Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 3.c

Tái Sanh – Chương 3.c

BornAgain_CWC

Ba má tôi dậy sớm ngày hôm sau để tiễn vợ chồng chúng tôi lên đường đi nghỉ mát ở Maine. Ðôi mắt đầy lo lắng của ba tôi cho tôi biết ngay ông muốn nói gì khi ông đề nghị chúng tôi đi ra phía sau nhà nói chuyện.

“Con có chắc là không ai nói với con điều gì về vụ đột nhập Watergate trước khi vụ nầy xảy ra phải không?” Ông hỏi. Chúng tôi đã trò chuyện nhiều về Watergate hôm chiều Chúa Nhật, nhưng đầu óc luật sư của ông vẫn tiếp tục nghi vấn.

“Chắc chắn mà ba. Con đã nhớ lại mọi mẫu đối thoại trong quá khứ, nhưng không có gì về vụ nầy cả.”

Ba tôi dọ dẫm từng bước đi khi chúng tôi bước lên bãi cỏ hơi triền dốc. Lần đầu tiên tôi nhận ra thời gian bảy mươi năm qua mau đã bỏ ông sau lưng. Dưới mái tóc trắng lắp lánh dưới nắng mai là cặp lông mày rậm với đầy nếp nhăn trên khuôn mặt.

Ông hỏi một lần chót: “Tao đã đọc hết mọi tài liệu về vụ Watergate tối qua và tao thấy không có lý do gì mà mầy có thể bị tố cáo có dính líu. Mầy có chắc là đã nói hết mọi việc cho tao?”

Tôi trấn an ông rằng đã nói hết sự thật, khuôn mặt ông bỗng hết lo lắng. Ba má tôi ôm chúng tôi chào tạm biệt. Tôi lui xe ra vùng chính rồi trực chỉ vùng biển Maine. Patty mang áo lạnh, quần dài, miệng luôn cười tươi. Nàng vui vẻ kể chuyện về tôm hùm, hến, và quang cảnh trên đường đi. Trong mấy tháng, đây là lần đầu tiên chúng tôi có dịp riêng với nhau.

Ðầu óc tôi mãi bận rộn suy nghĩ nên không nói chuyện với Patty nhiều. Tôi không suy nghĩ về vụ Watergate nhưng về cuộc viếng thăm Tom Phillips đêm hôm trước. Tôi tưởng sáng nay thức dậy sẽ ngượng ngùng về những tình cảm tỏ lộ không kiểm soát đêm qua. Nhưng không. Sự tự do tư tưởng của tôi vẫn còn nguyên vẹn. Có điều gì quan trọng xảy ra, nhưng tôi không biết điều đó là gì? Có lẽ tôi sẽ tìm được câu trả lời trong sách Thực Chứng Tin Lành.

Không có nơi nào tốt bằng vùng biển để đi tìm những câu trả lời nầy. Từ tuổi ấu thơ khi đi dọc theo bờ biển đầy đá ở Winthrop, Massachusetts, biển đối với tôi quả là quan trọng. Tôi luôn có cảm giác trẻ hẳn lại khi một mình giữa đại dương bao la, cảm nhận cái mãnh lực của nó qua những đợt sóng vỡ nhòa tung toé thành bọt trắng xóa trên những hòn đá đầy rêu.

Hồi năm 1960, khi chiến dịch vận động tranh cử ở tiểu bang Massachusetts làm tôi mệt nhoài và lo lắng đến độ gần kiệt sức, tôi lái xe đến một nơi ưa chuộng gần biển ở Gloucester. Ðứng trên đỉnh đá cao nhô ra biển, tôi cảm thấy sảng khoái và thanh thản khi nhìn những ngọn sóng lớn đập vào đá biến thành những đợt sóng lớn lăn tăn rồi biến mất. Sau nầy tôi đến đây trở lại để tìm giải pháp cho cuộc hôn nhân lần thứ nhất của tôi. Bây giờ, đứng trước một quyết định quan trọng, biển cả sẽ giúp tôi có sức mạnh và sự thanh thản trong tâm hồn để đối phó.

