Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Ý Nghĩa Thuộc Linh Của Mẫu Tự Hy-bá-lai: Yod

Ý Nghĩa Thuộc Linh Của Mẫu Tự Hy-bá-lai: Yod

hand_01

Chữ Thứ Mười: YOD (Bàn tay)

Số tiêu biểu: 10

Từ ngữ “bàn tay” là một trong 36 chữ được Kinh Thánh chép nhiều nhất. Nhưng với phạm vi của bài nầy không thể liệt kê ra hết các từ ngữ ấy. Theo cổ ngữ Ê-thi-ô-pi chữ “bàn tay” là “Yaman” còn chữ La tinh là “manus” và do đó có chữ “manufacture” (Anh ngữ) tức là “chế tạo”.

Trong Cựu ước từ Sáng thế ký đến Ma-la-chi chữ “bàn tay” được chép 1412 lần. Từ Ma-thi-ơ đến Khải thị 182 lần, cộng chung 1594 lần. Sách I Sa-mu-ên chép nhiều nhất 103 lần, Ê-xê-chi-ên 99 lần và Giê-rê-mi 98 lần.

Chữ YOD là một chữ có hình dáng nhỏ nhất trong 22 mẫu tự Hy-bá-lai, trông tựa như một dấu phẩy. Chữ nầy thật nhỏ nhưng lại rất quan trọng. Nghĩa của nó là “bàn tay” mà cũng là số 10. Theo tiếng Hy-bá-lai thì mỗi chữ cái của mẫu tự tượng trưng cho một con số; như chữ ALEPH là chữ đầu tiên thì là số 1, BETH là số 2 và chữ QOP (Q) là số 100. Chữ RESH (R) là số 200, rồi đến các chữ khác con số càng tăng đến chữ cuối là 400, rồi từ 22 chữ tức là 22 số đó mà làm thành số ngàn và thêm mãi v. v…

Bàn tay là một chi thể rất hệ trọng của thân; nó tỏ ra năng lực của con người. Trí óc điều khiển, bàn tay hành động. Mọi công tác hoặc nhỏ bé hay lớn lao đều do bàn tay của con người thực hiện cả. Không có bàn tay, con người mất đi lẽ sống trên đời. Dù khoa học có tiến bộ, có thể tạo ra những “bàn tay giả” để tháp vào cho những người xấu số chẳng may mất một hay cả hai tay; nhưng cũng không thể bằng bàn tay của Đức Chúa Trời ban cho loài người!

Hai bàn tay có mười ngón, các nhà giải kinh cho rằng đó chỉ về mười điều răn của Đức Chúa Trời. Vì vậy nhìn đến đôi bàn tay, ta nên liên tưởng đến mười điều răn của Chúa và nhắc nhở chúng ta nên dùng đôi tay để hầu việc Ngài, làm trọn phận sự kính Chúa yêu người theo như ý nghĩa của mười điều răn mà Chúa truyền dạy cho con dân Ngài.

Có những bàn tay thực hiện được công việc vĩ đại hay phá hoại hủy diệt như:

1. Bàn Tay Đức Chúa Trời.

Trước hết bàn tay của Đức Chúa Trời là bàn tay quyền năng, Ngài đã dựng nên muôn loài vạn vật kỳ diệu dường nào. Sáng thế ký 1:1; mở đầu như sau: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” và suốt trong hai chương đầu của sách cho chúng ta thấy công việc tạo thành muôn vật được hoàn tất trong sáu ngày.

Sách Ê-sai có chép “…chính ta, tức là tay ta đã giương ra các từng trời” (Ê-sai 45:12) và “các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Thiên 19:1). Tay Chúa dựng nên trời đất, tay Chúa lấy đất “nắn nên hình người” (Sáng Thế Ký 2:7). Tay Ngài nắn nên các loài thú đồng và các loài chim trời (Sáng Thế Ký 2:19). Ngài dùng xương sường của A-đam làm nên một người nữ (Sáng Thế Ký 2:22). Với bàn tay quyền năng cao cả ấy Ngài đã làm nên những công việc lớn lao cả thể, nhưng Ngài cũng “lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam” và “mặc lấy cho” sau khi họ đã phạm tội cùng Ngài (Sáng Thế Ký 3:21).

