Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Ý Nghĩa Thuộc Linh Của Mẫu Tự Hy-bá-lai: Nun

Ý Nghĩa Thuộc Linh Của Mẫu Tự Hy-bá-lai: Nun

fish_01Chữ Thứ Mười Bốn: NUN (Cá)

Số tiêu biểu: 30

Chữ thứ mười bốn của mẫu tự Hy-bá-lai là NUN, chữ nầy nghĩa là cá. Phát âm như chữ N.

Kinh thánh nói đến chữ CÁ khoảng 61 lần. Có nhiều phép lạ xảy ra liên quan đến cá như: cá nuốt Giô na, cá mà các môn đồ đánh lưới được nhiều vô số, Chúa hóa cá ra nhiều cho dân chúng, cá mang đồng bạc đến cho Chúa Giê-xu nộp thuế, một mẻ cá phi thường sau khi Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại v. v… Trong bài này nhấn mạnh về con cá nuốt Giô-na.

Cả ba sách Tin lành Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca đều chép lại câu chuyện này. Sách Ma-thi-ơ nói rõ hơn, ghi lại đến hai lần (Ma-thi-ơ 12:39-41 và 16:4). Đây là một dấu lạ liên quan đến Chúa Giê-xu, một dấu hiệu đặc biệt chỉ về sự phục sanh của Ngài. Dấu lạ của Giô na không phải là cả thành Ni-ni-ve ăn năn, bèn là sự ông ra khỏi bụng cá. Một vị tiên tri như Giô na rao giảng khiến mọi người ăn năn là một việc thường xảy ra như với bất cứ một tiên tri nào khác. Xét về lời giảng của Giô na không có gì xuất sắc. Sự ăn năn của người Ni-ni-ve là một việc có thể xảy ra trong lúc bấy giờ. Chỉ lạ ở chỗ Giô na bị quăng ra khỏi tàu, bị cá kình nuốt chửng nhưng vẫn sống trong bụng cá ba ngày đêm. Sau khi được Đức Chúa Trời truyền lịnh con cá bèn mửa Giô na ra trên mé biển. Không hiểu tình trạng của ông lúc ấy ra sao chỉ thấy Kinh thánh chép rằng ông ta đứng dậy và giảng cho dân thành Ni-ni-ve. Đó là phép lạ xảy ra cho Giô na, một phép lạ độc đáo xảy ra trong thời Cựu Ước, minh chứng cho sự sống lại của Chúa Giê-xu trong thời Tân Ước (Ma-thi-ơ 12:39-41).

Chúa Giê-xu dùng phép lạ để giải nghĩa cho phép lạ. Phép lạ là điều vượt quá tầm hiểu biết của con người, nó thuộc về cõi siêu nhiên, trí hữu hạn của con người không thể suy nghiệm được. Khi người Do-thái xin Ngài làm một phép lạ để họ xem hầu chứng minh cho chức vụ Ngài, song Ngài từ chối. Mục đích Ngài làm phép lạ là để bày tỏ Thần quyền của Ngài chớ không phải để thỏa tính tò mò của họ. Chức vụ Ngài là giảng Tin lành, chết đền tội cho nhân loại và sống lại để tiêu diệt quyền lực của ma quỷ và tử thần. Quyền năng siêu việt của Đức Chúa Trời cũng như tình thương vô hạn của Ngài vượt quá sự hiểu biết của loài người. Vì cớ ấy người vô tín không thể tin phép lạ cũng không giải nghĩa được. Chúa phán cách cương quyết: “dòng dõi hung ác gian dâm nầy xin một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng cho dấu lạ chi khác ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na. Rồi Ngài bỏ họ mà đi” (Ma-thi-ơ 16:4).

Chúa phục sanh là một dấu lạ lớn nhất, là nền tảng của Cơ Đốc giáo. Cho nên khi chúng ta tin Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời để chỉ về sự hi sinh của Ngài, thì cũng tin rằng dấu lạ của Giô-na là hình bóng về sự sống lại của Ngài vậy. Cả hai hình bóng nầy phải đi đôi với nhau, cùng đứng vững hay cùng sụp đổ. Không ai có thể tin rằng Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời đồng thời lại phủ nhận sự sống lại của Ngài được. Rô-ma 10:9 chép: “Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-xu và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết thì ngươi sẽ được cứu”.

Các sứ đồ đầu tiên khi giảng Tin lành thì không giảng về những lẽ đạo cao siêu bí ẩn, họ chỉ giảng về hai điều: Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá và đã sống lại. Vì chính mắt họ đã thấy Ngài chết trên thập tự giá và sống lại cách hiển nhiên nên mạnh dạng tuyên bố cho mọi người, không một quyền lực nào ngăn chặn họ được. Phao-lô cũng viết rằng: “Ngài đã chết vì sự quá phạm của chúng ta và sống lại vì sự công bình của chúng ta”. Mọi lẽ đạo về sự cứu rỗi của Đấng Christ đều bao gồm trong hai điều ấy, không ai có thể loại bỏ một điều nào cả. Cũng như không ai khi nghĩ đến con cá nuốt Giô-na lại không nhớ đến sự sống lại của Giô-na. Thập-tự-giá là dấu hiệu cuối cùng để Cơ Đốc nhân bày tỏ đức tin của mình.

