Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Đã Đời – Yêu Thương

Mục sư Phan Thanh Bình: Đã Đời – Yêu Thương

YÊU-THƯƠNG 

Thói-đời như đám mây mù che mất ánh-sáng của mặt trời, đám mây mù làm thành cơn mưa, “sau cơn mưa trời lại sáng” cho ta nhận biết vài điều đẹp-đẽ, phước-hạnh trong cuộc đời. Biểu-lộ những điều này được định danh là “hương vị cuộc đời”. Nên mục này tôi chọn đề là Hương Đời. Nhưng Hương Đời chỉ là thưởng-thức qua loa, thưởng-thức thấu đáo phải Đã Đời.

Tiếng Việt mình hay, khi tức-giận, nói ra, đập-phá cho “hả” giận. “Hả” là tuôn ra hết. Nhưng “đã” là thâu nhập hết, được đáp-ứng đầy-trọn.  Ăn “đã” thèm, nhậu “đã” say, nói “đã” là phải nghỉ, nghỉ “đã” là đến nơi đến chốn. Sướng “đã” là “cực-lạc”.

Đã đời là những cái “sướng” trong cuộc đời. Trước hết phải nói đến cái “đã” trong yêu-thương.

Yêu – cái thứ tình-cảm thi-vị nhứt mà cũng rắc-rối nhứt. Nó thật là huyền-ảo mà cũng là thực-hữu. Nó mênh-mông đấy, nhưng lắm lúc không rộng quá vòng tay. Mọi thứ tình-cảm không biết nó phát-xuất từ phần nào trong cơ-thể, nhưng tình yêu thì người ta lại cho nó phát-xuất từ trái tim. Có thể hàm-ý, người ta  sống khi trái tim còn đập, nên còn yêu là còn sống, hết yêu kể như chết, dầu “yêu là chết trong lòng một ít”. Tinh yêu đổ-vỡ là “con tim rướm máu” hay vỡ tan-tành, dầu hình thù nó không thay đổi. “Con tim bối-rối”, “con tim ngủ yên” để nói đến tình-trạng tình yêu bị lũng-đoạn, thất thố. May-mắn vớt-vát tình yêu, hay “chiêu-hồi” được tình yêu là “con tim đã vui trở lại”.

Trong con người có hai điều quan-trọng là sự sống và tình yêu mà với nên khoa-học tân-tiến ngày nay, người ta không giải-nghĩa và hiểu biết thấu-đáo mà chỉ có thể chứng-minh sự hiện-hữu của nó.

Yêu – chúng ta cũng lúng-túng như Tiến-Xuân rằng:

Yêu là cái mà ta không tả được

Một khi yêu là phải chuốc tình yêu

Nó hình-dung trong ánh mắt đăm chiêu

Nó phảng-phất như ánh chiều vàng nhạt

Nó ủy-mị như những làn gió mát

Nó lung-linh trong ánh-sáng trăng phai

Nó mơ-màng như tiếng nhạc bên tai

Nó dồn-dập như thác ngàn thước đổ

Nó lơ-lửng như làn mây hơi gió

Nó cộc-cằn như sắt đá chạm nhau

Nó hững-hờ như buổi mới quen nhau

Nó bức-tức như ánh nắng hồng gay-gắt

Yêu là cái … thường làm ta thắc-mắc

Lắm khi yêu mà không nói lên lời

Là âm-thanh trong câu nói giọng cười

Là cử-chỉ –  là dáng người – Điệu-bộ

Yêu là cái … từng làm ta đau-khổ

Chữ tình yêu thật thâm-thúy  bao-la

Một khi yêu rồi ta mới nghĩ ra

Nó là thịt, là da – là sắc đẹp

Yêu không phải trong phạm-vi nhỏ hẹp

Yêu làn môi – yêu mái tóc – đôi tay

Yêu tánh-tình – yêu dáng-điệu – khoan-thai

Yêu tà áo tung bay vờn trước gió

Đời dễ mấy ai từng hiểu rõ

Chữ tình yêu ôi khó tả làm sao

Biết rằng yêu là sẽ chuốc khổ đau !!!

Nhà thơ Xuân-Diệu cũng đồng tâm-trạng.

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè-nhẹ, gió hiu-hiu.

