Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Âm Nhạc » Sơ Lược Lịch Sử Dân Tộc Do Thái

Sơ Lược Lịch Sử Dân Tộc Do Thái

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ DÂN TỘC DO THÁI

Kinh Thánh được Chúa mặc khải trong bối cảnh của dân Do Thái.  Có kiến thức khái quát về lịch sử của dân tộc này sẽ giúp chúng ta dễ hiểu Kinh Thánh hơn.

Khởi Ðầu Lịch Sử

Kinh Thánh cho biết rất nhiều chi tiết về lịch sử loài người qua lịch sử của người Do thái và Hội Thánh. Mười một chương đầu tiên của sách Sáng Thế Ký thuật lại những biến cố đầu tiên của lịch sử loài người, bắt đầu từ lúc vũ trụ được tạo thành, cùng sự ra đời của các quốc gia, ngôn ngữ, và văn hoá. Những biến cố này xảy ra rất lâu trước khi quốc gia Do thái được thành lập (Sáng-thế-ký 1-11).

Tổ Phụ Ðầu Tiên của dân tộc Do thái

Áp-ra-ham, con trai là I-sác, và cháu nội là Gia-cốp đều là dân du mục. Ðức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham và bảo người lìa khỏi xứ Mê-sô-bô-ta-mi đến Ca-na-an. Ðức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ ban xứ cho ông làm cơ nghiệp, và ông sẽ trở thành tổ phụ của dân tộc Do-thái.

Gia-cốp, cháu nội Áp-ra-ham, sau có mười hai người con trai và họ trở thành tổ phụ của 12 chi tộc I-sơ-ra-ên (tên mỗi người là tên của một chi phái của dân Do-thái). Sau một cơn đói kém lớn ở trong xứ, Gia-cốp và mười hai con trai của mình di cư xuống Ai-cập (Sáng-thế-ký 12-50).

Môi-se và Hành Trình Về Ðất Hứa

Vài đổi thay trong triều chính Ai cập khiến mười hai chi tộc Do thái không còn được ưu ái như trước nữa. Dân Ai-cập bắt người Do-thái làm nô lệ cho họ, và sau đó ban lệnh giết tất cả các bé trai mới sinh, nhằm diệt đi nguy cơ nổi loạn sau này. Một bé trai tên Môi-se được cứu sống và được nuôi dưỡng trong cung đình của Pha-ra-ôn. Môi se sau này lớn lên giết chết một người Ai-cập, và phải chạy trốn vào sa mạc. Nhiều năm sau, Ðức Chúa Trời tìm gặp Môi-se và ban lệnh cho ông quay trở lại Ai-cập để đưa dân Do thái ra khỏi cảnh nô lệ. Mặc dù gặp nhiều sự chống đối của một Pha-ra-ôn cố chấp, dân Do thái cuối cùng cũng được giải thoát ra khỏi xứ và đi vào miền sa mạc ở phía đông Ai cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 1-15).

Dân Do-thái Lập Quốc

Sau một cuộc hành trình dài ba tháng, dân sự đi đến núi Si-nai, và tại đó Môi-se nhận Mười Ðiều Răn từ Ðức Chúa Trời. Ðức Chúa Trời lập một giao ước với dân Do-thái, và quốc gia I-sơ-ra-ên được thành kể lập từ đó (Xuất Ê-díp-tô ký 16-20).

Xứ Ca-na-an

Dân Do-thái đã có thể tiến vào xứ Ca-na-an trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng vì sợ người bản xứ sống tại đó và không có đức tin nơi Đức Chúa Trời nên họ đã bị Chúa phạt phải quay trở lại sa mạc và lưu lạc trong sa mạc hết 38 năm. Trong khoảng thời gian đó, hầu hết những người ra đi từ Ai-cập đều chết trong sa mạc, kể cả Môi-se. Ðức Chúa Trời lựa Giô-suê thay thế cho Môi se để đưa dân Do thái vượt sông Giô-đanh để vào miền đất hứa. Dưới sự lãnh đạo của Giô-suê, dân Do-thái chinh phục được vài thành trì, mà quan trọng hơn cả là thành Giê-ri-cô và thành Ai. Tuy nhiên việc chinh phạt cả xứ là một quá trình kéo dài và chậm chạp (Giô-suê 1-11).