Khi Ngài dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Ngài ban cho họ hai bảng luật pháp có ghi mười điều răn do chính “ngón tay của Đức Chúa Trời viết ra” (Xuất 31: 18 và 32: 16). Từ Ai-cập đến Ca-na-an Ngài giúp đỡ họ do tay quyền năng của Ngài, như làm những phép lạ vĩ đại, phi thường để giải cứu họ khỏi những cơn nguy hiểm bởi kẻ thù. Dẫu vậy, họ đã nhiều lần giơ tay lên chống nghịch cùng Ngài bằng cách muốn ném đá các tôi tớ Ngài (Xuất Ê-díp-tô 17:4, Dân Số Ký 14:10) dùng tay chạm trổ hình tượng rồi thờ lạy nó mà lìa bỏ Ngài, song Ngài không nở bỏ họ vì Ngài đã “chạm họ trong lòng bàn tay” Ngài (Ê-sai 49:16). Dù Y-sơ-ra-ên không trung tín với Chúa, cứ phạm tội, cứ làm điều ác mãi nhưng Đức Chúa Trời vẫn ở cùng họ, tay Ngài nắm lấy họ “Ta sẽ nắm tay ngươi và giữ lấy ngươi” (Ê-sai 42:6). Tay Ngài không ngừng hoạt động, cứ cứu giúp dân sự Ngài, nhưng họ bị tai họa là do lòng cứng cỏi cùng tội lỗi của họ gây nên. Chúa Giê-hô-va phán: “Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được… nhưng ấy là sự gian ác các ngươi đã che khuất mặc Ngài khỏi các ngươi, đến nổi Ngài không nghe các ngươi nữa” (Ê-sai 59:1, 2).

Cho đến ngày nay, tay Đức Chúa Trời vẫn đưa ra để dẫn dắt, giúp đỡ con cái Ngài là chúng ta đây, vì chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh. “Chính Ngài đã lấy lòng yêu đương, thương xót mà chuộc họ, Ngài đã bồng ẵm và mang họ trong các ngày thuở xưa” (Ê-sai 63:9).

2. Bàn Tay Loài Người

Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, tay Ngài làm nên mọi sự, không có sự gì khó quá cho Ngài. Nhưng, Ngài lại dùng bàn tay của loài người hiệp tác với Ngài trong nhiều công việc, miễn là người ta bằng lòng dâng trọn bàn tay cho Ngài xử dụng.

a. Tay người trong tương quan với dân Y-sơ-ra-ên

Đức Chúa Trời dùng tay Môi-se, A-rôn, Mi-ri-am để giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập (Mi-chê 6:4). Tay Môi-se làm những phép lạ tại Ai-cập trước mặt vua Pha-ra-ôn bởi cây gậy nơi tay người. Tay Môi-se và A-rôn giơ ra khiến những tai vạ khủng khiếp đổ xuống trên xứ Ai-cập (Xuất Ê-díp-tô 7:1-10:29). Tay Môi-se giơ ra trên Biển Đỏ khiến nước biển dồn lại cho dân sự đi qua, rồi cũng chính tay người giơ ra làm cho nước lấp trở lại để tiêu diệt quân binh Ai-cập (Xuất Ê-díp-tô 14:21, 27). Tay Môi-se đập hòn đá tại Hô-rếp khiến nước chảy ra cho dân sự uống. Tay Môi-se đã giơ lên để cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ giao chiến cùng dân A-ma-léc (17:6, 11).

