Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 4.a

Tái Sanh – Chương 4.a

BornAgain_CWC

Chương 4: Colson Theo Chúa – Bước Đường Chông Gai

Một hôm sau khi Colson trở lại Watergate, Doug Coe, một nhân vật trong nhóm Cầu Nguyện Buổi Sáng (Prayer Breakfast) ở Thượng Nghị Viện đến thăm thể theo lời đề nghị của Tom Phillips. Doug Coe đề nghị Colson gặp một tín đồ Tin Lành tên Harold Hughes, hiện là Thượng Nghị sĩ Ðảng Dân chủ chống chiến tranh Việt Nam kịch liệt và là địch thủ không đội trời chung của Colson. Colson khăng khăng từ chối, nhưng Doug hết lòng mời gọi và cho biết có rất nhiều người, kể cả những người chống Colson qua vụ Watergate cũng như những người lạ chưa từng biết ông, vẫn thường âm thầm cầu nguyện cho ông. Ðiều nầy làm cho Colson kinh ngạc.

Trong khi đó, những vụ điều tra về Watergate vẫn tiếp diễn. Trong khi chờ đợi Ủy Ban Ðiều Tra Ervin tái nhóm, Colson tự nguyện xin được điều trần trước một ủy ban điều tra khác do William Werrill phụ trách. Ủy ban nầy có nhiệm vụ đi tìm sự thật sau lưng vụ đột nhập vào văn phòng của Bác sĩ Fielding, viên bác sĩ tâm lý của Ellsberg ở thành phố Los Angeles. Những buổi điều trần đầu tiên chỉ nhằm mục đích bêu xấu Colson cũng như những chuyện cũ không liên hệ đến vấn đề hiện tại. Sau nhiều chống đối của luật sư, Ủy Ban đi vào đề và sau đó cho biết sẽ dựa vào những lời khai nầy để tuyên án ông. Cán cân công lý đã bị đè bẹp bởi những tị hiềm và cay đắng giữa những cá nhân với nhau.

Colson lại được mời ra điều trần trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin. Tuy nhiên, ông được quyền trình bày về vấn đề đột nhập văn phòng bác sĩ vì sẽ gây thành kiến ảnh hưởng đến phán quyết của Ủy Ban Ðiều Tra kia. Vì thế, Colson phải dựa vào một quyền hiến định để khỏi trả lời rất nhiều điều mà Ủy Ban Ðiều Tra Ervin tìm cách thẩm vấn. Việc sử dụng quyền hiến định nầy là một điều mà Colson cho là nhục nhã, hèn hạ. Tuy nhiên, ông không còn sự lựa chọn nào khác. Ðúng như tiên đoán, báo chí bóp méo việc nầy cho rằng Colson giấu diếm, không dám khai tội mình.

Trong suốt thời gian nầy, ông cảm thấy danh dự, uy tín của ông bị lột trần và giết chết lần mòn. Ðã bao lần ông bị dằn vặt bởi cuộc sống theo Ðức Chúa Trời và cuộc sống theo bản ngã:

“Tom Phillips đã bắt đầu công việc đó vào một đêm tháng tám, hôm đầu tiên khi tôi đối diện hoàn toàn với anh, một người được uốn nắn bởi cuộc đời gồm bao năm tranh đấu mong thành công. Con người cũ của tôi đang chết, đúng, nhưng không phải là không đau đớn, cũng không phải là không có chống cự và không phải là không nước mắt và buồn đau. Mặc dầu mắt tôi đang mở dần để nhìn thấy một thế giới rực rỡ, huy hoàng trước mắt mà tôi chưa bao giờ biết đến, nhưng tôi vẫn muốn vùng vẫy, cố giữ lại thế giới tôi có và cảm biết nay bị bỏ lại sau lưng. Tôi nhủ thầm, đối với một số chúng ta ít nhiều trong giai đoạn đầu tiên, chúng ta muốn hưởng lợi từ cả hai thế giới”.

* * *

Cuộc gặp gỡ giữa Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes và tôi được dàn xếp vào một đêm cuối tháng Chín. Sau nầy tôi được biết chính Harold cũng chống đối kịch liệt khi Doug điện thoại ngỏ ý như trên đối với ông ta.

Ông phản đối: “Anh biết mà Doug, không có ai mà tôi ghét bằng Chuck Colson. Tôi chống hoàn toàn lập trường của ông ấy”.