Giai Ðoạn Các Quan Xét

Sau khi Giô-suê qua đời, dân Do thái không có người lãnh đạo. Về phương diện lý thuyết thì Ðức Chúa Trời là vua của dân Do thái, nhưng trên thực tế thì họ lại rất ngưỡng mộ các tôn giáo của các dân tộc địa phương sống trong xứ Ca-na-an (thờ phượng các thần như Ba-anh), và không còn trung thành với Ðức Chúa Trời nữa. Thêm vào đó, họ liên tục bị các dân bản xứ quấy phá: dân Am-môn, dân A-ma-léc, dân Mô-áp, và đặc biệt là dân Phi-li-tin. Dân Do-thái thỉnh thoảng quay trở lại cùng Ðức Chúa Trời, cầu xin Ngài giải cứu họ khỏi sự đàn áp của dân bản xứ. Chúa bèn ban cho họ những người lãnh đạo (gọi là các quan xét) để chiêu tập dân sự chống lại các dân tộc bản xứ này. Nhưng sau khi đã được tự do, họ lại dần quay trở lại con đường cũ và lìa bỏ Ðức Chúa Trời (Các Quan Xét).

Các Vua Ðầu Tiên

Sa-mu-ên là vị quan xét cuối cùng và nổi tiếng nhất trong các quan xét. Trong lúc này, dân Do thái bị dân Phi-li-tin đàn áp, và dân chúng quyết định rằng họ phải có một vua cho mình, vì họ muốn có một thể chế lãnh đạo ổn định hơn thể chế của các quan xét. Ðức Chúa Trời báo cho Sa-mu-ên biết rằng ông nên để cho dân Do-thái có một vua, và Ngài dẫn Sa-mu-ên đến gặp Sau-lơ thuộc chi phái Bên-gia-min. Sau-lơ, trong cương vị là vua đầu tiên của dân Do-thái, đã bộc lộ tính tình không ổn định của mình. Trước lúc người qua đời, Chúa chọn Ða-vít, thuộc chi phái Giu-đa, để kế vị cho người (I Sa-mu-ên 1-16).

Ða-vít và Sa-lô-môn

Sau-lơ dành những năm cuối cùng của cuộc đời mình để săn đuổi và trừ khử Ða-vít. Sau khi Sau-lơ chết, quốc gia lâm vào cảnh nội chiến, nhưng sau cùng, hết thảy các chi tộc đều quy phục dưới quyền của Ða-vít. Ða-vít cuối cùng cũng chinh phục được dân Phi-li-tin, và bờ cõi quốc gia được mở rộng hơn bao giờ hết. Giê-ru-sa-lem (trước khi bị đánh chiếm tên là Giê-bu của người Ca-na-an) trở thành thủ đô của quốc gia I-sơ-ra-ên (Do thái). Gần cuối thời đại của Ða-vít các con trai của người tranh chấp ngôi vua khiến xứ lại lâm vào cảnh nội chiến. Tuy nhiên Sa-lô-môn sau cùng được chọn để lên ngôi. Chính người đã xây đền thờ tại Giê-ru-sa-lem (I Sa-mu-ên 31 – II Sa-mu-ên 5, và I Các Vua 1-2).

Ðất Nước Chia Ðôi

Mặc dù Sa-lô-môn nổi tiếng là một vì vua khôn ngoan, Kinh thánh cho biết rằng vài chính sách của ông đã gây ra nhiều hậu quả tai hại sau này. Ðặc biệt là việc xây dựng các đền đài nguy nga đã làm cho nền kinh tế bị kiệt quệ, thuế má tăng cao, và dân chúng bị ép phải làm công dịch hay nghĩa vụ quân sự. Tình trạng bất mãn gia tăng khiến một phái đoàn dân sự đã phải đến gặp con vua Sa-lô-môn là Giê-rô-bô-am sau khi Sa-lô-môn qua đời để xin vua xem xét lại các chính sách đang lưu hành ở trong nước. Khi Giê-rô-bô-am khước từ lời thỉnh cầu của dân chúng, đe doạ sẽ thi hành chính sách khắc nghiệt hơn, thì mười chi phái tách ra thành một miền riêng dưới quyền chỉ huy của Rô-bô-am. Người này trước đây là một quan chức dưới thời của vua Sa-lô-môn. Mười chi phái này nằm ở phía bắc của quốc gia Do thái và sau này được gọi là I-sơ-ra-ên hay vương quốc miền Bắc. Quốc gia này chọn Sa-ma-ri làm thủ đô (I Các Vua 3-12).

