Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Video » Mục sư Phan Thanh Bình: Đã Đời – Vui Mừng

Mục sư Phan Thanh Bình: Đã Đời – Vui Mừng

Hướng Dương

VUI-MỪNG 

Thói-đời dường như đưa ta vào mùa thu – thu buồn.

Bản tính con người được quy định: Hỉ (vui), nộ (giận), ai (buồn), cụ (sợ), ái (yêu), ố (ghét), dục (muốn). Vui, giận, sợ, yêu, ghét, muốn người ta có thể cảm nhận được mức-độ, nhưng “buồn” thì chỉ ít hay nhiều mà thôi. Hơn thế nữa “buồn” như là một đặc tính của con người và các nhà tâm-lý học không ngại định nghĩa: Con người là sinh-vật buồn, nên “buồn” rất nên thơ. Những bài hát “buồn” đi vào lòng người dễ-dàng. Có “Bài Thánh-Ca buồn” nổi danh của nhạc-sĩ Nguyễn-Vũ, chưa có “Bài Thánh Ca Vui”.

Quý vị lớn tuổi chắc còn nhớ bài ca-dao

Đêm Buồn

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh-chếch sao mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Đêm đêm tưởng giải Ngân-Hà

Chuỗi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn

Tào-khê nước chảy, hãy còn trơ-trơ.

Đây là tâm-trạng người phụ-nữ “buồn” vì xa chồng. “Buồn” không ngủ được, ra “đứng bờ ao”. Ngó xuống ao “trông cá cá lặn”, ngó lên trời “trông sao sao mờ”. “Trông con nhện giăng tơ” một mình ngay trước mặt là lôi nó vào nỗi “buồn” với mình, nhỏ-nhẹ hỏi: “Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?” cho đồng cảnh như nàng đang “giăng tơ lòng” chờ-đợi. Đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

“Buồn trông” cảnh vật, rồi lại nhớ “đêm đêm tưởng giải Ngân-Hà” tức nhớ đến Ngưu-Lang Chức-Nữ bị Trời đày phải sống xa nhau và thời-gian “Chuỗi sao tinh-đẩu đã ba năm tròn”. “Chuỗi sao tinh đẩu” là chùm sao gồm có 7 sao rất sáng tạo thành hình cái đầu có đuôi (chuỗi) dài ở hướng Bắc nên có tên là chùm sao Bắc Đẩu. “Chuỗi” của chùm sao này quay được một vòng là thời-gian trôi qua vừa đúng một năm. Nay “đã ba năm tròn” là “chuỗi sao tinh-đẩu” đã quay đủ ba vòng. Với hi-vọng “bất quá tam” thì thời-gian hội-ngộ đã gần. Nhưng nếu lâm vào tình trạng “trường kỳ” thì:

Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn

Tào-Khê nước chảy, hãy còn trơ-trơ.

Tào-Khê không phải là tên con suối. Theo Đào-Duy-Anh giải-nghĩa: Tào là hai bên bờ cao ở giữa trũng xuống, Khê là khe nước ở chân núi.

Nước chảy đá mòn, nhưng với người nữ này: “Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn”. Ôi cái “buồn” này nó thấm-thía làm sao.

Có nhiều người nhờ “buồn” mà nên thơ:

Lòng buồn như một chiều mưa

Run-run viết một bài thơ … cuối cùng.

“Buồn” chỉ hại khi chúng ta buồn-bã, buồn-nản, buồn-thiu và buồn thúi ruột.

Buồn-bã – “buồn” làm cho mình mất hết chất-liệu tốt mà chỉ còn “bã”. Như “bã mía, bã trầu”.

Buồn-nản – “buồn” làm cho mình mất hết năng-lực, là “nản lòng, nản chí”, hết muốn sanh-động, chỉ còn lặng-lẽ trôi theo dòng thời-gian. Một chút khó-khăn cũng ngại, mục-tiêu vừa tầm tay cũng không thể nắm lấy.

Buồn-thiu – “buồn” làm cho mình hư-hỏng như món ăn “thiu”, người ngoài cũng có thể ngửi thấy.