Trước khi Harold cúp điện thoại, Doug nhỏ nhẹ nói rằng thái độ như thế không giống Chúa Giê-xu chút nào. Ngay hôm sau, Harold gọi điện thoại trở lại và nói qua tiếng thở dài uể oải: “Thôi được! Anh lo dàn xếp đi”.

Như sợ sự gặp gỡ chỉ riêng giữa Harold và tôi có thể bị “nổ”, Doug quyết định mời thêm các bà vợ về nhà của Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng Hòa lâu năm Al Quie của tiểu bang Minnesota, người có giọng nói nhỏ nhẹ. Anh cũng mời thêm một cựu Thượng Nghị Sĩ đảng Dân Chủ của tiểu ban Texas, Graham Purcell. Thế là có hai Dân Chủ, hai Cộng Hòa và Doug.

Khi đọc sách về tiểu sử của Harols Hughes, tôi mới biết ông ta quả thật là một nhân vật khác thường. Lớn lên từ một nông trại nhỏ ở Iowa, ông gia nhập Bộ Binh và tham chiến trong Thế Chiến Thứ Hai tại mặt trận Ý Ðại Lợi bùn lầy nước đọng, và từng thoát chết trong gang tấc. Sau chiến tranh, Harold hành nghề lái xe vận tải và đâm ra nghiện rượu, lang thang từ quán nầy đến quán khác, đôi khi vắng nhà, xa gia đình nhiều ngày liên tiếp. Nhiều khi tỉnh giấc sau cơn say mới biết mình đang ở tại một khách sạn xa hàng trăm dặm. Vì vắng nhà thường xuyên và như bị nô lệ cho rượu chè, ông thường nghĩ đến chuyện tự tử.

Một đêm nọ trong năm 1954, Harold lẻ loi kêu gào Ðức Chúa Trời giúp đỡ. Khi màn sương tan biến khỏi đầu óc nặng trĩu vì rượu của ông, mọi vật chung quanh như đổi mới. Từ đó Harold không bao giờ uống rượu nữa.

Harold tương đối thành công trong thương vụ về xe vận tải của ông. Ông và vợ, Eva, bắt đầu hoạt động cho nhà thờ. Sau đó, ông tham gia hoạt động chính trị cho Ðảng Cộng Hòa, nhưng đến năm 1957 trong tư thế độc lập của mình, ông chuyển sang đảng Dân Chủ lúc đó đang nắm thiểu số và được bầu vào chức vụ Bộ Trưởng Thương Mại của tiểu bang. Năm 1962, ông ứng cử chức Thống Ðốc tiểu bang. Trong lúc vận động, đối phương khai thác triệt để tính nghiện rượu của ông, nhưng ông mạnh dạng đáp lại thẳng vào vấn đề. Thường thường các chính trị gia ít khi thổ lộ những thầm kín riêng tư của mình, nhưng ông đã không ngại tiết lộ công khai rằng chính ông đã nghiện và nay đã bỏ rượu. Dân chúng tiểu bang vốn theo Cộng Hòa dồn phiếu cho ông, hơn đối phương đến hơn bốn mươi ngàn phiếu. Mặc dầu ông rất cấp tiến, nói nhiều nhưng dân chúng đã tái cử ông hai lần và còn bầu ông vào Thượng Nghị Viện năm 1968 thay thế một Thượng Nghị Sĩ bảo thủ.

 

Tại Thượng Nghị Viện, ông coi thường truyền thống rằng những Thượng Nghị Sĩ mới phải ngồi yên lặng ở hàng ghế sau để học hỏi từ bậc đàn anh. Ông lập tức tranh đấu cho những mục tiêu khá cấp tiến của ông và chỉ trong vòng vài tháng đã trở thành một trong những nhân vật lên tiếng nhiều nhất tranh đấu yêu cầu Quốc Hội ra đạo luật chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ðây cũng là lúc mà chúng tôi, phía Tòa Bạch Ốc thời Nixon ghi tên ông vào trong những hàng đầu danh sách “kẻ thù”.

Nóng cháy bởi những lý tưởng nhằm cải tiến xã hội Mỹ toàn diện, Harold lao vào cuộc tranh cử Tổng Thống trong cuộc bầu cử sơ bộ hồi 1972. Tính tình lôi cuốn của ông kiếm cho ông một số phiếu lúc ban đầu, nhưng sau đó vì thiếu thế đứng vững vàng, ngân quỹ thiếu hụt, cũng như bản tính thẳng thắn, bộc trực của ông làm những chính trị gia cùng đảng theo đường lối ôn hòa hơn lo ngại về ông nên Harold quyết định rút lui khỏi cuộc tranh cử.