Ngài dùng tay Giô-suê đưa dân sự vào xứ Ca-na-an. Tay Giô-suê chiến đấu với kẻ thù tại Ca-na-an khi vào xứ. Sau đó Ngài dùng tay của các vị quan xét giải cứu họ khỏi tay kẻ ức hiếp họ v. v… Rồi cũng bởi cớ tội ác của họ ngày càng gia tăng, nào chính họ, nào chính các vị vua chúa của họ đều phạm tội chống nghịch với Đức Chúa Trời nên Ngài dùng các vua ngoại bang tiêu diệt họ, lưu đày làm cho họ tan tác khắp nơi trên thế giới. Đức Chúa Trời cho phép dân ngoại giơ tay ra tàn hại dân sự Ngài để tỉnh thức họ hầu cho họ nhìn biết Ngài là Đức Chúa Trời vẫn còn thương yêu họ!

b. Tay người trong tương quan với lời Đức Chúa Trời

Quyển Kinh Thánh mà chúng ta có ngày nay là do Đức Chúa Trời dùng “bàn tay loài người” chép ra bởi sự hà hơi và soi dẫn của Đức Thánh Linh tức là Thần của Ngài.

Các bản cổ sao của Kinh Thánh đều do “bàn tay” và “ngón tay” của Môi-se, của các đấng tiên tri, của các tôi tớ Chúa, của các vị sứ đồ và môn đồ Ngài chép ra. Lời Ngài được khải thị cho các vị ấy, khiến họ viết ra đúng ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ngài dùng “bàn tay” loài người để diễn đạt ý định cùng công việc Ngài, Ngài trù hoạch một chương trình cứu rỗi cho nhân loại, định đoạt vận mệnh tương lai của thế giới.

Ngày sau rốt nầy Ngài không còn khải thị cho các trước giả để chép Kinh Thánh nữa, vì bộ Kinh Thánh mà chúng ta hiện có đã trọn vẹn rồi. Giờ đây, Ngài vẫn dùng những “bàn tay” dâng hiến cho Ngài để phổ biến lời Ngài bằng cách dịch ra nhiều ngôn ngữ, bằng cách phân phát cho mọi người chưa hiểu biết về Đức Chúa Trời, để họ cũng như chúng ta được tiếp nhân sự cứu rỗi nhưng không của Ngài. Rồi đến phiên họ, họ cũng dâng hiến “bàn tay” mình mà phân phát Lời Chúa nữa.

3. Bàn Tay Của Chúa Giê-xu

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” là Giê-xu Christ giáng thế làm người để cứu nhân loại bởi tay toàn năng của Ngài. Khi Ngài đến thế gian xử dụng “bàn tay” của Ngài để bày tỏ quuyền năng vốn có của Ngài vì Ngài là Đấng Tạo Hóa. Dân Y-sơ-ra-ên không biết Ngài là “Đấng từ trời xuống” nên khi họ thấy Ngài làm phép lạ đuổi quỷ, chữa bịnh, hóa bánh ra nhiều, kêu kẻ chết sống lại, thì họ “sững sờ” và rất lấy làm lạ. Bởi vì họ không biết Ngài “là Đức Chúa Trời”, Ngài đã “ở cùng Đức Chúa Trời” và “muôn vật bởi Ngài mà nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” nên dù Ngài đã dùng tay quyền phép làm những việc vĩ đại, phi thường mà người ta vẫn không tin, chỉ lấy làm lạ mà thôi.

Cuộc đời Ngài chỉ có ba mươi ba năm rưỡi, Ngài vừa giảng dạy, vừa thực hiện công tác qua đôi “bàn tay” của Ngài. Chúa không giảng bằng lời nói suông, nhưng “bàn tay” Ngài luôn cứu giúp những kẻ khốn khó, khổ đau hầu xoa dịu phần nào nỗi cô đơn trong tâm linh họ và mong cứu rỗi linh hồn họ khỏi gông cùm tội lỗi. Như chúng ta đã biết, Ngài được trưởng dưỡng từ gia đình của người thợ mộc Giô-sép, tất nhiên Ngài đã dùng đôi bàn tay trong việc bào gỗ, đóng bàn ghế và các vật dụng cách dễ dàng. Bàn tay Ngài bận rộn suốt ngày.