Tâm-trạng ba “buồn” này đã khiến Hemmingway, nhà văn nổi tiếng phải kết-thúc đời mình bằng khẩu súng săn. Tài-tử Marilyn Monroe “buồn” trên đài danh-vọng đã dùng vài viên thuốc ngủ giã-biệt cõi trần. Biết bao nhiêu tỉ-phú bởi ba “buồn” này mà “buồn đứt ruột” là “buồn-cho-đến-chết” trên tiền rừng bạc bể.

Làm người không tránh được buồn. Tránh buồn thảm, buồn nản, buồn thiu, nhưng cứ buồn tự-nhiên:

– Khi người thân yêu xa rời hay qua đời. Buồn chia-ly.

– Khi làm thân “dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng nên công-cán gì”. Buồn phí công-sức mà không nên chuyện.

– Khi đánh mất điều mình quý-giá cả vật-chất lẫn tinh-thần, cao nhất là mất người yêu. Buồn thất tình.

– Khi được tâng-bốc, nịnh-bợ, dại-dột vui-mừng quá trớn. Nghĩ lại “buồn” vì thấy được người cho mặc áo giấy.

– Khi mình tận-tình giúp-đỡ mà bị từ-chối. “Buồn” vì không được làm  điều thiện.

– Khi mình không ngay-thẳng mà chẳng ai biết, song tự mình biết, “buồn” khi bị lương-tâm cắn rứt.

– Khi chẳng được ai quan-tâm, hiện-diện của mình như ở nơi hoang-vắng, “buồn” vì mình vô dụng.

Làm sao giải “buồn”?

– Tìm vui

– Quên “buồn” tìm “vui” trong cơn say. Say là tâm-hồn lên mây, hết “buồn” – “Uống rượu tiêu sầu, sầu thêm thắt” Châm-ngôn 23:29-35 cho ta biết:

“Ai bị sự hoạn-nạn? Ai phải buồn-thảm

Ai có sự tranh-cạnh? Ai than xiết?

Ai bị thương-tích vô cớ?Ai có con mắt đỏ?

Tất cả những kẻ trễ bên rượu,

Đi nếm đủ thứ rượu pha….

Chớ xem ngó rượu khi nó đỏ hồng,

Lúc nó chiếu sao trong ly,

Và tuôn chảy dễ-dàng;”

Mua vui

Bỏ tiền ra để “sống theo tư-dục xác-thịt mình, làm trọn các sự ham-mê của xác-thịt và ý-tưởng chúng ta” (Ê-phê-sô 2:3) là “vui”. Vui-sướng không chi bằng “gian-dâm, ô-uế, luông-tuồng” (Ga-la-ti 5:19). – “Vui trong chốc-lát mà sầu thiên-thu”.

Chúa Jêsus buồn.

Chúa Jêsus phán lời này trong vườn Ghết-sê-ma-nê: “Linh-hồn ta buồn-rầu cho đến chết” (Mác 14:34). Ngài “buồn” vì Ngài là Đấng thánh-khiết, trọn-lành, mà phải gánh tội-lỗi của cả nhân-loại trên thân-thể Ngài, để chịu chết đền tội theo sự đoán-phạt bởi sự công-chính của Đức Chúa Trời.

Chúa Jêsus “buồn” chẳng những bị Đức Chúa Trời đoán-phạt, còn bị Đức Chúa Trời từ-chối, là một sự kiện chưa bao giờ xảy ra giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Trên thập-tự giá, Đức Chúa Jêsus phải thốt lên thảm-thiết trong cơn “buồn”: “Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mác 15:34). Bởi sự “buồn-rầu” này mà Ngài đã mở con đường cứu-rỗi cho cả nhân-loại. Thật ra Ngài “vui chịu” “buồn-rầu cho đến chết”.

Đây cũng là tâm-trạng của nhiều Cơ-đốc nhân chân-chính: “Ngó như buồn-rầu mà thường được vui-mừng” (II Cô-rinh-tô 6:10).

