Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Phóng Sự: Rời Bỏ Jehovah’s Witnesses

Phóng Sự: Rời Bỏ Jehovah’s Witnesses

Phóng sự: Rời Bỏ Jehovah’s Witnesses
Nguyên văn: Leaving the Jehovah’s Witnesses
Video: CityNews Toronto, Canada

Vài Nét Về Tà Giáo Chứng Nhân Giê-hô-va:

Chứng Nhân Giê-hô-va (Jehovah’s Witnesses) là một tà giáo, được thành lập bởi Charles Taze Russell vào thập niên 1870. 

Charles Taze Russell sinh ngày 16/2/1852 tại Allegheny, Pennsylvania (PA). Từ thuở nhỏ,  Russell theo gia đình thờ phượng Chúa với Hội Thánh Trưởng Lão tại Pittsburgh, PA.  Năm 13 tuổi Russell rời Hội Thánh Trưởng Lão tham gia Hội Thánh Congregational Church. Năm 16 tuổi Russell đã tranh luận với các bạn trong tuổi niên thiếu của mình về niềm tin của người tin Chúa, và cho rằng một số niềm tin trong Tân Ước được dạy dỗ không đúng. Russell đã cố gắng tìm câu trả lời cho những thắc mắc về niềm tin của mình bằng cách nghiên cứu những tôn giáo khác, tuy nhiên Russell cũng không thỏa mãn với những câu trả lời từ các tôn giáo này cho nên đã quay lại với Kinh Thánh. Năm 1870, khi được 18 tuổi Russell tham dự một buổi diễn thuyết của  Jonas Wendell, một mục sư Cơ-đốc Phục Lâm.  Russell rất thích bài giảng của vị mục sư này, dầu rằng Russell không hoàn toàn đồng ý.  Tuy nhiên buổi tiếp xúc với vị mục sư Cơ-đốc Phục Lâm đã đưa Russell quay về với Cựu Ước và lý giải những niềm tin căn bản của mình theo Cựu Ước – về sau những niềm tin đó đã trở thành những tín lý căn bản của Chứng Nhân Giê-hô-va.

Chứng Nhân Giê-hô-va không tin Đức Chúa Trời Ba Ngôi.  Họ cho rằng Đức Chúa Jesus chỉ là Đấng đầu tiên đã được Đức Chúa Trời tạo dựng, và qua Đức Chúa Jesus Đức Chúa Trời thực hiện những ý định của Ngài, tuy nhiên Chứng Nhân Giê-hô-va không tin Đức Chúa Jesus là Đức Chúa Trời như Kinh Thánh đã nói (Giăng 1:1, 1:14, 8:58, 10:30).  Thêm vào đó, Chứng Nhân Giê-hô-va cho rằng Đức Thánh Linh chỉ là một quyền năng, chứ không phải là một Đấng có thân vị như được mô tả trong Kinh Thánh Tân Ước từ thời Hội Thánh ban đầu.  Chứng Nhân Giê-hô-va tin rằng mỗi người có được sự cứu rỗi là nhờ vào đức tin, nhờ những việc làm lành, và vâng lời. Chứng Nhân Giê-hô-va không tin có địa ngục, không tin vào sự bất tử của linh hồn, ….

Để ủng hộ cho quan điểm của mình, Charles Taze Russell, và về sau Chứng Nhân Giê-hô-va là những người theo ông, cho rằng Kinh Thánh Tân Ước đã được dịch sai lầm, tuy nhiên Kinh Thánh trong nguyên văn Hy Lạp ủng hộ những điều họ dạy dỗ.  Điều đáng lưu ý là Charles Taze Russell đã khởi xướng Chứng Nhân Giê-hô-va lúc mới 18 tuổi, và nhiều năm về sau, theo tài liệu được  ghi lại trong biên bản của một phiên tòa được xét xử vào năm 1913, ba năm trước khi Russell chết, Russell vẫn chưa đọc thành thạo các mẫu tự trong tiếng Hy Lạp, tuy nhiên tín lý của ông giải thích dựa trên những điều mà ông nói rằng ông đã đọc từ Kinh Thánh trong nguyên văn  Hy Lạp, vẫn được nhiều người lắng nghe và tin theo. 