Trong khi đó, ông nhận thấy nghề nghiệp chính trị của ông có những đòi hỏi ngày càng đi ngược lại với niềm tin của ông với Chúa Giê-xu. Mặc dầu biết mình chắc chắn được tái cử trong nhiệm kỳ tới, nhưng Harold đã tuyên bố vào mùa hè năm 1973 sau khi đắn đo suy nghĩ rằng ông sẽ rút khỏi chính trường khi nhiệm kỳ chấm dứt vào tháng 1 năm 1975. Lời tuyên bố nầy đã gây kinh ngạc lớn cho giới quan sát viên chính trị và cử tri của tiểu bang Iowa. Harold cho rằng ông có thể phục vụ cho đồng bào nhiều hơn khi ở ngoài chính trường và chỉ muốn làm tôi một Chúa.

Sau khi nghiên cứu qua về Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes, tôi có cảm giác bị lôi cuốn lạ lùng bởi thái độ của ông đối với cuộc đời. Cũng cùng lúc đó, bản năng của tôi chuẩn bị tôi cho cuộc chiến sắp tới.

Trước hôm gặp nhau chừng vài ngày, Doug điện thoại cho tôi: “Này anh, tôi sẽ đón anh tại văn phòng của anh khoảng tám giờ tối nghe”.

“Ðược, tốt lắm”. Vợ tôi Patty sẽ đón Jan, vợ của Doug bằng xe của chúng tôi.

Vào ngày giờ hẹn, tôi nhận ngay chiếc xe Chevy màu xanh cũ kỹ của anh ấy. Tôi leo lên hàng ghế sau vì đã có người ngồi phía trước. Người ấy không ai khác hơn là Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes!

Tôi ngã người và ghế và chăm chú nhìn địch thủ bao năm của tôi. Harold mặc áo sơ mi ca-rô bỏ ngoài chiếc quần dài thuộc loại cứng. Lối ăn mặc “cổ hủ” của ông, dù được coi là đàng hoàng theo giới hiểu biết tại Washington nhưng đã mang lại cho ông nhãn hiệu: “Thượng Nghị Sĩ ăn mặc xấu nhất”. Chính sự bình dân nầy cộng với tiếng nói trầm và ấm của ông đã khiến tôi bớt giữ kẽ một chút.

Trong lúc đó, tôi cảm thấy Harold chưa tỏ một sự đặc biệt nào đối với tôi cả. Thỉnh thoảng, ông quay người nhìn đăm đăm vào hàng ghế sau. Khuôn mặt sắc, tóc ngâm đen và hai con mắt sâu là ông giống như con cháu của giống người da đỏ. Cái nhìn như cú vọ của ông làm tôi bỗng lạnh rùng mình. Tôi để ý thấy cặp mắt ái ngại của Doug đang nhìn tôi qua kính chiếu hậu, và sau đó qua phía Harold.

Tôi cởi áo vét ra vì cảm thấy khó chịu. Câu chuyện chỉ lẩn quẩn trong những khu vực “an toàn”: gia đình, bạn bè mà cố gắng lắm tôi mới nhớ ra được. Khi xe đậu trước cửa căn nhà trắng xây theo kiến trúc hai trăm năm về trước của Al Quie, tôi thấy ngay Doug thở phào nhẹ nhõm. Mọi chuyện tiến hành tốt đẹp cho đến giờ phút nầy.

Al Quie và vợ, Gretchen tiếp đó chúng tôi niềm nở, Al dáng người cao lớn, vạm vỡ, trong rất khỏe mạnh, trước đây là một nông chuyên gia chuyên sống về ngành sữa. Ông ta nở một nụ cười e thẹn khiến người nhìn có cảm giác ông trẻ hơn tuổi thật năm mươi của ông nhiều. Graham Purcell tóc bạc, dáng người cao, ốm và vợ là Nancy, hoạt bát và dễ thương, đến sau chúng tôi chừng vài phút. Chúng tôi ngồi quay quần trước đống lửa lớn trong phòng khách với những bức tường đầy huy chương và giải thưởng của Al và những con ngựa đua quí của ông ta.

Ðây cũng là lần đầu tiên tôi gặp Jan Coe vợ của Doug. Họ lấy nhau khi còn là sinh viên năm thứ nhất vào khoảng cuối thập niên năm bốn mươi. Dáng bà dịu dàng, trẻ trung và tính tình vui vẻ, cởi mở như chồng. Thật ra, tôi hơi ngạc nhiên vì khuôn mặt họ giống nhau nhiều quá.

