Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Tái Sanh – Chương 2.b

Tái Sanh – Chương 2.b

BornAgain_CWC

Bây giờ tôi có chiếc hộp của Arther và ba công tố viên ở Washington đứng về phía tôi. Nhưng niềm vui cũng chẳng được bao lâu. Việc bổ nhiệm vị giáo sư đại học Harvard tên Archibald Cox làm công tố viên đặc biệt đã thay đổi mọi sự.

Cox, một người bạn lâu năm của gia đình Kennedy, vừa nhậm chức là giải nhiệm ngay những công tố viên cũ. Trong phiên họp đầu tiên, Silbert trình bày cho Cox bản tường trình đầy tám mươi trang về tình hình của cuộc điều tra. Theo bản nầy thì tôi không có tội. Cox lướt qua, chăm chú nghe những lời của Silbert. Tôi được nghe kể lại khi Silbert dứt lời, vị giáo sư nhìn trố qua cặp mắt kính, thắc mắc: “Chỉ có vậy sao?” Silbert gật đầu. Cox hỏi gặng: “Chứ còn Colson thì sao?”

Sau đó, trong phiên họp báo đầu tiên. Cox loan báo một cuộc điều tra chi tiết và đầy đủ hơn về vai trò của Colson trong vụ Watergate sẽ được tiến hành. Thế là tôi lại trở về chỗ cũ của mình.

Patty và tôi đến New York vào đầu tháng sáu để dự đám cưới con trai của Charlie Morin thì Tổng Thống điện thoại đến: “Sao! Lúc nầy anh vẫn bình thường chớ?” Ðây quả là giọng nói của Nixon, chắc nịch, tự tin và mạnh. “Tôi nghe nói anh đang suy nghĩ về mấy vụ phỏng vấn trên TV. Nếu anh nhận lời thì tốt lắm – anh làm là tiện nhất. Nhưng phải cẩn thận nghe. Ðừng để họ tấn công anh thêm.”

Tôi biết là ông ta tìm cách nói để tôi vui lòng nhưng lòng tôi bỗng dưng hăng hái lên – trở lại với trận chiến. Tổng Thống cần tôi.

Tôi nói: “Howard Smith muốn tôi xuất hiện ở chương trình đặc biệt dài nửa tiếng của hắn. Nhưng tôi sẽ giao lại cho John Dean.” Tôi đang ngồi xếp bằng trên nệm của khách sạn, Patty nhìn tôi, khuôn mặt bà lo âu nhìn người chồng chuẩn bị lao đầu vào những cuộc khẩu chiến. Tôi rất muốn nhận lãnh trách nhiệm và lòng tôi bỗng dưng rộn lên bởi Nixon đã đích thân gọi và cần đến sự giúp sức của tôi.

Ông nói tiếp: “Chuck! Anh vẫn còn phục vụ cho Tổng Thống mà. Hãy nói sự thật ra đi. Dean nói láo. Tôi vô tội. Hắn ta nói nhiều điều tệ lắm. Anh biết rõ quá rồi.”

Tôi trả lời: “Vâng! Thưa Tổng Thống.”

Chúng tôi nói chuyện với nhau khoảng bốn chục phút. Ông chuẩn bị cho tôi lâm chiến, còn tôi ngoan ngoãn tập dượt. Cũng như thời gian trước đây, thời gian của những ngày vinh quang, tranh đấu cho một lý tưởng, và tin tưởng mãnh liệt vào chân lý nào đó. Tôi như thoảng nghe bài hát “Chào Mừng Lãnh Tụ” văng vẳng ở bên tai. Không chừng đó là lý do khiến tôi thay đổi vô vị trong mấy tháng qua. Tôi cần một mục đích và Nixon chính là mục đích ấy. Tôi vội nghĩ đến niềm hãnh diện. Phải, tôi có thể bào chữa cho Tổng Thống. Phải, tôi có thể lật ngược được thế cờ.

Vào tuần sau đó tôi lao đầu vào việc nầy. Ðài ABC, tung ra một chương trình đặc biệt dài nửa giờ hôm 5/6/1973. Tôi khẳng định: “Tôi biết rằng Tổng Thống Hoa Kỳ không dính líu vào vụ Watergate, tôi biết rằng Tổng Thống Hoa Kỳ không bưng bít gì về vụ nầy.” Smith, người hướng dẫn chương trình gật đầu lịch sự. Tôi nhấn mạnh qua giọng nói của mình cũng như niềm tin tưởng mãnh liệt trong lòng tôi. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chính ông đã muốn tôi làm việc đó.

