Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Tri Ân

Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Tri Ân

TRI-ÂN

Tôi đã luận không thể trí-ân, chỉ có thể tri-ân vì ân phát-xuất từ sự sống và yêu-thương. Không ai “hiểu” sống và yêu-thương, nhưng “biết” sống và yêu-thương. Không ai “hiểu” ơn hay ân, nhưng “biết” ơn hay ân. Không ai “hiểu” ơn-phước nhưng “biết” ơn-phước, nên không trí-ân mà chỉ tri-ân.

Tri-ân của con người trước tiên là “biết” yêu. Yêu là ân – Ái-ân. Yêu là ơn-phước cao-quý nhất trong đời sống con người.

Con người sinh ra có ngay sự sống và tình yêu, nhưng ở tuổi nào “biết” sống và “biết” yêu thì khó xác-định. Theo tâm-lý học, “biết” sống khó xác-định hơn “biết” yêu. Tuổi “dậy thì” được kể là tuổi “biết” yêu. Tuổi “dậy thì” người Việt mình thường là “nữ thập tam, nam thập lục”. Con gái ở tuổi 13 con trai ở tuổi 16. Ở Mỹ này gọi chung là tuổi “teen” là từ 13 đến 19. Thời này, theo sinh-lý học, tuổi “dậy thì” bắt đầu ngay tuổi 9, nói theo tiếng Việt là “chín mùi”.

Ở tuổi “dậy-thì” nam giới “biết” yêu năng-động, nữ giới “biết” yêu thụ-động. Tiếng Việt mình hay, con gái nói văn-chương là “thiếu nữ”, con trai chẳng thể nói văn-chương là “thiếu nam”. Tại sao? Chỉ có Kinh-Thánh mới có thể cho chúng ta biết chính-xác tiếng Việt mình “hay” – chỉ “thiếu nữ” chớ không có “thiếu nam” đúng theo Kinh-Thánh chỉ-định.

Kinh-Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời lấy bụi-đất nắn nên hình người. Người đầu tiên Ngài dựng nên là người nam. Ngài đặt tên người nam là A-đam. Trước khi Ngài tạo-dựng (create) A-đam, Ngài làm nên (make) mọi sinh-vật bằng lời phán của Ngài. Ngài truyền cho A-đam đặt tên cho mọi sinh vật. Thế là mọi sinh-vật có tên cho con đực, con cái, con trống, con mái. Sau khi đặt tên cho các sinh-vật, A-đam nhận thấy mọi sinh vật có 2 phái,  còn mình – con người chỉ có một phái. A-đam nhận-thức mình “thiếu” một phái. Kinh-Thánh ghi: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, liền lấy một xương sườn rồi lắp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. A-đam nói rằng: Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là người nữ,  vì nó do nơi người nam mà có” (Sáng-thế ký 2:21-23). Vì cớ đó, khi người nam đến tuổi “dậy-thì”, thấy con gái là cảm-nhận ngay mình “thiếu-nữ”. Con gái không “thiếu nam” vì trong thân xác đã có chất nam (xương sườn của A-đam).

Ở tuổi “dậy-thì” con người không giải-quyết bản-năng như thú vật mà “biết” yêu. Cảm-nhận “thiếu nữ” nhưng không phải “nữ” là được mà phải “yêu”.

“Biết” yêu, song “biết” bày-tỏ yêu phải dụng đến kỹ-năng và cả kỹ-thuật. Bởi kỹ-năng và kỹ-thuật mà kho-tàng thơ văn phong-phú trong lãnh-vực “yêu” đầy-ắp mọi thời đại.

Vấn-đề “ái-ân” trong các sách tôi viết được trưng-dẫn nhiều câu ca-dao, tục-ngữ, danh-ngôn cổ-kim Đông Tây. Hôm nay, mời quý vị cùng tôi trở về quá khứ, hồi-tưởng sáu, bảy chục năm về trước bọn nam nhi ở tuổi học trò cảm “thiếu nữ” là tìm cách “tán gái” – bày-tỏ tình yêu của mình. Nhà văn Nguyễn-nhật-Ánh kể chuyện “tán gái” của mình như vầy:

Lớp tôi có tất cả bốn mươi mống, trong đó hết ba phần tư là con trai. Con gái chỉ có một nhóm lèo-tèo, ngồi túm tụm ở hai bàn trên.

Ỷ mình là “của hiếm”, tụi con gái kiêu-căng, hợm-hĩnh tợn! Suốt ngày, tụi nó chỉ chụm đầu vào với nhau trò-chuyện thì-thầm rồi cười rúc-ra rúc-rích, chả thèm để ý đến bọn con trai chúng tôi lấy một chút. Trong số tụi nó, con nhỏ Việt-An là “làm cao” nhất.

Việt-An đẹp nhất lớp tôi. Điều đó ai cũng thừa nhận. Chính Việt-An … cũng thừa-nhận điều đó cho nên càng tỏ ra “lạnh-lùng, băng-giá” trước cặp mắt ngưỡng-mộ của tụi tôi.