Thuở xưa các Cơ Đốc nhân muốn bày tỏ đức tin thường dùng dấu hiệu của Giô-na tức dấu hiệu con cá. Sở dĩ họ chọn dấu hiệu nầy là vì theo nguyên văn Hi-lạp chữ cá là “ICHTHUS”, chữ nầy bắt đầu bằng chữ “I”, vì trong tiếng Hi-lạp không có chữ “J”. Chữ “I” thay cho chữ “Jesus”. Kế đó là chữ “CH” thay chữ Christ. Chữ thứ ba “TH”, theo Hi-lạp tức là “Theós” nghĩa là Đức Chúa Trời. Kế tiếp chữ “U” thay cho “Uiós” nghĩa là “CON”, và chữ cuối cùng “S” thay chữ “Sôtêr” là “Cứu Chúa”. Vậy nghĩa chữ đó là: “Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của chúng ta”. Đó là chữ “Cá”, một dấu hiệu của các tín đồ trong thời kỳ bị bắt bớ. Khi hai tín hữu gặp nhau họ không thể nói hoặc viết được ám hiệu, họ liền dùng hai ngón tay; ngón cái và ngón trỏ xòe ra như đuôi cá, tất nhiên người đối diện cũng ra dấu hiệu tương tự. Cả hai đều ngầm hiểu rằng mình vẫn giữ đức tin thật vững vàng trong Christ.

Ở Tô-cách-lan vẫn còn dùng hình con cá làm biểu hiệu cho tín đồ Đấng Christ. Ở Mỹ người tín đồ thường dùng hình con cá gắn sau xe hơi, nếu chạy xe ngoài đường thấy xe nào có hình con cá thì biết xe đó là của tín đồ. Trong những hầm mộ tại La-mã, nơi các tín đồ ẩn núp trong thời kỳ bắt bớ người ta tìm thấy những dấu hiệu xưa như nhánh ô-li-ve và con cá vẽ trên tường để chỉ sự sống lại của Chúa Giê-xu.

Khi Chúa Giê-xu chọn các môn đồ, trong ấy có những người đánh cá lành nghề và cá góp phần quan trọng, xuất hiện nhiều lần trong thời đó. Ấy vì Ngài muốn gây một ấn tượng sâu xa trong môn đồ về sự sống lại của Ngài. Ngài khuyên họ theo Ngài rồi Ngài sẽ khiến họ trở nên tay đánh lưới người. Không phải Ngài lựa chọn toàn người đánh cá, song Ngài gọi họ là những người đánh cá thuộc linh. Khi bắt đầu chọn các môn đồ đầu tiên, Ngài khiến họ đánh được mẻ cá to, nhiều vô số, đến nỗi lưới phải đứt, hai chiếc thuyền chở đầy cá gần chìm (Lu-ca 5:1-11). Rồi trong sách Phúc-âm Giăng chương 21, Chúa Giê-xu thực hiện một phép lạ cuối cùng trước khi thăng thiên, trong đó Ngài chỉ chổ cho môn đồ đánh cá; kết quả, họ đem vào bờmột trăm năm mươi ba con cá lớn. Chứng tỏ Ngài là Đấng toàn năng đã từ kẻ chết sống lại. Ngài muốn cho mọi người biết sự sống lại của Ngài là thật, điều mà dân Do-thái và các thầy tế lễ cố tình che dấu. Tin lành trọn vẹn của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại là: ĐẤNG CHRIST CHẾT VÀ SỐNG LẠI. Chúng ta đang thờ phượng và hầu việc một Đấng “Đang Sống Đời Đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ”. Ngài sống thì chúng ta cũng sẽ sống, Ngài là Đấng đáng cho chúng ta chịu khổ, phụng sự suốt đời như Phao-lô khuyên: “Vậy hỡi anh em, hãy vững vàng, chớ rúng động. Hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (I Cô-rinh-tô 15:58).

Mỗi khi nhìn thấy con cá hay hình ảnh của nó, chúng ta nên nhớ đến con cá nuốt Giô-na, hình bóng về sự sống lại của Chúa Giê-xu, cùng gợi lại cho chúng ta nhớ đến biểu hiệu của các môn đồ đầu tiên trong thời kỳ bắt bớ để giục giã chúng ta trên đường theo Chúa, là Đấng đã sống lại từ trong kẻ chết.

Mục sư Phạm Văn Năm

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top