Sau đó, Tổng Thống điện thoại cho tôi hay rằng Julie (con gái Nixon) có xem qua chương trình nầy và khen là tôi đã trả lời rất hay. Ông không quên khích lệ tôi. Nixon không bao giờ thú thật là đã có xem TV, ngay cả với tôi, tuy nhiên, Minola (một nhân viên Tòa Bạch Ốc) cho tôi hay sau đó Tổng Thống sai anh mang TV vào văn phòng để ông có thể theo dõi. Sự khích lệ của Nixon làm tôi lên tinh thần.

Những cuộc phỏng vấn kéo dài đến cuối tháng sáu. Giờ tin tức của đài CBS có phần phỏng vấn tôi. Tôi lên tiếng bênh vực hết mình, vô điều kiện cho Richard Nixon, đối lại những lời tấn công mãnh liệt của John Dean, người hiện đang là lãnh đạo thành phố tố cáo Nixon. Rồi thì cuộc phỏng vấn trước sân nhà tôi, ngay hành lang trụ sở làm việc, những bài phỏng vấn dài trên báo chí. Một tuần tôi xuất hiện trên truyền hình toàn quốc ít nhất là hai lần, có khi ba lần. Trong khi đó, Dave tiếp tục yêu cầu Ủy Ban Ðiều Tra Ervin cho tôi được điều trần trước Ủy Ban nhưng không có kết quả.

Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên đặc biệt về Watergate của đài NBC trên chương trình “Hôm Nay”, tôi tiếp tục tấn công Dean và hết mình bảo vệ Nixon. Trong chương trình “Ðối Diện Với Quốc Gia” tôi còn suy nghĩ rộng hơn: “Những gì xảy đến cho Charles Colson hay Bob Haldeman hay John Ehrlichman hay John Mitchell hay bất cứ người phụ tá nào khác của Tổng Thống đều không quan trọng. Ðiều quan trọng trước quốc dân Hoa Kỳ là Tổng Thống có hay không dính líu vào vụ Watergate? Tôi nghĩ điều tối cần thiết bây giờ là toàn dân Hoa Kỳ muốn biết ngay sự thật về Tổng Thống Hoa Kỳ.” Tôi trở thành người bảo vệ Nixon.

Trong khi đó, John Dean tiếp tục tấn công trong suốt năm ngày điều trần được trực tiếp truyền hình đến tám mươi triệu dân Mỹ. Lời tố cáo của Dean rõ từng điểm. Giọng anh ta lạnh lùng kê khai ngày tháng những buổi họp quan trọng – 13/3, 21/3 – và tố cáo Nixon dính líu vào sự che đậy vụ Watergate ngay từ ban đầu, cũng như đã ra lệnh bưng bít sự thật. Những lời tố cáo rõ ràng cần những lời bào chữa hay đính chính rõ ràng.

Nhưng không, Nixon yên lặng. Ông rút lui, đau đớn vì bệnh nám phổi hành hạ – cơn đau đầu tiên từ lúc làm Tổng Thống cho đến bây giờ. Ông bàn với tôi về vấn đề từ chức trong một cuộc điện đàm vào một đêm khuya tháng bảy. Hình như vì ông không biện minh được, nên không thể từ chức. Ðối với ông, từ chức là một sự nhục nhã vô cùng. Còn một yếu tố chi phối nữa mà chỉ có một ít người biết đến – một công tố viên ở Baltimore, Tổng Thống Nixon, anh em luật sư đồng sự của tôi và tôi. Thể theo lời yêu cầu của Tổng Thống, chúng tôi đang giải quyết một vấn đề luật pháp “nhỏ” giùm cho Phó Tổng Thống Spiro Agnew. Ông ta bị người ta dọa tố cáo về một hình tội nào đó và có thể không còn tại chức lâu để thay thế cho Tổng Thống. Trí tôi bỗng lóe lên sự trầm trọng của cuộc khủng hoảng – cả Tổng Thống lẫn Phó Tổng Thống đang bị tê liệt trước những tấn công. Ý nghĩ đó khiến tôi quá lo sợ nên xóa tan ngay.

Mặc dầu tin tưởng Nixon vô tội, nhưng tôi phải thú thật là tôi chưa đến dự khán một buổi điều trần nào của Dean cả. Tuy nhiên, sự nghi ngờ về Dean vẫn thường lóe sáng trong đầu tôi. Giả sử Dean nói thật và Nixon nói láo (chuyện hơi khó tin nhưng có thật, sau nầy tôi mới khám phá ra) câu chuyện có gì là quan trọng không? Không. Nixon là một vị Tổng Thống và bổn phận của tôi là phải luôn luôn bảo vệ ông. Có như thế mới là Phụ Tá Tổng Thống chứ – trung thành là một điều tối cần thiết. Những vị Tổng Thống trong quá khứ sẽ không tồn tại lâu nếu không có những người cộng sự trung thành – từ trước đến nay tôi trung thành mà không một nghi vấn. Ðây là nguyên tắc căn bản gói trọn một điều tuy giản dị nhưng không thể nào đánh đổ được. Dean đã vi phạm nguyên tắc ấy, còn tôi đang tuân theo nó.