Tiếng việt mình hay “vui-mừng” chung với nhau. “Vui” từ bên ngoài đưa tới, “mừng” từ trong lòng phát ra. Người ta có thể “Tìm vui’, “mua vui”, “tạo vui”, nhưng chưa ai có thể “tim nừng”, “mua mừng” “tạo mừng”. “Vui” – happy, “mừng” – joy,

Biểu-lộ “vui” là “cười” – Vui cười. Biểu-lộ “mừng” là “rỡ” – Mừng-rỡ. Mặt mày rạng-rỡ người ta cũng khó thấy.

“Tìm vui” – “vui đâu chuốc đó” đến nỗi “quên cả lối về”. Đi “du-lịch” là cách “tim vui” hữu hiệu – Danh lam thắng cảnh “lạ”; sanh-hoạt xã-hội khác “lạ”, món ăn “lạ” và nhiều thứ “lạ” đủ làm ta “vui”.

“Mua vui” phải chọn lựa theo sở thích ưu-tiên thứ-tự của mình. Thông-thường ưu-tiên thứ tự như sau: Trước hết là “vui mắt”, kế đến “vui tai” tiếp theo là “vui trí”, sau cùng là “vui lòng”.

Đại nhạc hội tổ chức, vé “VIP” giá cao là chỗ ngồi gần sân khấu, nhìn rõ “vui mắt”. Các “danh ca” tất nhiên có giọng hát làm “vui tai” nhưng quan-trọng là thân hình phô-diễn sao cho “vui mắt”. Cái “vui mắt” này có mãnh-lực tác-động lấn át đến “vui tai”, “vui trí”.

Tôi xem truyền hình một buổi ca nhạc gây quỹ cho Chùa. Tới màn múa hát, người MC trịnh trọng thưa với các thầy ngồi hai hàng ghế đầu:

– Kính thưa Quý Thầy, đây là một màn ca múa “bốc lửa”. Quý Thầy muốn “tĩnh tâm”, xin nhắm mắt lại chỉ nghe hát. Nhưng thầy nào “tĩnh tâm” cao độ, không bị ngoại cảnh khuấy động thì cứ mở mắt mà nhìn, Và tôi thấy tất cả các Thầy đều ở cao-độ “tĩnh-tâm”.

Trong thân-thể con người có những điểm “nhột” khác nhau, bị người khác đụng vào “thọc-lét” là “cười”. Lạ một điều, tự mình đụng vào không “nhột”.

“Chọc giận” quá dễ, vì “chọc” chỗ nào trên thân thể cũng có thể làm cho đau, nhưng “chọc cười” khó vô cùng vì đâu biết chỗ nào “nhột” để “chọc”.

Các thuyết-trình gia người Mỹ, trước khi thuyết-trình luôn kể môt câu chuyện cười để thính-giả cười thoải-mái, tâm-tư thư-giãn lắng nghe thuyết-trình. Môt diễn-giả Mỹ qua Trung Quốc áp dụng phương-thức này trước khi thuyết-trình. Thông-dịch viên nghe câu chuyện nhạt như nước lã, có thuật lại chắc chẳng ai cười, như vậy là mất lòng diễn-giả, nên người thông-dịch viên bèn nói:

– Diễn-giả vừa kể một chuyện vui cười. Nếu tôi thông dịch lại, quý vị nghe chắc khó cười. Vậy tôi xin quý vị vui lòng cười lên một tiếng thật lớn để làm vui lòng diễn giả. Thế là cả hội trường đều cười vang. Diễn-giả bèn bắt tay anh thông-dịch viên và nói:

– Anh quả là một thông-dịch viên tài giỏi tôi chưa từng gặp. Câu chuyện tôi nói hơi dài mà anh tóm gọn vài câu đầy đủ ý-nghĩa làm mọi người đều cười vang. Phục anh vô-cùng.

“Vui cươi” là nhu-cầu thiết yếu trong đời sống con người. Tạp-chí nào cũng có mục “vui-cười”. Trong đại nhạc hội cũng có mục “hài kịch”. Lạ một điều, nhưng diễn viên “hài” thường có tâm trạng buồn.