Tình yêu là một phần quan-trọng trong cuộc sống, thiếu nó cuộc sống trở nên vô-nghĩa. Người ta thèm-khát yêu và thèm-khát được yêu. Tại sao vậy? Đó là bằng-chứng cụ-thể con người phát-xuất từ Đức Chúa Trời, một Đấng có bản-thể là tình-yêu. Kinh-Thánh khẳng-định: “Đức Chúa Trời là sự yêu-thương” (I Giăng 4:8).

Văn-hào Léon Tolstoi đã sống một cuộc đời với một nội tâm khắc-khoải, dằn-vặt, ân-hận, băn-khoăn, chỉ vì không rõ ý-nghĩa cuộc sống của con người. Dầu đã 82 tuổi, ông vẫn bỏ nhà ra đi để tìm cho được ý-nghĩa đích-thực của đời người. Sau đó, ông đã chết âm-thầm tại một thị-trấn nhỏ.

Léon Tolstoi đã đem thắc-mắc trong tâm-tư gởi vào một truyện ngắn nhan-đề là Người Ta Sống Bằng Gì? Cốt truyện có ba nhân vật chính là  thợ giày Simon với vợ là Matriona và một đứa trẻ tên là Michel. Theo câu truyện, Michel là một thiên-thần bị Trời đày xuống trần-gian mà Simon đã nhặt được bên ngôi nhà nguyện. Trước khi Michel bị đày, Trời bảo chàng:

– Ngươi sẽ hiểu trong con người có gì, con người không được hưởng gì, và cái gì làm sống con người.

Trong sáu năm sống tại nhà người thợ giày, Michel chỉ cười có ba lần. Mỗi lần Michel cười làkhi tìm ra ý-nghĩa cuộc sống.

Nụ cười thứ nhứt khi Michel hiểu trong con người có tình yêu.

Nụ cười thứ hai  khi Michel nhận ra con người không ý-thức được những nhu-cầu thiết-thực của thân-xác mình.

Nụ cười thứ ba khi Michel nhận định được người ta không sống vì những nhu-cầu thể-xác mà sống vì tình yêu.

Khi cất bỏ tình yêu khỏi con người thì khác chi ta rút chất mặn ra khỏi muối, chất ngọt ra khỏi mật, còn gì vô-vị cho bằng.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người Việt trong nước tối ngày nghe những lời căm thù tội-ác Mỹ-Ngụy. Người Việt chạy ra nước ngoài, hiệp nhau lại là nhắc đến tội-ác Việt-Cộng. Người Việt trong cũng như ngoài nước phải sống với căm-thù mới có “chính-nghĩa”.

Nhưng “chính-nghĩa” nào lại có thể thiếu-vắng tình yêu, nên nhà cầm-quyền trong nước có phong-trào “yêu khúc ruột xa ngàn dặm”, sẵn lòng dang rộng tay đón tiếp “Việt-Kiều” về thăm quê-hương.  Người hải-ngoại cũng thương đồng bào ruột-thịt quê nhà bằng cách lập hội “từ-thiện” cứu-trợ “người già neo đơn”,”bạn người cùi”, “trại cai nghiện”, “xây nhà tình-thương”, “làm cầu”, “đào giếng nước” v.v. Người Việt hải-ngoại cũng lo  gởi tiền về cứu-giúp gia-đình, bạn-bè, quyến-thuộc. Thế là dân Việt trong và ngoài nước đều có lẽ sống khi bày-tỏ được tình yêu.

Thi-sĩ Việt-Chí-Nhân cảm-nhận:

Bởi vậy sống là yêu

Muốn sống mạnh phải yêu nhiều

Yêu để sống từ khi còn thơ-ấu

Sống để yêu những người mình yêu-dấu

Yêu càng nhiều thì từng phút giây

Nhựa sống càng tràn đầy.

Thi-sĩ chẳng những cảm-nhận mà còn thèm-khát:

Tôi chỉ xin được yêu

Không đòi-hỏi chi nhiều

Chỉ được yêu là đủ

Dù chẳng được bao nhiêu.

Cũng đủ … cầm hơi để sống.

Chúng ta tìm tình yêu nơi mình, “chẳng có bao nhiêu” chỉ đủ “tự-ái”. Chúng ta tìm tình yêu nơi người, “chẳng được bao nhiêu”, vì người ban cho đều trong nguyên-tắc “của ít lòng nhiều”.

Chúng ta đến Chùa, Nhà Thờ tìm tình-yêu nơi thần-thánh – Phật từ-bi, bác-ái, Chúa chí nhân, yêu-thương.