Những biến cố xảy ra trong năm 1974 cho thấy khi tích cực bảo vệ Nixon, tôi đang vô tình đánh lừa Smith, Stern và hàng triệu công dân Mỹ khác. Ðây là một điều không bao giờ tôi nghĩ đến. Ðiều nầy đã khiến tôi bị dằn vặt bởi một mặc cảm tội lỗi và xấu hổ nặng nề hơn bất cứ việc làm xấu xa nào khác trong thời gian làm việc cho Tổng Thống mà báo chí đã tố cáo tôi.

Là nhân vật bảo vệ Nixon số một, phía chống đối chĩa mũi dùi tấn công vào tôi. Những lời tố cáo, thật cũng như tưởng tượng, xuất hiện hàng ngày trên những hàng tít. Báo Washington Post ngày 9/6/1973: “Colson Thúc Ðẩy Vụ Ðột Nhập” – Báo Post ngày 12/6/1973: “Colson Phải Ra Ðiều Trần Trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin” – Báo Washington Star ngày 13,14/6/1973: “Luật Sư Cộng Sự Của Colson Hối Hận Về Bức Thư” – Báo Post ngày 15/6/1973: “Colson Tuyên Bố Ông Chỉ Thị Chuyến Ði Của Hunt” – Báo Times ngày 15/6/1973: “Colson Nói Chính Ông Ðưa Hunt Vào Việc Ở I.T.T.” Báo Post ngày 21/6/1973: “Hunt Tiết Lộ Colson Chỉ Thị Vụ Ðột Nhập Vào Nhà Bremer” – Báo Times ngày 30/6/1973: “Colson Xác Nhận Có Ủng Hộ Ủy Ban Ðiều Tra Của Kennedy Nhưng Chối Là Không Biết Về Sự Gíup Ðỡ Hunt Của CIA.”

Những bản điều trần trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin trong tháng Bảy đưa tình hình đến cao điểm. Ngày 16/7/1973, nhiều tiếng đồn khắp Washington cho biết sẽ có một tin động trời sắp tung ra trong phần điều trần ngày hôm đó. Dave Shapiro và tôi chăm chú theo dõi TV. Alex Butterfield, phụ tá của Haldeman, trong bản điều trần đã tiết lộ là tất cả những cuộc nói chuyện của Tổng Thống trong những phiên họp cũng như qua điện thoại đều bị thu lén từ năm 1971. Việc thâu băng lén chỉ có Nixon, Haldeman, cùng nhiều phụ tá của Haldeman biết.

Dave quay nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc đầy nghi ngờ. Tôi lí nhí, mặt tái hẳn lại: “Tôi không biết gì về việc ấy.” Dave quay nhìn tôi thoạt đầu tỏ vẻ không tin, nhưng ái ngại thông cảm ngay sau đó. Anh ta cằn nhằn: “Hùm! Bạn của anh…”

Mới đầu là kinh ngạc, rồi đến tổn thương. Tôi không thể ngờ Tổng Thống có thể giấu tôi về việc thâu băng nầy. Tôi nhớ lại những dịp trong quá khứ mà đáng lẽ tôi phải nghi ngờ: Ông bước khỏi văn phòng ra hành lang để nói nhỏ vào tai tôi những tin tức quan trọng kín đáo về một nhân viên khác lúc ở trại David, trong một cuộc điện đàm với Tổng Thống tôi có nghe như tiếng đổi băng thâu. Tôi ngây thơ và quá tin cậy.

Rồi tổn thương đột nhiên biến thành sự giải thoát. Những băng nầy sẽ chứng minh là tôi không dính líu đến vụ Wategate. Những băng nầy sẽ chứng minh là tôi nói thật và Dean nói láo.

Tuy nhiên, nỗi vui không bao lâu thì dập tắt. Khi tôi đến Tòa Bạch Ốc ngày hôm sau; những khuôn mặt lo lắng như báo hiệu còn nhiều lâm nguy sắp xảy ra. Những băng thâu sẽ là đề tài của một xì-căng đan mới. Uy tín của Tổng Thống càng ngày càng xuống.