Sau bốn giờ lái xe, Patty và tôi đến Boothbay Harbor, một làng đánh cá và cảng nhỏ cách Boston chừng một trăm tám mươi dặm. Hai bên đường làng nhỏ là những căn nhà mái xiêu màu xám san sát nhau. Gió mát từ phía Ðông làm không khí thoang thoảng mùi muối và cá từ biển, vốn tiêu biểu cho những thị trấn gần biển của vùng New England. Mặc dầu là làng cổ, nhưng Boothbay trông có vẻ tươi mát, sạch sẽ, ngay cả những ngư phủ qua lại đều chỉnh tề y phục, nai nịt đàng hoàng, đi hiên ngang rạng rỡ trong nắng sớm.

Vì không giữ chỗ trước nên chúng tôi phải ra khỏi thị trấn chính, lái xe trên con đường ngoằn ngoèo dọc theo biển để tìm một nơi nghỉ yên tĩnh, vắng vẻ. Ra khỏi thị trấn chừng mười hai dặm, Patty để ý một quán trọ nhỏ ở cuối dãy đất đâm thẳng ra biển Ðại Tây Dương. “Chắc không ai biết chúng ta ở đó đâu” tôi ngỏ lời đồng ý, thầm nghĩ đến những người tò mò, những người sưu tầm chữ ký, những cán bộ và kẻ thù của Nixon mà tôi biết chắc họ sẽ sẵn sàng nói ra những gì họ nghĩ, nói dông dài và say sưa nữa.

Chúng tôi lái xe chậm rãi qua con đường hẹp, bụi bậm trên một cây cầu nối liền đảo nhỏ và đất liền. Chủ quán là một người đàn ông cao lớn, khuôn mặt nghiêm trang, lạnh lùng, nhìn chúng tôi từ đầu đến chân như cú vọ tiêu biểu cho sự thận trọng của người dân vùng Down Easter rồi đưa chúng tôi xem một gian còn trống. Chúng tôi thích và nhận lời ngay. Gian nhà có một phòng lớn và hiên ngoài nằm ngay trên mặt biển.

Patty bắt đầu mở vali ra, tỏ vẻ thích thú vì đã tìm được một nơi lý tưởng, còn tôi trở lại văn phòng làm thủ tục. Sau khi ký giấy xong và ngồi đợi, tôi để ý thấy người chủ quán thì thầm to nhỏ với một nhân viên của ông ta. Ông trở lại nhìn tôi một cách lạnh lùng.

– “Colson hả?”

– “Ðúng.”

– “Ông McLean, gần Washington phải không?” Ông ta nhìn vào địa chỉ tôi mới ghi xuống một cách nghi hoặc. Lòng tôi thắt lại; Watergate theo chúng tôi đến tận nơi xa xôi, hẻo lánh như thế nầy.

Ông nói điềm tĩnh: – “Người bạn nầy nói với tôi rằng ông nổi tiếng lắm.”

– “Không đâu ông”.

– “Ông đã từng xuất hiện trên TV?”

– “À có, chừng vài lần thôi. Ông biết mà, vụ Watergate nầy lộn xộn lắm.” Tôi tự nhủ: – “Tôi giấu diếm để làm gì nữa bây giờ?”

“Ừ hử” theo sau bởi một sự im lặng và cái nhìn chăm chăm. “Vụ Watergate vẫn chưa giải quyết được à?” Chữ “Ừ hử” thường được nói bởi người vùng Down Eaters bằng một giọng nhấn mạnh và thường có nghĩa “Ừ, vâng”, “Có lẽ”, “Tôi không biết tính sao”, “Chuyện đó hơi lạ” và nhiều ý nghĩa khác nữa.

– “Ðúng chuyện nầy cũng còn kéo dài.”

– “Tôi tưởng chuyện nầy đã được chấm dứt từ hồi tháng sáu. TV của tôi bị hư rồi.” Người chủ quán vừa nói vừa lạnh lùng trao tôi chìa khóa gian nhà.