Một chàng bước vào văn-phòng nhà tâm-lý học, bày-tỏ nỗi buồn của mình. Nhà tâm lý khuyên người này nên đi xem danh hài mới đến trong thành-phố vài ngày nay đã được báo chí khen ngợi là người giải tỏa nỗi buồn và đem tiếng cười đến cho nhiều người. Nhà tâm-lý học ngỡ-ngàng khi nghe người này nói:

– Danh hài đó chính là tôi.

Nhiều người có thể làm cho người khác cười nhưng chính mình cười không nổi.

Người Việt mình hay, ít khi chúc vui, “chúc vui” ngắn hạn – chúc một ngày vui-vẻ, nhưng Chúc Mừng Năm Mới,  Chúc Mừng Hôn Lễ, Chúc Mừng Tân Gia, Chúc Mừng Khai Trương, Chúc Mừng Thượng Thọ v,v, Khi Chúa Jêsus giáng sinh, các thiên-sứ từ trời đến báo tin cho các gả chăn chiên ngoài đồng như vầy: “Ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui-mừng lớn cho muôn dân (I bring you good news of great joy that will be for all the people)” (Lu-ca 2:10).

Chúa Jêsus giáng-sinh không phải là “tin vui” (happy) mà là “tin mừng” (joy). “Tin mừng” này không phải cho một người, hay một dân tộc mà là cho cả loài người, cho muôn dân.

Sự giáng-sinh của Chúa Jêsus là “sự vui-mừng lớn cho muôn dân”, vì Ngài giải-quyết vấn-đề lớn lao nhứt của nhân loại. Đó là tội-lỗi nơi con người. “Đức Chúa Jêsus-Christ đã đến trong thế-gian để cứu-vớt người có tội” (I Ti-mô-thê 1:15).

Cuộc đời đầy đau-khổ của nhân-loại do “tội-lỗi” gây ra. “Tội-lỗi” đã thành môn học trong tâm-lý học và phân-tâm học. Xã-hội rất lưu-tâm đến “tội-lỗi”, càng văn-minh con người càng nghĩ ra nhiều luật để ngăn chặn bớt sự hoạt-động “tội-lỗi” trong con người. Càng văn-minh, con người càng nghĩ ra nhiều cách phạm tội có luật-pháp che-chở. Tinh-vi đến chỗ phạm tội trong mục-tiêu lý-tưởng cao-cả. Nói tóm một lời: Nhân-loại ai cũng “thích” làm điều “tội-lỗi” nhưng lại sợ hậu-quả của “tội-lỗi”. Cái chiều hướng “thích” đó chẳng một ai có thể cưỡng lại. Có thể cưỡng lại trong hành-động, nhưng không thể cưỡng lại trong tư-tưởng.

Tôn-giáo dự-phần giúp con người “bớt” phạm tội, nhưng chẳng có tôn-giáo nào làm cho con người thoát khỏi tội. Nhiều vị đã được người đời tôn xưng là “thánh nhân” vẫn cảm thấy mình không “thánh” chút nào. Tất cả tôn-giáo đều tưởng-tượng ra cái hậu-quả dành cho nhân-thế sau khi lìa trần, như một lời răn-đe, khuyến-cáo. Nhưng nào có ai đủ năng-lực để thoát khỏi tội. Người ta đã hình-dung sức-mạnh của “tội-lỗi” là “biển tội” thì nhân-loại chỉ đủ sức vùng-vẫy trong “biển tội” chớ sao đủ sức ra khỏi “biển”.