Quốc Gia Hai Miền

Hai chi phái ở miền Nam được gọi là Giu-đê hay vương quốc miền Nam. Nước Giu-đê ổn định hơn nước I-sơ-ra-ên vì được thừa hưởng một thể chế lâu đời hơn. Lịch sử của vương quốc phía Bắc ghi lại nhiều cuộc đảo chánh, ám sát các vua, và ít có một triều đại nào kéo dài hơn một đời vua. Thỉnh thoảng hai nước Bắc Nam giao tranh tại biên giới. Tuy nhiên hai quốc gia cũng đôi lúc hiệp tác để chống lại một cường quốc lân bang (I Các Vua 13-16).

Thời Kỳ Của Các Nhà Tiên Tri

Tuy không có cùng một nhịp độ, lịch sử của cả hai quốc gia đều có triều hướng đi xuống dốc trong lãnh vực tôn giáo. Các tôn giáo địa phương vẫn có ảnh hưởng mạnh, trong lúc giai cấp lãnh đạo càng lúc càng trở nên lũng đoạn và bất công. Ðức Chúa Trời bèn dùng các nhà tiên tri để cảnh tỉnh dân tộc về tình trạng bất công trong xã hội, cũng như để nhắc nhở họ về điều răn và lời hứa trong giao ước mà Ðức Chúa Trời đã lập với họ. Trong những giai đoạn đầu tiên của nước I-sơ-ra-ên, hai tiên tri Ê-li và Ê-li-sê là hai tiên tri nổi tiếng nhất (I Các Vua 17-19 và II Các Vua 2, 4-5).

Các Cường Quốc và Ðế Quốc

Trong khi hai nước Bắc Nam đang xuống dốc thì đế quốc A-si-ri (ngày nay gồm phía Bắc của I-rắc, Đông Nam Thổ-nhỉ-kỳ và Tây Bắc I-ran) bắt đầu lớn mạnh. Ðể chống lại hiểm hoạ A-si-ri, các quốc gia nhỏ hơn như Sy-ri, I-sơ-ra-ên, và Giu-đê đã liên minh lại. Tuy vậy, tất cả đều bị A-si-ri thôn tính. Các tiên tri cho biết biến cố đó là hình phạt mà Chúa dùng răn dạy sự bất trung của dân Do-thái. Các tiên tri tuyên bố rằng ấy là vì sự bất công trong xã hội, tình trạng hiếp đáp người nghèo khổ cô thế, và sự thờ phượng giả dối đã khiến cho quốc gia bị hình phạt. Các lời tiên tri này được ghi lại trong các sách tiên tri mang tên của họ: A-mốt, Hô-sê, Mi-chê, và Ê-sai.

Sự suy sụp của I-sơ-ra-ên và Giu-đê

Ðế quốc A-si-ri chinh phục I-sơ-ra-ên và lưu đày hết thảy dân cư ra các miền khác nhau của đế quốc. A-si-ri cũng đánh Giu-đê và vây thành Giê-ru-sa-lem trong vài năm, nhưng sau đó rút lui và để Giu-đê tồn tại thêm được vài trăm năm nữa. Ðế quốc A-si-ri dần dần suy yếu và cuối cùng bị chinh phục bởi đế quốc Ba-by-lôn (I-rắc ngày nay). Giu-đê cũng rơi vào vòng thống trị của Ba-by-lôn và các giai cấp quý tộc và tri thức tại Giê-ru-sa-lem đều bị đưa sang Ba-by-lôn. Sau đó vài năm, Giê-ru-sa-lem khởi nghĩa nhưng không thành và cả thành bị san bằng thành bình địa. Chỉ trừ một số rất ít dân chúng được ở lại, còn tất cả đều bị đưa sang Ba-by-lôn. Ðây là giai đoạn đen tối nhất của quốc gia Do thái được ghi lại trong Kinh thánh: đền thờ, biểu tượng của Do thái giáo, bị phá hủy. Nền văn hoá và tôn giáo của quốc gia có nguy cơ bị tiêu diệt khi cả quốc gia bị sống trong cảnh lưu đày (II Các Vua 24-25).