Tôi nóng lòng muốn nói với Patty rằng, may quá, chúng tôi đã tìm một nơi mà TV bị hư! Chung quanh chúng tôi là biển cả với màu xanh biên biếc đang gầm thét ầm ĩ. Tôi nói với Patty: “Ðây quả là thời gian quý báu để nghỉ khỏe cho tâm hồn thanh thản”, rồi nói với chính mình, “Ðây quả là thời gian quý báu để suy nghĩ về Ðức Chúa Trời.”

Trong đêm đầu tiên đó, tôi lấy sách của Lewis ra và tập giấy vàng đặt kề bên để ghi xuống những điểm chính như thể tôi chuẩn bị cho cuộc hầu tòa quan trọng. Trong giây cảm xúc mãnh liệt đêm hôm trước, tôi đã đầu phục cho một cái gì hay một nhân vật nào đó. Nhưng bây giờ, thói quen cũ bắt đầu trở lại để chống đối việc làm của tôi đêm qua. Việc làm luật sư của tôi bắt đầu phải phân tích trước khi quyết định, và mọi lý luận phải chia thành hai phần rõ rệt: lợi và hại. Tôi tự hỏi không biết mình có vượt qua được những lý luận chống đối về mặt lý trí để có thể tin những gì mà con tim tôi cảm xúc.

Tôi viết ngay đầu trang: – “Có một Ðức Chúa Trời không?”

Tôi nhớ lại một đêm cách đây hai mươi năm trước khi đứng trên sân tàu USS Metette đi tuần ngoài khơi nước Guatemala nhìn lên khoảng tối bao la trên bầu trời. Tôi không giải thích được làm sao một vũ trụ vĩ đại như vậy với hàng ngàn ngôi sao và những chuỗi tinh tú, có thể tự sắp đặt thứ tự, gọn gàng và ăn khớp với nhau mà không bởi một quyền năng lớn lao nào tạo dựng lúc ban đầu và điều khiển chúng. Tôi chấp nhận mà không một chút nghi vấn rằng có một quyền năng mạnh mẽ hơn loài người đã tạo nên chúng và tôi biết ngay quyền năng ấy là chính từ Ðức Chúa Trời.

Ðoạn tôi hồi tưởng lại một câu chuyện kỳ lạ xảy ra bảy năm về trước. Mùa hè năm 1966 tôi mua cho hai đứa con trai tôi một chiếc thuyền buồm cao chừng năm thước và đem tới nhà một người bạn gần hồ New Hamshire để dạy chúng lái. Christian chỉ mười tuổi, quá thích có được chiếc thuyền riêng cho chính mình nên dù hôm ấy trời mưa nhẹ, nó cứ nằn nặc đòi đi thử cho được.

Thuyền từ từ ra khỏi bờ, tôi nghe âm thanh của nước vỗ vào mũi thuyền và tiếng gió đập mạnh vào cánh buồm. Tôi đứng ở đầu thuyền canh chừng cần lái, còn Chris mặc áo choàng nylon đứng giữa giữ chặt cánh buồm. Khi biết mình đang điều khiển chiếc thuyền, khuôn mặt non choẹt như sữa của nó bỗng rạng rỡ hẳn lên, đôi mắt nó đầy sự ham thích vì đã khám phá một điều gì đó mới lạ và đôi tay nó hăng say chống cự với sức gió. Trong một phút bất chợt mà sau nầy tôi không bao giờ quên được, tôi thì thầm nói chuyện với Ðức Chúa Trời. Tôi còn nhớ rõ từng chữ một: “Cảm ơn Ðức Chúa Trời vì đã cho con đứa con nầy, vì đã cho con giờ phút quý báu nầy. Chỉ nhìn vào đôi mắt của đứa trẻ nầy là đời con đã mãn nguyện. Tương lai con ra sao đi nữa, hay nếu ngày mai con có chết, thì đời con đã đầy đủ và trọn vẹn. Cám ơn Ngài.”