Vì sự bất-năng của loài người, vì sự tuyệt-vọng của nhân-loại, Đức Chúa Trời – Đấng Tạo-Hóa – Đấng Tạo Dựng con người đã lập ra phương-pháp cứu loài người ra khỏi tội. Phương-pháp cứu loài người ra khỏi tội được gồm tóm trong lời phán của Cứu Chúa Jêsus: “Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài (Chúa Jêsus), hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư-mất mà được sự sống đời-đời.” (Giăng 3:16). Nên sự giáng-sinh của Chúa Jêsus là “sự vui-mừng lớn cho muôn dân”. Ngài đã đến trong thế-gian làm một người như chúng ta nhưng hoàn-toàn vô-tội. Ngài lấy mạng sống Ngài thay cho nhân-loại lãnh án-phạt của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân, chịu chết trên thập-tự giá. Sau đó, Ngài bị chôn trong mồ-mả, nhưng đến ngày thứ ba, Ngài đã đắc-thắng Tử-Thần và sống lại cách vinh-hiển. Ngài ở lại trần-thế thêm 40 ngày để tỏ cho mọi người biết Ngài là Cứu Chúa đang sống, hoàn-tất chương-trình cứu-rỗi loài người của Đức Chúa Trời. Ngài thăng thiên về trời và sai Đức Thánh-Linh xuống trần-thế để áp-dụng sự cứu-rỗi cho những ai tin-nhận Ngài làm Cứu Chúa. “Hễ ai nhận Ngài (tin Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình) thì Ngài cho quyền-phép (do Đức Thánh-Linh) trở nên con-cái Đức Chúa Trời, là ban cho những người tin Danh Ngài” (Giăng 1:12). Từ sự-kiện này, con người được cứu khỏi “tội-lỗi”, “chẳng còn có sự đoán-phạt nào (dành cho người có tội) cho những người ở trong Đức Chúa Jêsus-Christ” (Rô-ma 8:1).

Quý Vị có “sự vui-mừng lớn” này mới “đã”.

Cơ-đốc nhân chân-chính còn có nhiều cái “mừng” rất “đã”. Cơ-đốc nhân có Chúa trong lòng và biết “tôn Đấng Christ làm Chúa làm thánh trong lòng mình” (I Phi-e-rơ 3:15) thì “vui-mừng trong Chúa” (Phi-líp 4:4) rất “đã” vì “vui-mừng mãi-mãi” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:16). Cơ-đốc nhân chân-chính luôn gặp hoạn-nạn, thử-thách thế mà chẳng buồn, chẳng chán, xong “coi sự thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui-mừng trọn-vẹn, vì biết rằng sự thử-thách đức-tin anh em sanh ra sự nhịn-nhục. Nhưng sự nhịn-nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình em cũng trọn-lành trọn-vẹn, không thiếu-tốn chút nào” (Gia-cơ 1:2-4). Thật quá “đã”.

VUI-MỪNG

Vui-mừng là phước trên đời

Không vui là một … thiệt-thòi lớn-lao!

Có người nào muốn buồn sao?

Nhưng vui không phải lúc nào cũng vui!

Mà buồn thì … khắp mọi người

Trần-gian bể khổ là lời … nhập tậm

Cớ sao … mình sống

Cớ sao … mình sống ngay-lành

Gặp toàn những chuyện đa-đoan, cực lòng?

Cớ sao … sự nghiệp tiêu-tùng

Bao năm cực-nhọc, tay không bây giờ?

Cớ sao … trở bệnh bất ngờ

Nằm co một chỗ, ai lo cho mình?

Than thân, trách phận, thường tình

Đời người bao nỗi bất-bình, đắng cay!

Ví như vui được phút giây

Thì buồn có thể kéo dài … gấp trăm.

Niềm vui chấp cánh bay nhanh

Nỗi buồn vẫn cứ quẩn-quanh không rời.

Chúa cho ta có nụ cười

Chúa cho ta có niềm-vui-không-tàn

Ta buồn, ta giận, ta than

Tự ta làm khổ cái thân ta nhiều

Đường đời đi bước tó-xiêu

Tinh-thần chán-nản là điều … tất-nhiên.

Hãy làm vững lại đức-tin

Chuyện gì xảy đến cho mình, chẳng sao!

Chúa từng biến-đổi thương-đau

Thành muôn tiếng hát cất cao giữa đời!

Vui là quà tặng của Trời

Vui là ý Chúa cho người … biết vui!

Tường-Lưu

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top