Bàn tay Ngài hóa nước thành rượu khi mới bắt đầu chức vụ công khai. Trong một trường hợp khác Ngài dùng “tay” bện một roi bằng dây đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ. Bàn tay Ngài rờ đến người phung khiến họ được sạch, xoa bùn vào mắt kẻ mù làm cho sáng lại. Cũng bàn tay ấy ban bánh và cá cho đoàn dân đông hơn 5 ngàn người ăn no nê. Bàn tay quyền năng Ngài cầm tay một em bé gái đã chết khiến em nầy sống lại. Tuy bận rộn nhưng Ngài cũng đưa bàn tay dịu dàng bồng ẵm các con trẻ và chúc phước cho chúng. Tay Ngài còn làm nhiều phép lạ khác để chữa lành mọi bệnh tật nan y.

Từ lúc bắt đầu chức vụ đến khi “mọi việc đã được trọn” Ngài luôn giang tay ra ban phước cho mọi người. Bàn tay Ngài là bàn tay trợ giúp, bàn tay yêu thương, trong tay Ngài đầy dẫy ơn phước, sẵn sàng ban phát ra cho ai nhờ cậy đến Ngài. Ngài hoàn thành sứ mạng do hai bàn tay, nhưnh cuối cùng, hai bàn tay nhơn từ ấy bị các mũi đinh gian ác của kẻ bạo tàn đóng vào thập tự giá! Ma quỷ không muốn thấy bàn tay nhơn từ ấy hoạt động nên nó cám dỗ Ngài khi bảo Ngài “hãy hóa đá ra bánh”. Nó muốn bàn tay ấy sẽ đưa ra lấy đá làm ra bánh theo lời cám dỗ của nó, như Ê-va khi xưa đã nghe theo lời nó “đưa tay ra hái trái cây” mà Đức Chúa Trời đã cấm.

Nhưng Chúa chúng ta vẫn giữ vững bàn tay của Ngài thật trong sạch, thà chịu nhận các mũi đinh đóng vào hơn là nghe theo lời ma quỷ. Đến nay “bàn tay” Chúa Giê-xu vẫn còn đưa ra giúp đỡ con cái Ngài, còn đưa ra để cầu thay cho chúng ta bên hữu Đức Chúa Cha. Ôi! bàn tay của Chúa Giê-xu thật trong sạch thay! Chúng ta ngày nay có giữ tay mình cho khỏi đụng chạm đến những thứ mà Chúa nghiêm cấm chăng? Bàn tay chúng ta có đặt trong bàn tay Chúa để Ngài dẫn dắt chúng ta trong cõi đời tăm tối nầy khỏi lầm đường lạc lối chăng? Nguyện Chúa giúp chúng ta luôn có bàn tay trong sạch, bàn tay có ích lợi cho Chúa và mọi người.

4. Bàn Tay Của Cơ Đốc Nhân

Bàn tay của Đấng Tạo Hóa làm nên vũ trụ và loài người. Bàn tay của con người được Chúa dùng để làm theo ý chỉ Ngài. Bàn tay Chúa Giê-xu cứu giúp nhân loại, thi hành kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Còn bàn tay của Cơ Đốc nhân đã làm, đang làm và sẽ làm gì? Chúng ta sẽ nhận thấy công việc của tay mình có thể làm được như sau:

Đời sống của một Cơ Đốc nhân thật, không phải là một đời sống “lý thuyết” suông nhưng là một đời sống “thực tế”. Một đời sống được đổi mới từ bên trong và phát lộ ra bên ngoài, bởi lời sống của Chúa Giê-xu. Chúa phán rằng: “Những lời ta nói cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống”. Cơ đốc giáo không phải là một “triết lý” dạy đời, nhưng là một “hành động cách mạng” trong tâm linh con người bởi sự sống của Thánh Linh tác động.

Những luận thuyết giải thích về Đức Chúa Trời, về vũ trụ, về thần đạo không phải là sự sống của Cơ Đốc nhân nhưng chính sự sống của Lời Đức Chúa Trời truyền đạt vào trong tâm hồn của con người; cũng ví như một bài văn diễn tả cảnh vườn hoa đẹp đẽ với muôn màu sắc nhưng không tạo được một nụ hoa, chỉ sự sống của cây mới sinh ra nụ hoa vậy.