Sau đó, tôi kinh ngạc vì biết ra mình vừa nói chuyện với Ðức Chúa Trời, bởi đầu óc tôi không tin Ngài hiện diện như một Con Người. Ðó là một sự bày tỏ lòng biết ơn một cách tự nhiên không qua lý trí và không cần tìm hiểu lý do. Ðiều quan trọng hơn nữa là nó hàm ý rằng đối thoại với một Ðức Chúa Trời chưa được chứng thực có thể xảy ra. Làm sao mà tôi có thể nói chuyện, nếu không phải là tận đáy sâu trong tiềm thức tôi cảm nhận được rằng có một Người ở đâu đó đang lắng nghe?

Tôi nghĩ, có lẽ bởi trực giác và qua cảm xúc mà C. S. Lewis đến với Ðức Chúa Trời. Tôi mở sách Thực Chứng Tin Lành và thấy mình đối diện với một tác giả lý luận rất vững, rõ ràng và có thứ tự hẳn hoi. Nếu phải đối diện với một người như vậy trong một phiên tòa chắc là tôi phải điêu đứng, khổ sở lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã viết đầy đủ hai trang giấy về lý luận thuận cho câu hỏi: – “Có một Ðức Chúa Trời không?”

Về phía lý luận chống, tôi kể những nghi vấn ta thường gặp trong một xã hội vật chất và tin tưởng hoàn toàn khoa học như hiện nay – chẳng hạn như ta không thấy, không nghe và không cảm giác được về Ðức Chúa Trời.

Hay là ta có thể?

Vậy chứ chuyện gì đã xảy ra cho tôi hôm ở nhà Tom Phillips đây? Tôi có cảm xúc gì đây? Không phải là sự yêu thương sao? Có một lực vô hình nào đã hành động trong con người tôi, và tôi đã từng biết chính lực vô hình mãnh liệt hơn những lực ta có thể thấy được rất nhiều.

Một động cơ nén 280 mã lực có thể đẩy một khối lượng cố định nào đó để vượt qua sức ma sát có thể tính trước được, nhưng nó không thể đẩy thêm một ký lô nào ngoài khối lượng cố định nói trên. Ðộng cơ được làm bằng sắt cứng, sự hiện diện của nó đối với mọi người. Thế nhưng, tình yêu dù không ai có thể thấy và sờ mó được có thể lay chuyển con người và quốc gia một cách vô hạn định. Tôi đã thấy vì tình yêu mà một vị vua đã thoái vị. Một tình yêu khác đã khiến một người lính nằm chụm lên trái lựu đạn vừa tung đến để cứu đồng đội mình. Tình yêu thương có lực mạnh gấp ngàn lần ngay cả động cơ mạnh nhất thế giới.

Lòng tôi bị chấn động nhiều bởi ý nghĩ nầy. Ta thấy được luật pháp một phần nào, bởi nó được ghi lại trên giấy tờ và nó hiện hữu cho phép con người làm điều nầy, cấm đoán con người làm điều kia. Nhưng ta không thể thấy hay sờ mó sức mạnh thực sự của nó. Sức mạnh thật sự nầy chỉ được biểu hiện qua sự chấp nhận luật pháp và cách sống của mọi người.

Là một luật sư, tôi phải thán phục cách lý luận của Lewis về luật đạo đức. Ông chứng minh rằng sự hiện hữu của nó là thật và con người đã nhận thức được bộ luật đạo đức một cách thuần nhất, không một mâu thuẫn từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, từ quốc gia nầy qua quốc gia kia. Lần đầu tiên tôi mới nhận thức ra rằng không phải con người đã tạo ra bộ luật đạo đức nầy. Bộ luật còn tồn tại mặc dầu con người cố gắng nhiều để đánh đổ nó. Cho nên, sự tồn tại lâu dài nầy phải do một bàn tay nào đó đứng sau. Một lần nữa, đó là Ðức Chúa Trời.