Bấy giờ nọc độc nguy hiểm của Watergate đã thấm sâu vào tận mạch máu của Washington. Nỗi lo sợ, một viễn tượng đen tối, và không khí anh em xâu xé nhau đang bao trùm khắp nơi. Những cô thư ký vui vẻ tươi cười nay lo lắng và hay cáu kỉnh. Nhân viên Tòa Bạch Ốc lo sợ cho tương lai. Anh em dễ nổi nóng và cãi nhau, những người mà trước đây có thể bàn cãi ngay cả những vấn đề sôi nổi trong sự hòa thuận và trật tự.

Ngòi viết báo chí khắc khe, chua chát hơn. Họ tấn công đời tư cá nhân, các bài phê bình độc địa, sâu đến tận xương tủy. Khi bút chiến trở nên ào ạt và tàn khốc, một số người đã sử dụng đến bạo động. Cảnh Sát Liên Bang được mời đến điều tra về ba vụ đe dọa đặt mìn tại nhà và xe hơi tôi sau những lần xuất hiện tên TV. Guồng máy chính phủ bắt đầu tê liệt, những nhân viên cao cấp về chính sách không còn hướng đi, những bản phúc trình đến Tòa Bạch Ốc nhưng không được thi hành, phải gửi trả lại. Hầu hết mọi người ở Washington bị lôi cuốn vào tấn kịch đang diễn ra trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin tại Thượng Viện. TV mở suốt ngày tại nhiều công sở.

Một buổi chiều nọ, Holly (thư ký riêng của Colson) gọi tôi đến xem TV ở phòng đợi sở làm. Không gian vẫn như mọi hôm vẫn là phòng hội trường tại Thượng Viện. Nhiều ống kính tụ về Thượng Nghị Sĩ Lowell Weicker của tiểu bang Connecticut, một thành viên của Ủy Ban Ðiều Tra Ervin. “Ủy Ban nầy đang bị áp lực” ông ta giận dữ tuyên bố rồi đọc qua những đạo luật về hình tội và tố cáo trước khán giả TV toàn quốc rằng tôi đã vi phạm những đạo luật đó vì tôi đã đứng sau lưng những bài viết thất thiệt trên báo chí về ông. Khuôn mặt ông giận dữ, sinh viên chen chúc đứng đầy nghẹt phòng hội để xem những người của Nixon bị hạch tội. Họ vỗ tay hoan nghênh rầm rộ khi lời tố cáo mười phút của Weicker vừa dứt.

Mặt Dave sầm lại: “Ông ta nói gì vậy?” Tôi ấp úng: “Tôi không biết nữa, Weicker là bạn nhậu và hàng xóm của John Dean. Tôi chưa bao giờ gặp Weicker, nhưng theo những gì tôi biết, ông ta biết điều lắm.” Tôi nhớ lại cuộc phỏng vấn với một phóng viên báo Star tuần trước đó. Tôi có nhắc đến tên Weicker nhưng không nói gì tổn thương đến ông.  “Nầy anh Dave, bây giờ chỉ còn một cách. Chúng ta điện thoại đến ông, giải thích về sự hiểu lầm nầy. Tôi tin là ông ta sẽ hiểu cho chúng ta.”

Tuy nhiên, vị Thượng Nghị Sĩ từ chối không muốn nhận điện thoại. Ông ta nhắn qua thư ký bảo tôi đến văn phòng ông ta tám giờ sáng ngày hôm sau. Khi bước vào cửa văn phòng ông, tôi biết ngay là có chuyện chẳng lành. Có tất cả năm người, ngồi hai bên bàn giấy. Trước mặt chúng tôi là Weicker dáng người to lớn, cao gần hai thước và nặng gần một tạ. Ông ta ngồi chống càm với khuôn mặt giận dữ còn hơn hôm trước.

“Ngồi xuống đây, ông Colson.” Ông vừa nói vừa chỉ dợm đứng để bắt tay tôi. Tôi vào chuyện bằng một giọng nói vui vẻ với hết cố gắng của tôi: “Thượng Nghị Sĩ, tôi cảm ơn ông đã cho tôi yết kiến. Tôi nghĩ đã có vài sự hiểu lầm xảy ra. Tôi không phải là người bày đặt chuyện về ông ở trên báo.” Thật ra ngay sau đó, báo chí đã tường thuật rằng việc mà Weicker tố cáo tôi là do một Phụ Tá Tổng Thống khác gây ra.