Hy Vọng Về Tương Lai Của Dân Tộc

Khi các tiên tri của Chúa rao truyền sứ điệp của sự đoán phạt, họ cũng rao truyền sứ điệp của hy vọng. Hầu hết các tiên tri đều nhắc đến việc Ðức Chúa Trời sẽ mang dân sự trở lại quê hương sau khi thời gian trừng phạt đã mãn. Giê-rê-mi và đặc biệt là Ê-xê-chi-ên nói rất nhiều về việc xây lại đền thờ, là nơi mà dân sự thờ phượng Ðức Chúa Trời.

Ðúng như những lời tiên tri đã báo trước, giống như A-si-ri, đế quốc Ba-by-lôn cũng suy yếu. Năm 530 trước Công nguyên, Phe-rơ-sơ (Ba-tư, I-ran ngày nay) chinh phạt Ba-by-lôn (chép trong Ða-ni-ên chương 5), và quốc gia Ba-by-lôn bị sát nhập vào đế quốc Phe-rơ-sơ (Ba-tư). Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, ra chiếu lệnh cho phép dân Do thái được tự do hồi hương (Ê-xơ-ra 1:1-4).

Hồi Hương

Trong vòng vài năm sau, một nhóm người Do thái hồi hương về Giê-ru-sa-lem, xây lại bàn thờ và đặt nền cho đền thờ. Nhưng dân cư ngụ ở đó phản đối việc xây lại đền thờ (đây là dân Sa-ma-ri, hầu hết là dân lai giữa dân I-sơ-ra-ên và các sắc dân mà đế quốc A-si-ri đưa từ các nơi khác đến), và việc xây dựng bị đình lại. Hai tiên tri, A-ghê và Xa-cha-ri được Chúa dùng để khích lệ những người hồi hương và đền thờ được hoàn tất vào năm 515 trước công nguyên (E-xơ-ra 4-6)

Giai Ðoạn Im Lặng

Kinh thánh không nói nhiều về đời sống của những người hồi hương trong 50 năm kế tiếp đó, dầu sách Ma-la-chi cung cấp vài chi tiết rằng họ xuống tinh thần và suy thoái đạo đức. Hai người đã giúp thay đổi tình trạng này: E-xơ-ra, thầy dạy luật được vua Phe-rơ-sơ sai đến Giê-ru-sa-lem và cùng Nê-hê-mi, quan tửu chánh tại Su-sa được cho về quê hương để xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem. Ðây là công tác quan trọng để bảo vệ dân Do thái khỏi sự quấy nhiễu của các dân tộc chung quanh. Nhiều chương trình cải cách xã hội, kinh tế, và tôn giáo được xúc tiến để xây dựng cộng đồng mới. Dân chúng cũng được nhắc nhở rất nhiều về luật pháp và giao ước với Ðức Chúa Trời (E-xơ-ra 7-10 và Nê-hê-mi).

Những Biến Cố Giữa Hai Giao Ước

Kinh thánh không ghi lại những gì xảy ra trong vòng khoảng 400 năm kể từ giai đoạn của Nê-hê-mi và E-xơ-ra cho đến năm Chúa Giê-xu giáng sinh. Tuy nhiên nhiều tài liệu lịch sử khác cho chúng ta biết những biến cố xảy ra trong thời kỳ đó.

Ðế quốc Phe-rơ-sơ (Nam tư) rơi vào tay của A-lịch-sơn Ðại đế của Hy lạp, và sau khi ông qua đời đế quốc Hy lạp bị chia làm bốn phần bởi bốn vị tướng của ông. Sau một thời gian hai trong số địa phận ngày càng lớn mạnh: vương quốc phía Nam, Ptolemaic, bao gồm Ai cập, và vương quốc phía Bắc, Seleucid, bao gồm Sy-ri và Mosopotamia. Nước I-sơ-ra-ên mới đầu thuộc về vương quốc Ptolemaic, nhưng đến năm 198 trước Công nguyên, bị chuyển sang quyền cai trị của Seleucid.