Sáng sớm hôm sau, tôi trở lại với cuốn sách của Lewis, với xấp giấy vàng nhỏ và với những câu hỏi của tôi. Patty bắt đầu nhìn tôi nghi ngờ. Thường mỗi khi đi đến những nơi lạ, tôi rất hăng hái, hoạt động và không ngồi yên một chỗ được, cố đi xem những thắng cảnh mới, còn giờ đây tôi ngồi im lặng, đắm mình vào một cuốn sách.

Nếu có một Ðức Chúa Trời yêu thương hiện hữu, câu hỏi kế tiếp phải là: – “Nếu Ngài là thiện, tại sao Ngài lại đang cai quản một thế giới đầy tội ác?” Một lần nữa, đầu óc luật sư méo mó nghề nghiệp của tôi lại đưa ra một nguyên tắc tương đương trong luật pháp. Từ buổi ban đầu, Ðức Chúa Trời cho nhân loại quyền cai trị trên trái đất mà Ngài đã tạo dựng (Sáng Thế Ký 1:26-30). Nói theo ngôn ngữ của luật pháp, Ngài chính là chủ và cho chúng ta làm người quản lý của Ngài.

Theo luật pháp, người quản lý có sự tự do chứ không phải chỉ là người đầy tớ hay người máy. Tuy nhiên, người quản lý chỉ được quyền tự do trong một phạm vi ấn định nào đó. Phạm vi của quyền hạn hay – trong luật pháp gọi là thẩm quyền tối đa – và Ðức Chúa Trời có ghi lại phạm vi nầy trong Kinh Thánh.

Cùng với những điều nầy, Ngài lại cho chúng ta nhiều sự tự do để hành động. Ðây là điều căn bản quan trọng. Nếu ta cho người quản lý của mình ít sự tự do hành động, họ không phải là người quản lý nữa, và rồi cuối cùng chính ta phải làm lấy hết mọi việc. Với nhiều sự tự do, ta có thể vi phạm những giới hạn đó của Ngài và bất tuân Ngài cũng như bất cứ một người quản lý nào đi quá giới hạn quyền hành của mình được ấn định bởi luật pháp thường ngày. Việc nầy xảy ra hàng ngày, con người cũng vi phạm giới hạn khi ta hành xử quyền quản lý mà Ðấng Tạo Hóa đã cho phép.

Lịch sử đã chứng minh điều nầy. Nhìn lại quá khứ, con người đã lạm dụng quyền hành Chúa ban cho, họ độc ác với đồng loại của họ và gây nên biết bao tang thương, đau khổ. Và có lẽ con người sẽ tiếp tục mãi mãi như vậy.

Ðể hiểu lý do tại sao, tôi trở lại chương sách mà Tom Phillips đã đọc cho nghe: “Kiêu Ngạo và Tự Ái”. Lewis viết rằng: “Khi mà bạn và cái tôi ở trong người, bạn có thể đặt bạn trên hết – bạn muốn là cái rốn của vũ trụ – là Ðức Chúa Trời. . . ” Bây giờ tôi mới thấy câu nói nầy thấm thía và đau đớn làm sao trong chính đời sống tôi.

Chính trong ngày thứ hai nầy tôi mới có đủ can đảm để nói cho Patty biết những gì tôi đã làm. Tôi hỏi: – “Em tin vào Ðức Chúa Trời, phải không?” Chúng tôi đang ngồi ngoài hiên đọc sách. Patty có ý muốn biết về cuốn sách nhỏ bìa xanh, trắng nhưng tôi chỉ trả lời qua loa là do Phillips tặng.

Nàng trả lời: “Anh biết là em tin Chúa mà”, với một thoáng nghi ngờ trong đôi mắt – có vẻ nàng sợ có một ngày kia tôi sẽ nói nàng đừng theo Công Giáo La Mã nữa, một nỗi sợ nằm ngủ sâu trong tiềm thức.

– “Nhưng em có thật sự suy nghĩ sâu xa về điều đó không? Chẳng hạn như Ðức Chúa Trời là ai, làm sao Ngài có thể để ý từng người hay là tại sao Ngài lại tạo ra chúng ta, vân vân và vân vân?”