Chúng ta gặp ngay quý vị “sư” đại-diện cho Phật cùng các Phật Tử có lối sống sao vẫn còn chấp ngã, sân-si, thiếu lục-hòa, nhưng giảng nhiều về từ-bi, bác-ái của Đức Phật.

Chúng ta tới nhà thờ gặp ngay quý vị “mục-sư”, “linh-mục” vẫn còn nặng nợ trần-gian kể “khổ” trên đường phục-vụ Chúa và tha-nhân. Quý vị này luôn nói về “Đức Chúa Trời yêu-thương” (I Giăng 4:8).

Qua Kinh, Sách. Đức Phật chỉ cho ta con đường (đạo) dẫn đến giác-ngộ, giải-thoát. Từ-bi, bác-ái, thương chúng sinh có thể tóm lại trong chữ “thí”. Bô-thí, pháp thí, là lòng thương người của kẻ “đồng hội, đồng thuyền”, của người hiểu-biết đối với người không hiểu-biết, của người có đối với người không có, của người đi con đường giải-thoát đối với người chưa bước vào đường giải-thoát. Đường tu trọn-vẹn của Đức Phật chỉ có thể giúp người khác nhận ra đường tu của chính mình, nhưng không có công-nghiệp gì với đường tu của người khác. Ai riêng phần nấy. “Tự mình thắp đuốc mà đi”.

Qua Kinh-Thánh, chúng ta tìm được gì nơi Đức Chúa Trời? Chúng ta tìm thấy bản-thể của “Đức Chúa Trời là yêu-thương”. Với bản-thể đó, “Đức Giê-hô-va có phán: Ta yêu các ngươi” (Ma-la-chi 1:2). Có thật Đức Chúa Trời “yêu” chúng ta chăng? Nếu Ngài “yêu” sao đời chúng ta “khổ” thế này? Sao đời chúng ta lắm cay-đắng thế kia? Mặc dầu đôi lúc lương-tri giúp chúng ta “trăm sự nhờ Trời”, song lý-trí chúng ta nhận ra “Trời hành, Trời hại”. Đức Chúa Trời biết ý-tưởng của chúng ta, “Đức Giê-hô-va phán: Ta yêu các ngươi; và các ngươi nói rằng: Chúa yêu-thương chúng tôi ở đâu?” (Ma-la-thi 1:2). Chúa Jêsus trả lời: “Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài (Cứu Chúa Jêsus), hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư-mất mà được sự sống đời-đời” (Giăng 3:16). Cụ-thể hóa tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là sự giáng-sinh của Cứu Chúa Jêsus-Christ. Ngài là Đức Chúa Trời thành-nhân. “Ngôi lời (Chúa Jêsus, Ngôi Hai Đức Chúa Trời) đã trở nên xác-thịt ở giữa chúng ta, đầy ơn và chân-lý; chúng ta ngắm xem sự vinh-hiển của Ngài, thật như vinh-hiển của Con một Ngài đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14).

Kính-Thánh xác-chứng: “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bãy-tỏ ra trong điều này: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài (Cứu Chúa Jêsus) đến thế-gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống” (I Giăng 4:9).

Cơ-đốc nhân là người tin-nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, “được Ngài ban cho quyền-phép trở nên con-cái Đức Chúa Trời” (Giăng 1:12) và được Chúa Jêsus ngự vào lòng như lời Ngài phán: “Ta sẽ ở trong các ngươi” (Giăng 15:4). Trong lòng Cơ-đốc nhân có Chúa Jêsus và “sự yêu-thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh-Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô-ma 4:5).

Cơ-đốc nhân sống với “tình yêu-thương” này thật “đã”.

“Đã” như vầy: “Tình yêu-thương hay nhịn-nhục; tình yêu-thương hay nhơn-từ; tình yêu-thương chẳng ganh-tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu-ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư-lợi, chẳng nóng-giận, chẳng nghi-ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công-bình, nhưng vui trong chân-lý. Tình yêu-thương hay dung-thứ mọi sự, trông-cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.” (I Cô-rinh-tô 12:4-7).

Mỗi đặc tính của tình yêu-thương, nếu phải bàn kỹ, chắc cuốn sách này phải dày lắm. Vậy tôi xin tóm-lược một vài ý chính của mỗi đặc-tính tình yêu.