Khi nào hai chính trị gia hay nhiều hơn họp lại với nhau trong một buổi tiệc ở Washington, câu chuyện thường là trận tranh hùng mới nhất ở Capitol Hill, về những cuộc bầu cử sắp đến hoặc về sự lên voi xuống chó của những yếu nhân chính trị hiện đại. Ðàn ông tụm lại với nhau, để đàn bà riêng một chỗ. Ai cũng phải cầm ly rượu càng sớm càng tốt, hết ly nầy đến ly khác. Người nào cũng tìm cách lòe người nghe rằng họ rất gần với giới quyền lực. “Anh biết không, bạn tôi ở Tòa Bạch Ốc nói với tôi rằng. . . ” Không gian có thể là ở Greenwich, Connecticut hay Winnetka. Illinois, và nội dung có thể là về trận chiến mới nhất tại thị trường chứng khoáng hay về những ai sắp được lên chức trong những hãng lớn.

Thế mà tối hôm nay, tất cả chúng tôi ngồi quây quần trước đống lửa, uống trà đá chanh. Vợ chồng ngồi với nhau và câu chuyện là về những chú ngựa đua của Al. Tôi bỗng nhận ra chúng tôi đang ở trong phòng khách của Al, cách thủ đô với nhiều biến động có đến cả trăm ngàn dặm. Tôi yêu thích sự đầm ấm và sự gần gũi chung quanh, nhưng luôn để mắt nhìn chừng Harold Hughes. Gretchen với nét đẹp của người đàn bà Bắc Âu, nhanh nhẹn mang những bánh táo nóng và kem ra mời khách. Với chiếc khăn choàng trước bụng, bà nhanh nhẹn, tươi cười mời khách, nhất là khi Harold ăn xong miếng thứ nhất còn thèm thuồng xin thêm.

Tôi bỡ ngỡ trước những điều mới lạ nầy nên cứ ngồi loay hoay hoài trên ghế. Tất cả đến đây để tôi gặp Thượng Nghị Sĩ Harold Hughes và những người khác. Họ cũng nhân dịp nầy cho tôi biết một ý niệm lạ lùng mà Doug gọi là thông công. Tôi đoán là Harold trong lòng cũng hơi bồn chồn nữa bởi tôi biết ông ta ít thích thù tạc bạn bè, nhất là tối nay, Eva, đang đau phải nằm nhà.

Nói một cách khác, Harold và tôi như là hai võ sĩ quyền anh ở hai góc đài, đi đứng không yên, mong cho đến lúc đấu nhau. Tất cả mọi người hiện diện đều biết chúng tôi sẽ chạm trán nhau chẳng sớm thì muộn, nhưng tôi không ngờ Harold khởi sự trước một cách thình lình.

Ông ta hỏi: “Chuck, tôi nghe nói là anh có liên hệ với Chúa Giê-xu. Anh có thể kể lại cho chúng tôi nghe được không?”

Tôi đâu có chuẩn bị tinh thần trước để có thể nói về Chúa Giê-xu cho những người lạ tôi chưa quen biết nhiều. Ngay cả Doug cũng chưa biết rõ hết chi tiết về những gì đã xảy ra cho tôi trước nhà Tom Phillips và sau đó là ở biển Maine nữa cơ mà. Trong vài phút chợt thoáng, tôi có ý định trốn tránh nhưng trong thâm tâm có sự trấn an thúc đẩy tôi. Khuôn mặt của Harold trong cởi mở chân thành, không gần gũi và cũng không lạnh lùng. Patty có vẻ nôn nã, lo lắng. Những người khác đều thản nhiên vui vẻ cả.

Mặc dầu là một diễn giả kinh nghiệm trên chính trường, nhưng lần nầy thì khác hẳn. Những lời nói phát ra ngập ngừng làm sao. Nhưng lạ thay, tôi không có cảm giác ngượng ngùng, chỉ hơi bỡ ngỡ một ít khi phải nói đời mình. Ðược nửa chừng, tôi suýt bỏ ngang khi thầm nghĩ, Họ có nghĩ mình điên khùng hay không? Bộ người ta đi nói hết người nầy tới người khác về sự liên hệ riêng tư giữa họ với Chúa sao? Tôi ngừng một lát rồi đảo mắt nhìn quanh. Không ai nói một lời nào nhưng mỗi nét mặt đều có ý muốn tôi tiếp tục.