Thế nên, một Cơ Đốc nhân nếu chỉ sống trên lý thuyết của Cơ đốc giáo thì người ấy chưa phải là Cơ Đốc nhân thật. Người ấy phải có sự sống của Đấng Christ trong lòng khiến cho người ấy “hoặc ăn hoặc uống hoặc làm sự chi khác cũng vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm.” Đó là một Cơ Đốc nhân thật, họ sẽ giống như Đấng Christ, bàn tay họ sẽ thánh sạch dịu dàng để làm công việc của Ngài. Nếu muốn Chúa đẹp lòng thì không phải chỉ có ý nghĩ hay, những chương trình vĩ đại đầy ắp trong đầu, cũng không do giàu tưởng tượng mà được, bèn là phải thực hiện những ý nghĩ hay ấy, những chương trình vĩ đại ấy qua đôi “bàn tay” mình như chính Đấng Christ vậy.

Lời nói của đôi “bàn tay” sẽ có hiệu lực hơn lời nói bằng lưỡi. “Bàn tay” nhân từ sẽ nói lời êm dịu ngọt ngào, chân thật hơn là lời nói văn hoa bóng bẩy của cái lưỡi. Một câu chuyện chúng ta rất quen thuộc là chuyện “Người Sa-ma-ri nhơn lành” do Chúa Giê-xu thuật lại. Người Sa-ma-ri nhơn lành nầy khi thấy một nạn nhân lâm vào cảnh khốn khổ, người không nói một lời nào cả; có thể vì nạn nhân thương tích nặng nề, chỉ nằm thoi thóp nên không thể nghe gì nữa. Mà người ấy cũng không cần phải nghe, chỉ cần “bàn tay” nhanh nhẹn “áp lại lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương”, cần có chút nước thấm giọng để đỡ khát, cần có phương tiện đến nhà quán để được săn sóc. Đó là bài giảng sống động, hùng hồn nhất, là tiếng nói của “bàn tay” những người Cơ đốc.

Chân lý của Cơ đốc giáo không phải chỉ ngồi đó mà suy nghĩ, ngồi đó mà chỉ trích phê bình, hoặc ngồi đó mà truyền lệnh cho kẻ khác thi hành công tác nhưng chính là một sứ mạng khẩn cấp và hệ trọng mà mỗi Cơ Đốc nhân “phải đi và làm theo như vậy”. Nếu chúng ta chú ý đến mạng lệnh Chúa truyền là: “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta” ắt chúng ta sẽ thấy vô số “nạn nhân” đang chờ “bàn tay” của người “Sa-ma-ri” đến cứu giúp họ; họ không cần cái lưỡi của thầy tế lễ hay người Lê vi, tức những cái lưỡi phát xuất rất nhiều luận lý cao siêu vượt bậc, thật hấp dẫn, nhưng không ích gì đối với một nạn nhân đang cần “bàn tay” trợ giúp.

Những lý thuyết ấy chỉ là những âm thanh vang dội, ồn ào càng làm cho đinh tai nhức óc nạn nhân, khiến họ càng thêm khốn khổ. Những vị ấy nói thật hay, nhưng không thực hành gì cả. Bàn tay thuộc linh của họ không thể đụng chạm đến vết thương lòng của nạn nhân. Họ không có “dầu vui mừng” của Thánh Linh để xoa dịu những vết thương, nên càng đụng đến họ càng làm cho người ta đau đớn vì không phải “bàn tay của người Sa-ma-ri nhơn lành” mà là bàn tay của kẻ gây ra thương tích.

Chúng ta hãy nhìn lại đôi bàn tay mình đã, đang và sẽ làm gì cho tha nhân? Chữ YOD là bàn tay, một chữ thật nhỏ bé nhưng ý nghĩa thật lớn lao thay!

Mục sư Phạm Văn Năm

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top