Chứng Nhân Giê-hô-va đã gọi những tín lý của họ là chân lý. Để ủng hộ cho tín lý của mình, Chứng Nhân Giê-hô-va đã thực hiện một bản dịch Kinh Thánh mới trong tiếng Anh gọi là  New World Translation of the Holy Scriptures (Bản Dịch Kinh Thánh Thế Giới Mới).  Công việc phiên dịch Kinh Thánh bắt đầu vào năm 1946. Tân Ước được phát hành vào năm 1950, và toàn bộ Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước vào năm 1961. Hơn 90 năm sau khi thành lập, Chứng Nhân Giê-hô-va có được bản dịch Kinh Thánh riêng của mình, từ những dịch giả mà họ là những người được xức dầu.

Điều đáng lưu ý là trong nguyên văn Hy Lạp, Tân Ước không hề dùng danh hiệu Giê-hô-va một lần nào, tuy nhiên trong bản dịch Tân Thế Giới trong tiếng Anh, Chứng Nhân Giê-hô-va đã 237 lần thêm danh hiệu Giê-hô-va vào trong Kinh Thánh Tân Ước.  Vài ví dụ có thể tìm thấy trong bản dịch Kinh Thánh New World Translation trong tiếng Anh được đăng tại trang web chính thức của Jehovah’s Witnesses: Ma-thi-ơ 21:9;  Rô-ma 10:13,  Khải Huyền 1:8.  Trong khi Chứng Nhân Giê-hô-va phê phán các bản dịch Kinh Thánh đã có từ trước là sai lầm, thì họ lại cố tình dịch Kinh Thánh một cách sai lạc có hệ thống để ủng hộ cho tín lý của mình, vì vậy niềm tin của  Chứng Nhân Giê-hô-va là lầm lạc và nguy hiểm.  

Chứng Nhân Giê-hô-va tự nhận tổ chức của mình thuộc Cơ-đốc giáo và theo truyền thống của Cơ-đốc giáo từ thế kỷ thứ nhất, tuy nhiên những niềm tin của Chứng Nhân Giê-hô-va chứng tỏ họ không phải là Cơ-đốc giáo. Cơ-đốc giáo đặt căn bản niềm tin trên Đức Chúa Jesus, tuy nhiên Chứng Nhân Giê-hô-va không tin  Đức Chúa Jesus là Đức Chúa Trời, không tin vào sự hy sinh của Đức Chúa Jesus đủ giá trị để đem lại sự cứu rỗi cho tội nhân, nhưng còn đặt trên việc làm và công sức của mỗi người. Những điểm căn bản này chứng tỏ Chứng Nhân Giê-hô-va không phải một hệ phái thuộc Cơ-đốc giáo.  Không tin vào quyền năng và sự dạy dổ của Đức Chúa Jesus nhưng vẫn tự nhận là một tôn giáo của Đức Chúa Jesus là một dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ sự gian dối của Chứng Nhân Giê-hô-va. Kinh Thánh chép rằng “Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jesus là Đấng Christ sao?” (I Giăng 2:22)

Chứng Nhân Giê-hô-va không chỉ nhắm vào những người chưa tin Chúa, nhưng cũng nhắm vào những người đã tin Chúa nhưng không hiểu rõ về Kinh Thánh cũng như niềm tin của mình, vì vậy một số người tin Chúa đã bị họ dẫn dụ.  Xin cầu nguyện cho những người bị lầm lạc bởi Chứng Nhân Giê-hô-va sớm thức tỉnh và quay về cùng Chúa.

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

Khái quá về niềm tin, thực hành, và những sai lầm của Jehovah’s Witnesses

Sự thật về Jehovah’s Witnesses

  • Sơ lược vài những niềm tin sai lầm của Jehovah’s Witnesses
  • Kinh Thánh nói gì về những điều này.
  • Phương thức giúp những người lầm lạc từ Jehovah’s Witnesses trở về với Chúa.

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top