Mỗi lần tụi con trai tìm cách bắt chuyện với nó, nó đều trả-lời đàng-hoàng. Nhưng ngôn-ngữ của nó là thứ ngôn-ngữ khách-sáo, lịch-sự, đúng mực, không bộc-lộ một chút tình-cảm nào. Vì vậy, không đứa nào trong bọn tôi dám “giỡn mặt” với nó.

Khách-quan mà nói, thái-độ kiêu-kỳ của Việt-An trông thật dễ ghét! Còn “chủ-quan mà nói”, con gái trông càng dễ ghét bao nhiêu lại càng có vẻ … dễ thương bấy nhiêu! Thế mới khổ cho tôi! Khổ nhất là ngay từ lần đầu tiên trông thấy Việt-An, tôi bỗng hiểu rằng từ nay trở đi tôi không còn “tự-do” nữa. Lúc nào tôi cũng nghĩ đến nó, không chỉ ánh mắt, nụ cười, mái tóc mà ngay cả cái tên Việt-An đối với tôi cũng trở nên gần-gũi, thân-thiết lạ-lùng như thể tôi đã yêu cái tên ấy từ kiếp trước! Có những lúc ngồi một mình, nghĩ đến Việt-An tôi bất-giác gọi thầm tên nó và cái âm-vang ngọt ấy bao giờ cũng gợi nơi tôi một cảm-giác nhớ-nhung trìu-mến lẫn một nỗi hân-hoan khó tả.

… Việt-An ngồi bàn đầu dẫy bên kia, tôi ngồi bàn đầu dẫy bên này, gần cửa ra vào, muốn ra ngoài nó phải đi ngang qua trước mắt tôi. … Đợi cho Việt-An đi qua trước mặt tôi, tôi cầm cây viết máy vẩy vào lưng nó. Trong nháy mắt, vạt áo phía sau của Việt-An dính đầy những vết mực lốm-đốm. Nó chẳng hay biết gì, cứ cắm đầu đi thẳng.

Khi thấy Việt-An đi đã khá xa, tôi đuổi kịp Viêt-An. Nó đang đi chung với Hồng-Hoa. Tôi kêu:

– Việt-An! Việt-An quay lại ngạc-nhiên:

– Anh kêu tôi hả? Tôi chỉ vào lưng áo nó “méc”:

– Áo Việt-An dính đầy mực kìa. Nó ngoảnh lại nhìn nhưng không làm sao thấy được vạt áo sau lưng. Nó day lưng sang Hồng-Hoa:

– Hồng-Hoa coi thử có gì không?

– Trời ơi! – Hồng-Hoa kêu lên sửng-sốt – Mực ở đâu dính tèm lem vầy nè? Hồng-Hoa ngó tôi:

– Ông có biết ai vẩy mực không? Tôi giật mình:

– Không! Không biết! Nếu biết thì tôi đã cho nó một trận rồi.

Biết ơn tôi về việc tôi đã quan tâm đến cái áo của nó và nhất là việc tôi hùng-hổ đòi trừng-trị “cái tên mất dạy nào đó”. Việt-An tỏ ra cởi-mở với tôi hơn thường-lệ.

 Sáng hôm sau, vừa ló đầu vào lớp, tôi gặp ngay Hồng-Hoa. Tôi chưa kịp mở miệng, nó chỉ tay vô trán tôi dọa:

– Chết ông rồi! Sao hôm qua ông dám vẩy mực vào áo Việt-An? Chiêu-Minh thấy, tôi đã nói cho Việt-An biết rồi.

Suốt một tháng trời, tôi không dám giáp mặt với Việt-An. Cho tới một hôm, trong giờ ra chơi, tôi đánh bạo lại gần nó. Lúc này tụi bạn đã ùa cả ra ngoài, chỉ còn mỗi Việt-An ngồi tại chỗ cắm cúi đọc sách. Tôi hắng giọng hỏi:

– Việt-An đọc cuốn gì vậy? Nó ngước mắt nhìn tôi:

– Cuốn Giamilia.

– Hay không?

– Hay. Tôi nói giọng rụt-rè:

– Chừng nào coi xong Việt-An cho tôi mượn nghen!

Hai ngày sau, Việt-An đưa cho tôi cuốn sách. Nó nói:

– Anh nhớ giữ cẩn-thận nghen. Đừng vẩy mực vô sách.

Trước khi trả, tôi nắn-nót chép ở trang đầu cuốn sách hai câu thơ của Nguyễn-Bính:

Nắng mưa là bệnh của trời
Tương-tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Dù cố trấn-tĩnh, khi đưa cuốn sách cho Việt-An, tay tôi vẫn run-run. May là Việt-An không để ý. Nó nhận cuốn sách bỏ ngay vào cặp không giở ra coi.

Sáng hôm sau, nó hoạnh-họe:

– Ai mượn anh chép thơ Nguyễn-Bình vô đấy. Nó đẩy cuốn sách đến trước mặt tôi:

– Anh mua đền cho tôi cuốn khác đi!

Chiều hôm đó tôi phóng xe đi lùng hết hiệu sách này đến hiệu sách khác, quyết mua bằng được cuốn Giamilia chết-tiệt để “ném vào mặt” Việt-An.