Khuôn mặt ban đầu chỉ nghi ngờ của Patty nay tỏ vẻ bực bội: “Anh đọc cái gì trong cuốn sách đó vậy?”

Trong mười năm lấy nhau, chúng tôi chưa hề nói chuyện với nhau về Ðức Chúa Trời, hay tôn giáo dù chỉ là một chốc. Lâu lâu tôi hỏi cảm tưởng của Patty về lễ xưng tội, tiệc thánh và lễ Chúa Nhật, nhưng đó chỉ là những vấn đề có tính cách nghi lễ, thủ tục. Chúng tôi không bao giờ nói đến những vấn đề thực sự, chẳng hạn như một Ðức Chúa Trời hằng sống, niềm tin của mỗi chúng tôi. Chúng tôi đã làm nhiều điều chung với nhau nhưng chưa hề nói đến cái nội dung, cái chất liệu thật sự của đời sống. Ngay cả sự liên hệ sâu đậm, mật thiết nhất của con người mà cũng chỉ ở bề ngoài!

Tôi tiếp: – “Anh đang đi tìm, tìm cái gì thật và cái gì không thật, chúng ta là ai, sự liên hệ của anh đối với Ðức Chúa Trời như thế nào”. Ðoạn tôi kể lại cho nàng một phần của câu chuyện hôm ghé thăm Tom Phillips. Tôi không nhắc đến chuyện khác, nhưng chỉ chuyện khám phá ra chính mình như bác sĩ chẩn được bịnh, vì không muốn vợ tôi biết tôi đã cảm xúc mạnh đến bật khóc. Khuôn mặt nàng không nghi ngờ, nhưng có lẽ bị lôi cuốn bởi câu chuyện.

– “Em coi, anh đang đi tìm những câu trả lời và cuốn sách nhỏ nầy thật là có ích”.

– “Có lẽ anh cần nói chuyện với một linh mục”, Patty đề nghị. Qua ánh mắt trìu mến của nàng, tôi biết nàng muốn giúp tôi vì biết rằng đây là một sự tìm kiếm chân thật, chứ không phải là lời nói đầu môi chót lưỡi cho qua chuyện. Trong những người tôi biết, Patty là người dịu dàng và lo lắng cho người khác nhất. Nàng thường lấy vấn đề của người khác làm vấn đề của chính mình và thường mang lấy hết những gánh nặng mà tôi đã chịu trong quá khứ. Nàng hơi ngạc nhiên trước vấn đề mới và lạ lùng nầy – tìm kiếm Ðức Chúa Trời – nhưng tôi biết nàng sẵn sàng chia sẻ vấn đề đó với tôi.

Tôi kềm hãm lời trách móc: – “Tại sao không một linh mục hay mục sư nào trong bốn mươi năm qua giải thích điều nầy cho tôi?” Tôi phải đổ tội cho ai đây? Chính tôi đã không bao giờ tìm kiếm và không muốn nghe những người đó cơ mà. Bây giờ, lần đầu tiên trong đời, những lời giải thích của Lewis và gương của Phillips đã mở ra trước mắt tôi một thế giới hoàn toàn mới.

Chúng tôi nói chuyện với nhau cho đến tối. Bên ngoài, tiếng chuông nhỏ inh ỏi dẫn đường cho những người ngư phủ đi qua màn sương đêm dầy đặc. Sóng vỗ mạnh vào những tảng đá phía bên dưới chúng tôi. Tôi thấy thoải mái khi Patty biết về sự tìm kiếm niềm bình an trong chính tôi, và về việc đi tìm thuốc chữa cho căn bệnh đã hút hết sức sống trong tám tháng qua ra khỏi tôi, kể từ đêm bầu cử Tổng Thống năm ngoái. Cuối cùng, chúng tôi quyết định khi về đến nhà sẽ lấy trong kho cuốn Kinh Thánh lớn cất giữ đã lâu và bắt đầu đọc.

(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top