Những năm sau đó là những năm đầy sóng gió của lịch sử người Do thái mà các sử gia thường gọi là “Những niên đại của Mạc-ca-bê”. Vào lúc bấy giờ, tôn giáo và văn hoá của I-sơ-ra-ên có nguy cơ bị đồng hoá dưới quyền cai trị của vua Seleucid, tức Antiochus đệ tứ. Trước đó A-lịch-sơn Ðại đế đã bắt đầu những chương trình quảng bá nền văn minh Hy lạp trong khắp nơi chiếm đóng. Các vua sau A-lịch-sơn Ðại đế cũng tiếp tục chương trình Hy lạp hoá các nền văn hoá khác. Tuy nhiên chỉ tới thời Antiochus chương trình đó mới được áp đặt một cách triệt để hơn. Ông ra lệnh dựng một tượng của thần Zeus trong đền thờ Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, và ra lệnh dân chúng trong các thành phố và làng mạc của dân Do thái phải thờ lạy các thần của Hy lạp.

Nhiều người Do thái hoà nhập với nền văn hoá mới, nhưng cũng có nhiều người chống đối lại trào lưu mới này. Phong trào chống đối lan nhanh và lên đến tột đỉnh khi một thầy tế lễ Do thái tên Mattathias tại làng Modein cùng năm con trai mình từ chối không chịu thờ thần Hy lạp. Ông và các con trai rút lui vào miền núi và bắt đầu một cuộc chiến tranh du kích. Người con trai nổi tiếng nhất của ông là Judas Maccabeus sau cùng đã trừ bỏ được tượng thần Zeus ra khỏi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Ông cũng tổ chức một kỳ lễ dâng lại đền thờ cho Ðức Chúa Trời.

 

Maccabeus và gia đình sau đó trở thành những người lãnh đạo của quốc gia, và đến năm 142 trước Công nguyên, I-sơ-ra-ên dành lại được độc lập. Tuy nhiên do việc tranh giành quyền bính giữa các con cháu của Maccabeus, quốc gia suy yếu và bị La mã (Roma) xâm chiếm vào năm 63 trước Công nguyên, và trở thành một thuộc địa của La mã. Kể từ thời gian đó, các vua của I-sơ-ra-ên đều do người La mã chỉ định. Trong các vua đó, vua Hê-rốt Ðại đế, là vua của I-sơ-ra-ên lúc Chúa Giê-xu giáng sinh là được biết đến nhiều hơn cả.

Giao Ước Mới (Tân Ước)

Ðế quốc La mã là bối cảnh duy nhất của Tân ước. Các Hoàng đế La mã (Sê-sa) được đề cập đến trong câu chuyện Chúa Giê-xu giáng sinh (Sê-sa Agustus trong sách Lu-ca chương 2), cuộc đời của Chúa và sự chết của Ngài (Sê-sa Tiberius trong Lu-ca 3:1), và trong sách Công vụ Các Sứ Ðồ 18:2, chúng ta được biết biến cố Sê-sa Claudius trục xuất người Do thái ra khỏi thành Rô-ma. Chúng ta cũng được biết rằng sự chống đối Ðạo Chúa mới đầu xuất phát từ chính người Do thái, nhưng sau đó khi Ðạo Chúa ngày càng phát triển thì Ðế quốc La mã càng trở nên nghi kỵ Ðạo Chúa. Hoàng đế Nê-rô (54-68 sau Công nguyên) ra lệnh hành hình nhiều tín đồ và người ta tin rằng Sứ đồ Phi-e-rơ cũng tử đạo trong khoảng thời gian này. Sau đó, Hoàng đế Domitian (81-96 sau Công nguyên) bắt đầu một chiến dịch đàn áp người tin Chúa trên một quy mô rộng lớn như được đề cập khá rõ trong sách Khải huyền. Cũng trong những năm đó, những cuộc khởi nghĩa của dân I-sơ-ra-ên làm cho đế quốc La mã mất hết kiên nhẫn. Năm 70 sau Công nguyên, thống chế Titus, dưới lệnh của Hoàng đế Vespasian, san thành Giê-ru-sa-lem thành bình địa. Ðền thờ Do thái và các lễ nghi của nó chấm dứt kể từ năm đó, dầu người Do thái vẫn giữ tôn giáo của họ cho đến ngày nay.

Mục sư Phan Hải
Tổng hợp từ nhiều tài liệu

 

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top