Vị Thượng Nghị Sĩ gạt phăng và trói tôi vào những việc làm khác của Tòa Bạch Ốc. Mẩu đối thoại càng lúc càng thêm hậm hực. Cuối cùng, ông chồm người giận dữ nói: “Quý ông ở Tòa Bạch Ốc làm tôi chán ngấy. Tôi không biết ông – nhưng thưa ông Colson, tôi biết ông thuộc nhóm người nào. Chúng ta sống trong hai thái cực. Tôi ở trong môi trường chính trị nghiêm khắc, còn ông thì ở trong …. Ông làm tôi nổi điên muốn bóp cái mũi ….. của ông.”

Vừa nói xong ông bước quanh bàn tiến đến gần, cách tôi chưa đầy hai tấc như người thủ môn đến ăn thua đủ với người trọng tài. Ông ta gầm lên: “Ông làm tôi chán quá, bước ra khỏi văn phòng tôi ngay.” Chúng tôi vội vã bước ra.

Chúng tôi đến câu lạc bộ ở trong dãy Văn Phòng Thượng viện. Dave giận dữ đến độ làm đổ tách cà phê, nhúng tay dơ vào tách thứ nhì. Cảnh Dave giận dữ khiến tôi cảm thấy được an ủi trong giây lát. Nhưng chỉ sau vài giờ, văn phòng của Weicker đã tung ra cho báo chí mọi dữ kiện về cuộc gặp gỡ của chúng tôi và trong tuần đó, những tít lớn và bài viết tai hại về tôi đến tới tấp như thác lũ.

Trong suốt biến cố Watergate, chuyện Thượng Nghị Sĩ Weicker đối với tôi là chuyện đáng đau lòng nhất, vừa bị tố oan trước hàng triệu khán giả truyền hình, sau đó suýt đi đến đụng độ với một Thượng Nghị Sĩ. Tôi quen với những luật chơi mạnh bạo nầy như bao nhiêu người khác, nhưng vụ Watergate đã tạo ra một sự điên loạn tôi chưa từng thấy trong suốt hai mươi năm ở Washington, sự điên loạn đã đưa đến tiêu chuẩn đạo đức trong chính trị xuống thành những tranh giành dao búa. Tôi quyết định hủy bỏ những cuộc phỏng vấn còn lại trên truyền hình. Cảm giác trống trải lại một lần nữa trở về, tôi đặt lại những nghi vấn về chính tôi, mục đích của tôi, và tôi tự hỏi sống để làm gì. Nhưng sự nghi ngờ xâm chiếm hồn tôi từ tháng hai nay bao trùm lấy tôi như chiếc áo liệm người chết.

Giữa lúc đó, hình ảnh buổi gặp gỡ với Tom hôm tháng Ba vẫn còn hằn sâu trong ký ức tôi. Tôi nhớ đến sự dịu dàng, sự nhân từ, khuôn mặt phúc hậu và những lời nói độc đáo của ông: “Tôi đã tin nhận Chúa Giê-xu và trao đời sống tôi cho Ngài.”

Mặc dầu không hiểu hết câu nói của Tom nhưng tôi biết trong câu nói chứa đựng một sự chân thành đơn sơ không chút ngượng ngùng. Tom tiêu biểu cho mọi điều mà Watergate và Washington không có: đạo đức, sự cởi mở, chân lý. Tôi thường nhớ đến câu nói của Tom trong thời gian khốn khó nầy, nhất là những nét trên khuôn mặt ông, tươi sáng, bình yên và chân thật làm sao. Tuy không biết nguyên nhân là gì, nhưng tôi thèm muốn được như Tom.

Sau nhiều cố gắng xin được điều trần trước Ủy Ban Ðiều Tra Ervin không có kết quả, vợ chồng chúng tôi quyết định đi xa nghỉ ngơi tại một miền chúng tôi ưa chuộng dọc theo bờ biển Maine sau khi Ủy Ban tạm ngưng nhóm họp kể từ 7/8/1973. Trên đường đi, chúng tôi ghé lại Dover, ngoài thành phố Boston để thăm cha mẹ tôi. Ông bà, năm nay ngoài bảy mươi, hết sức lo lắng và bồn chồn bởi những biết cố đang xảy ra ở Washington. Chúng tôi hy vọng chuyến viếng thăm sẽ giải tỏa một phần nào sự lo lắng của ông bà.

Khi đến Boston, không hiểu động cơ gì đã thúc giục tôi điện thoại cho Tom Phillips để hẹn ngày gặp nhau trò chuyện. Tom vui vẻ nhận lời. Chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau vào tối Chúa Nhật 12/8/1973 tại nhà Tom. Lòng tôi tự nhiên bỗng rộn rã lạ, tôi nóng lòng đợi ngày gặp Tom trở lại.

(còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top