1/ “Tình yêu-thương hay nhịn-nhục”. – Là “nhịn-nhục” với người chớ không phải với hoàn-cảnh hay trạng-huống. “Nhịn-nhục” không phải là dấu-hiệu của sự nhút-nhát hay hèn-kém, mà là dấu-hiệu của một nội tâm vững-mạnh để nén cơn “huyết-khí chi nộ”, tìm phương giải-cứu cho mình và cho người.

2/ “Tình yêu-thương hay nhơn-từ” – Có thể là một người tốt mà không nhơn-từ. Có thể là một lời nói đúng mà không nhơn-từ. Nhơn-từ là sự “ngọt-ngào” của tình yêu. Ta cho người đói ăn, ta là người tốt, nhưng cho người đói ăn ngon là “nhơn-từ”.

3/ “Tình yêu-thương chẳng ganh-tị” – Tôi đã luận đến “ganh-tị” trong Thói Đời. “Ganh-tị” là tìm cách làm cho mình hơn người, hay tìm cách hạ người xuống thấp hơn mình.

4/ “Tình yêu-thương … chẳng khoe mình” – Người hay “khoe mình” thường là người mặc-cảm thiếu tài-trí nhưng muốn tỏ ra mình có đủ. Người “khoe mình” không dám ngó lên mà chỉ ngó xuống vì:

Ngó lên mình chẳng bằng ai – thì làm sao khoe”.

Ngó xuống thì thật khó ai bằng mình – khoe liền.

5/ “Tình yêu-thương … chẳng lên mình kiêu-ngạo” – Đại-đế Nã-Phá-Luân luôn tự-nhủ: Ta cũng chỉ như mọi người. Phần nhiều các vĩ-nhân chẳng bao giờ cảm thấy mình là vĩ-nhân. Trong Quốc Văn Giáo-Khoa Thư có chuyện con ếch mới thấy mình to gần bằng con bò nên “kiêu-ngạo” cố phình cho to bụng để bằng bò, để rồi vỡ bụng. Chuyện những con ruồi bị bò lấy đuôi xua đuổi vì nghĩ rằng thân mình “nặng” lắm nên bò chịu không nổi nên bay đi và “khiêu-ngạo” về sức nặng của mình.

6/ “Tình yêu-thương … chẳng làm điều trái phép” – Là không làm điều gì trái với “lễ phép” được xã-hội quy-định, là phải tỏ ra “lịch-sự”. “Trái phép” là bất lịch-sư, thô-lỗ, thiếu “văn-hóa”.

7/ “Tình yêu-thương … chẳng kiếm tư-lợi” – Người xưa nói: Quân-tử viết lợi, tiểu-nhân viết lợi, tiểu-nhân kiến lợi vong nghĩa. – Người quân-tử nói tới lợi, kẻ tiểu-nhân nói tới lợi. Có khác nhau là kẻ “tiểu-nhận kiến lợi vong nghĩa” – kẻ tiểu-nhân thấy lợi thì quên nghĩa. “Chẳng kiếm tư-lợi” là không vì lợi mà quên “nghĩa”, quên bổn-phận và trách-nhiệm.

8/ “Tình yêu-thương … chẳng nóng giận” – Giận là thứ tình-cảm bộc-lộ nhiều nhất trong cuộc sống con người. Giận ít thì buồn-phiền, hờn-lẫy. Giận nhiều thì quát-tháo, chửi-rủa, đập phá, nổi loạn, có khi đến giết người. Chế-ngự được cơn giận của mình là cả một vấn-đề. Cần có nghị-lực, cần có vị-tha, cần thông-suốt vấn-đề, cần xét-nét minh-mẫn. Kết-quả là thông-cảm và tìm cách cải-thiện do động-cơ yêu-thương thúc-đẩy. “Mau nghe, chậm nói, chậm giận” (Gia-cơ 1:19). Nhưng người có tình yêu-thương của Chúa thì … khó giận.