 

“Ðêm nói chuyện với Tom Phillips đã đánh ngã một hàng rào dựng lên trong suốt đời tôi. Tuy nhiên, ngày hôm sau, tôi tự vấn lại lòng mình phải chăng những điều đau lòng về Watergate đã làm tôi bị chấn động, mất quân bình đến độ tôi sẵn sàng đi theo bất cứ một đường thoát nào. Tuần lễ kế đó ở Boothbay, tôi gom lại hết những ý đã có từ cảm xúc để xét lại bằng lý trí. Tôi đã thật sự biết Chúa Giê-xu là ai và tôi quả cần đến Ngài – rồi tôi dâng đời sống tôi cho Ngài. . ” Những lời nói nầy đã khiến cảm xúc tôi dâng tràn, tôi nghẹn ngào đến nỗi không nói lên lời trong giây phút. “Là một tín đồ Tin Lành mới, tôi biết mình cần phải học hỏi nhiều. Nếu anh chị em giúp đỡ tôi được bất cứ điều gì, tôi sẽ mang ơn lắm”.

Tôi bàng hoàng chìm sâu trong yên lặng. Khuôn mặt của Harold từ nãy giờ bàng hoàng kinh ngạc bởi những điều tôi nói, bỗng đưa hai tay lên trên rồi đặt mạnh xuống đầu gối của ông. “Thế là đủ. Chuck, anh đã tin nhận Chúa Giê-xu và Ngài đã tha thứ cho anh. Từ nay, tôi thương mến anh như anh em trong Chúa Giê-xu. Tôi sẽ đứng bên anh, sẽ bảo vệ cho anh với tất cả khả năng của tôi”.

Tôi boàng hoàng rung động như bị chìm ngập trong biển cảm xúc mênh mông nên chỉ thì thào được hai chữ “Cám ơn”. Trong suốt đời tôi, ngoài gia đình tôi ra, không ai thương yêu và gần gũi tôi cả. Giờ đây, người mà bao năm đã quyết hạ tôi và chỉ biết tôi có hai giờ đồng hồ qua đã nói lên tình yêu thương đậm đà dành cho tôi ấy.

Ðoạn hết cả chín anh em chúng tôi cúi đầu cầu nguyện lớn tiếng với nhau. Khi tôi chuẩn bị quỳ xuống, Harold chồm người về phía tôi với nụ cười gần gũi trên khuôn mặt. Khi ông quàng vai tôi một cách thân thiện như người thân yêu, tôi mới biết rõ rằng chữ thông công ý nghĩa như thế nào cũng như ý của Phaolô khi ông viết: “Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em. . . ” (Rôma 12:10).

Những người khác cũng hứa giúp đỡ và hướng dẫn tôi. Graham Purcell, một vị thẩm phán ở Texas trước khi được bầu vào quốc hội nói: “Những chính trị gia thường tránh những ai sắp bị tòa định tội, nhưng tín đồ Tin Lành thì lại kết chặt với nhau”. Al Quie biểu đồng tình: “Ðúng. Chúng tôi sẽ ở bên anh”.

Khi Patty và tôi chào từ giã, tôi thầm ngưỡng mộ trước những sự đối thoại không lời, chúng vũ bão hơn những lời nói được phát ra nhiều. Harold Hughes không cần phải nói với tôi lời nào nữa. Tôi có thể biết rõ ý anh qua nụ cười, qua cái quàng vai và qua ánh mắt chứa đầy sự quan tâm của anh. Tôi chỉ lo lắng mỗi một điều, đó là Patty sẽ nghĩ như thế nào đối với buổi cầu nguyện lạ lùng tối đêm đó. Nàng hết bỡ ngỡ đến ngạc nhiên trong suốt buổi ấy. Là một tín đồ Công Giáo La Mã, nàng chỉ tìm thấy Ðức Chúa Trời vào ngày Chúa Nhật trong một giáo đường trang nghiêm, nguy nga. Quỳ gối cầu nguyện trong phòng khách là một việc lạ lùng đối với nàng. Trong suốt chín năm lấy nhau, đây là lần đầu tiên nàng nghe tôi cầu nguyện lớn tiếng. Thật ra, tôi chỉ mới cầu nguyện có ba lần. Nàng không nói điều gì có vẻ chống việc làm nầy của tôi cả, nhưng qua khuôn mặt của nàng, tôi thấy những ngờ vực tận đáy sâu trong tâm hồn. Một sự đối thoại không lời. Tôi quyết định rằng chúng tôi cần nói chuyện nhiều về vấn đề nầy càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, những biến cố đến dồn dập sau đó đã trì hoãn việc nầy đến hàng tuần.

(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top