mới của tôi. Vầng trán nàng bỗng nhăn lại. “Em hiểu. Nhưng em không biết phải sống làm sao cho hợp với đời sống mới của anh”.

“Nhưng em ạ, em là phần tử chính đó. Bây giờ cả hai ta là tín đồ, còn trước đây chỉ có một mình em thôi mà”.

“Anh sẽ đi nhà thờ không?”

“Ði chớ, nhưng anh chưa biết phải đi nhà thờ nào”.

Mắt nàng như mờ lệ, giọng nói nàng ngập ngừng. “Tức là anh không muốn em bỏ Công Giáo La Mã để theo anh chứ gì?”

À, thì ra vấn đề chính là thế. Patty xem những gì tôi trải qua là một đức tin về một giáo phái Tin Lành, thay vì một đức tin nói chung về Thiên Chúa Giáo. Ngôn ngữ của những tín đồ Tin Lành ngày nay dùng đã làm nàng sợ, mà cũng có thể như vậy: “Tin nhận Chúa Giê-xu” – “Trong Chúa Giê-xu”. Vô tình những chữ nầy đã tạo ra một huyền thoại trong khi thật ra chúng chỉ diễn tả những quyết định giản dị nhất của con người trong đời sống. Tuy nhiên, dù ngôn ngữ nầy mang nhiều ý nghĩa cho những ai đã quyết định tin Chúa Giê-xu, nhưng chúng ta cũng ghê sợ những ngôn ngữ của những tổ chức bí mật đối với những người chưa tin Ngài – đôi khi còn có vẻ kiêu hãnh, cố chấp về mặt tâm linh nữa. Patty không thích những điều ấy.

Ðoạn nàng nói thêm: “Lỡ báo chí khui ra việc thay đổi nầy của anh thì sao, Chuck? Có giúp thêm hay là hại anh?”

Thật ra tôi cũng suy nghĩ nhiều về câu hỏi nầy. “Anh cũng không biết nữa – nhưng chắc là hại – nhưng anh sẽ không báo cho họ biết đâu. Ðây không phải là chuyện của họ”.

Tôi nhìn chăm chú vào ngọn lửa bừng sáng trước mặt. Tôi chưa tiết lộ điều nầy cho các con tôi, cha mẹ tôi, Charlie Morin, người bạn thân và lâu năm nhất. Chỉ có Tom Phillips, Doug và một vài anh em khác trong nhóm thông công biết. Tôi tự nhủ, thà như vậy mà tốt hơn. Nếu tôi tin Chúa Giê-xu một cách vụ lợi, như một người sắp chết đuối vớ lấy phao, rồi tôi trượt và ngã bởi vụ án Watergate, điều đó chỉ có Chúa. Cố nhiên, điều ấy đau lòng lắm nhưng tôi sẽ không phải ngượng ngùng với cả thế giới. Còn nếu bây giờ tin nầy loan ra, chắc chắn tôi sẽ bị chụp mũ là lợi dụng tôn giáo. Một vài phóng viên sẽ viết: “Colson núp bóng Ðức Chúa Trời”.

Nói đi, Colson, ngươi còn sợ người khác nghĩ về mình phải không? Tôi đối diện với chính mình trước ngọn lửa bập bùng nhảy múa. Tự ái? Ðúng, có lẽ như vậy. Thế mà những gì đang xảy ra trong lòng tôi là sự thật, những buổi cầu nguyện, nhóm thông công sáng thứ hai với các anh em khác cũng là sự thật. Nhưng tôi chỉ muốn giữ thầm kín – giữa anh em chúng tôi và Chúa Giê-xu thôi.

“Không đâu, em”, tôi quay về phía Patty, đôi mắt nàng đã nhòe lệ long lanh trước ánh sáng chập chờn của ngọn lửa, trong ánh mắt chứa đầy sự yêu thương. “Không đâu em ạ, anh sẽ không đi nói oang oang mọi người biết đâu”.

Tôi thấy nàng thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng Chúa đã thay đổi mọi sự, Ngài sắp đặt biết bao biến cố bất ngờ khác.

(Còn tiếp)

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top