9/ “Tình yêu-thương … chẳng nghi-ngờ sự dữ” – Ở đời chẳng ai học được chữ ngờ nên phải có thái-độ nghi. Thái-độ “chờ xem” là hành-động cẩn-trọng, khôn-ngoan, dè-dặt. Cũng là hành-động khổ tâm, khổ trí. Muốn tin rằng thế mà không dám tin. “Nửa tin là đúng, nửa ngờ là không”. Muốn cho là chắc mà không dám chắc. Phải đặt ra giả-thiết rồi tìm nghiệm chứng và chờ thời-gian trả-lời. Đến khi nắm vững sự kiện, cái ngờ đã hết, cái nghi không còn, thì lắm lúc cơ-hội đã qua, dịp-tiện đã mất. Ta lại hối-tiếc, tự trách sao mình quá đa nghi.

Xã-hội ngày nay chân giả lẫn-lộn, thực chất tồi-tệ đều được màu-mè hóa. Ngành quảng-cáo đang là ngành phát-triển mạnh nhứt trong thương-trường. Cơ-quan tuyên-truyền vẫn đắc-dụng trong chính-trường, thì sao không nghi và càng nghi khi có kinh-nghiệm một lần tin lầm. Nhưng lạ lắm, khi có tình yêu chan-chứa thì không thể nghi-ngờ, mà lại dễ tin, nên dễ bị lừa, có khi bị thiệt-hại. Nhưng đổi lại đỡ mệt trí đi tìm cái xấu, cái dữ trong cái tốt của người đang khoe, giữ được lòng bình-tịnh. Thà tin lầm còn hơn nghi oan.

10/ “Tình yêu-thương … chẳng vui về điều không công-bình” – Niềm vui này không lương-thiện. Là vui khi thấy người mình không ưa gặp tai-nạn, người chống-đối mình gặp rủi-ro. v.v.

11/ “Tình yêu-thương … vui trong chân-lý” – Đức Chúa Trời là chân-lý, Đức Chúa Jêsus là chân-lý, Đức Thánh-Linh là chân-lý.  Chúa Jêsus nói thí-dụ như vầy: “Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm một con đã mất cho kỳ được sao? Khi đã kiếm được, thì vui-mừng vác nó lên vai, đoạn đem về nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân-cận mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng vậy, sẽ vui-mừng cho một kẻ có tội ăn-năn hơn là chín mươi chín người công-bình không cần phải ăn-năn” (Lu-ca 15:4-7).

“Hãy chung vui với ta” – đó là niềm vui cứu người và người được cứu. “chân-lý” về Chúa Jêsus là “Đức Chúa Jêsus-Christ đã đến trong thế-gian để cứu-vớt kẻ có tội” (I Ti-mô-thê 1:15). Cơ-đốc nhân “vui trong chân-lý” nên luôn nói về Chúa Jêsus cho mọi người với cả tấm lòng “yêu-thương”.

12/ “Tình yêu-thương hay dung-thứ mọi sự” – “không dung-thứ” là điệp-khúc của bài ca “Vị-kỷ”. Là khúc nhạc dạo của trường ca “Bi-thảm”, được kết-hợp bởi những âm-giai: Trách-cứ, oán-hận, căm-thù với những cung bậc càng cao làm điên-đảo cả người hát lẫn người nghe.

“Dung-thứ” là một chiêu hòa-giải hận-thù, một đòn đánh gục tánh vị-kỷ, đồng thời cũng là chất-liệu xây-đắp sự yên-tĩnh cho tâm-hồn, là hương thơm của tấm lòng vị-tha, độ-lượng. Theo Trang-Tử, người sẵn lòng “dung-thứ” cho kẻ khác là người biết giữ tấm lòng thản-nhiên, phán-đoán tinh-tường trong sự việc xảy đến, để trút bỏ giận-dữ, mở lòng độ-lượng, sẵn-sáng bỏ qua và “dung-thứ”. Thầy Mạnh-Tử cũng nói: Người ta ở đời, đối với người mà gặp phải kẻ dữ với mình một cách ngang-ngược, thì nên coi mình như đi trong bụi rậm vướng phải gai, chỉ nên thong-thả dừng lại, gỡ dần ra thôi, gai-góc kia có biết gì mà phải giận. Xử được như thế thì tâm mình không phiền não, bao nhiêu oán-hận cũng tiêu-tan. Thầy Mạnh-tử cũng cho biết: Trước những ngang-nghịch người làm cho mình, phải xét xem mình đã đủ Nhân, Nghĩa, Lễ với người đó chưa. Nếu quả đã đủ Nhân, Nghĩa, Lễ thì thẩm-định người ngang-nghịch với mình chỉ là hạng càn-dở, khác chi thú vật. Đối với thú vật thì kể làm chi, giận chi cho mệt, “dung-thứ” cho khỏe.

Trong tình yêu của Chúa, sự “dung-thứ” đòi hỏi thực-thi mạnh-mẽ trong Cơ-đốc nhân. Phi-e-rơ đã hỏi Chúa: “Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha-thứ họ mấy lần? Có phải là bảy lần chăng? Ngài đáp: Ta không nói các ngươi đến bảy lần đâu, nhưng bảy mươi lần bảy” (Ma-thi-ơ 18:22). Phi-e-rơ đặt tiêu-chuẩn tối-đa là bảy lần, gấp đôi ba lần thường tình là sáu, thêm một lần ân-huệ là bảy. Thế mà tiêu-chuẩn Chúa đặt ra là “bảy mươi lần bảy”, không có nghĩa là 490 lần, song là 70 lần với số 7 trọn-vẹn, nghĩa là “dung-thứ” hoài. Có tình yêu của Chúa thì “dung-thứ mọi sự”.

Chúng ta hãy đồng ca bài hát Yêu-Thương với chủ âm là Jêsus-Christ, với những nốt vàng trầm-bổng: “nhịn-nhục … nhơn-từ … dung-thứ”. Hãy hát theo nhịp đập của con tim với hương-vị “ngọt-ngào”.

13/ “Tình yêu-thương … tin mọi sự” – Không phải là “tin” mù-quáng, mà là cố tìm những điểm tốt trong người để đặt niềm tin. Bởi đó, có thể giúp người đã mất lòng tin nơi người tìm lại được niềm vui trong tự trọng và trách-nhiệm.

14/ “Tình yêu-thương … trông-cậy mọi sự” – Bởi lòng tin mà nẩy sanh “trông-cậy”, hi-vọng. Là mong-muốn mọi người đạt đến chỗ tốt-đẹp hơn, cao-trọng hơn, thành-quả hơn.

15/ “Tình yêu-thương … nín chịu mọi sự”“Nín-chịu” không nằm trong thế  thụ-động, nhưng có tính cách năng-động. Với ý-chí sắt đá, với nghị-lực kiên-cường quyết tâm “nín-chịu” để đạt đến đắc-thắng trọn-vẹn. “Nín-chịu” ương-ngạnh của người, hầu có thể tha-thứ “bảy mươi lần bảy” để giữ mối giao-hòa, nhơn đó mà giúp người vượt qua lỗi-lầm để đạt đến điểm cao hơn mà mình mong muốn. “Nín chịu” để có thể “ở tử-tế với mọi người … nhịn-nhục, dùng cách mềm-mại sửa dạy kẻ chống-trả, mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn-năn để nhìn biết chân-lý, và họ tỉnh-ngộ gỡ mình ra khỏi lưới ma-quỉ, vì đã bị bắt lấy làm theo ý nó.” (II Ti-mô-thê 2:24-25). Và những ai mong hầu việc trong công-tác cứu người chắc phải học đòi điều này hơn nữa như thánh Phao-lô: “Ta vì cớ những người được chọn chịu hết mọi sự, hầu cho họ cũng được cứu trong Đức Chúa Jêsus-Christ với sự vinh-hiển đời-đời.” (II Ti-mô-thê 2:10). “Đã” thiệt.

MÔT TIẾNG YÊU 

“Phải, tôi đã lấy sự yêu-thương đời-đời mà yêu người.” (Giê-rê-mi 31:3)

Một tiếng yêu thôi, đủ nhiệm mầu

Trai thanh, gái lịch … mộng bên nhau

Mơ ngày hạnh-phúc … se duyên thắm

Khiến lòng xao-xuyến, mối tình đầu.

Một tiếng yêu thôi, đủ nhiệm mầu

Người bệnh trên giường nằm đã lâu

Nghe như sức khỏe đang hồi-phục

Hy-vọng nay mai sẽ … khỏi mau.

Một tiếng yêu thôi, đủ nhiệm mầu

Em bé mồ-côi bớt khổ đau

Nụ cười đã mất, nay tìm thấy

Tình người, tình cha-mẹ … ngọt-ngào.

Một tiếng yêu thôi, đủ nhiệm mầu

Đường tội tôi đi, đi về đâu?

Tôi nghe Chúa gọi, niềm hi-vọng

Lại sáng bừng lên, lại dạt-dào.

Tường-Lưu

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

 

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top