Nghĩ trong đầu thì hung-hăng như vậy, hôm sau gặp Việt-An, tôi xìu như bún.

Khi đưa cuốn sách mới mua cho Việt-An, tôi không dám nhìn thẳng vào mặt nó nói:

– Đền cho Việt-An nè! Tôi nói với giọng sượng-sùng. Và không đợi cho Việt-An kịp nói gì, tôi vội-vã bước đi. Nhưng Việt-An gọi giật:

– Anh Thư! Tôi giật mình quay lại và nhìn nó bằng ánh mắt ngạc-nhiên và lo-lắng. Chẳng lẽ cuốn sách bị rách chỗ nào, Việt-An không chịu nhận chăng? Thấy tôi đứng sững trời trồng, Việt-An mỉm cười:

– Anh lại đây! Tôi bàng-hoàng bước tới. Việt-An thò tay vào cặp lấy cuốn Con Tàu Trắng ra đưa tôi: Anh đọc cuốn này đi. Hay lắm.

Tôi cầm lấy cuốn sách mà như thể cầm một giấc mơ. Không hiểu hư thực thế nào. Việt-An ơi, em có định quay tôi như quay dế không?

Quý vị nghĩ sao lối “giao duyên” của Nguyễn-Nhật-Ánh?

Tôi cảm nhận Tri-Ân hai người ban ơn, nhận ơn trong tình yêu quá kỹ-năng lẫn kỹ-thuật.

Tri-ân trong tình yêu là vậy, song tri-ân trong tình người còn tùy vào sự trưởng thành. Người Việt chúng ta có những buổi hội-họp TRI-ÂN THẦY CÔ GIÁO. Tại sao người Việt mình lại coi Tri-Ân người dạy-dỗ mình, dẫn-dắt mình trọng như vậy.  

Gần hai tuần lễ bị kiệt sức, tôi nằm trên giường mà cảm nhận mấy mươi năm vất-vả mới có được hai tuần “vacation”. Nằm trên giường không thể “nghỉ” mà sao cứ “nghĩ”. Đưa “nghĩ” trở lại quá-khứ, “ngược dòng thời-gian” từ điểm khởi hành “hôm nay” với vấn-đề “tri-ân”.

Ơn phải “biết” trước nhứt là ơn bác-sĩ làm cho tôi. Tôi tới bác-sĩ, vừa thấy thân-hình yếu-đuối, gương mặt thiểu-não, ông bèn phán ngay:

– Nhiều lần tôi đã nói với Mục-sư: Phải nghỉ, dẹp công-việc qua một bên, lo cho sức khỏe của mình. Mục-sư không chịu nghe lời tôi “nghỉ” mà cứ tiếp-tục làm thì làm sao khỏe được. Tôi làm mặt nghiêm, thưa với bác-sĩ:

– Thưa bác-sĩ, tôi tới để bác-sĩ tìm cách loại-trừ những gì không tốt, chỉnh-đốn cơ-phận nào hư-hỏng, phục-hồi sức khỏe để tôi làm việc, chớ không phải ngưng làm để khỏe, mà là khỏe để làm. Thế là bác-sĩ vui-vẻ khám kỹ, cho thêm thuốc.

Ba ngày sau, người em út của tôi, 79 tuổi gọi điện-thoại cho tôi, cho  biết bác-sĩ nhờ em đem thuốc đến cho anh. Mười lăm phút sau em tôi tới với hai hộp thuốc, mỗi hộp 4 vĩ thuốc trao cho tôi, mỗi vĩ 4 viên, mỗi ngày một viên. Em tôi cho biết, khi bác-sĩ khám bịnh xong, biết anh kiệt sức và ở trong tình-trạng nguy-hiểm, cần nghỉ-ngơi. Bác-sĩ bảo em cố-gắng nói anh “bớt” làm việc. Cầm hai hộp thuốc trong tay mà lòng rất xúc-động, “Ơn” này quá đậm-đà. Vài ngày sau nhận được lời nhắn từ văn-phòng bác-sĩ: Ban đêm thấy mệt-mỏi, khó chịu phải gọi 911 ngay, đưa vào bịnh-viện chớ không thể chờ sáng đi bác-sĩ. “Tri-ân” mới cảm-nhận được “ơn” bác-sĩ dành cho mình quá lớn-lao, quá dồi-dào.

Nằm trên giường “nghỉ” mà bài hội-luận với Mỹ-Thanh chỉ mới có dàn bài với vài ý-tưởng thì không thể “nghỉ” mà phải “nghĩ”. “Nghĩ” thì được, nhưng ngồi lên viết không nổi. Cuối cùng gọi Mỹ-Thanh, xin “nghỉ” một lần và xin Mỹ-Thanh cho phát lại bài cũ để “điền vào chỗ trống”. Mỹ-Thanh chấp-nhận. Cảm-ơn Mỹ-Thanh nhiều.

Sáng thứ Hai, nằm “nghỉ” trên giường, mở radio nghe Tiếng Nước Tôi. Tiếng Mỹ-Thanh thông báo: Mục-sư Bình đau-yếu không thể lên chương-trình như thường lệ, Mỹ-Thanh mời thính giả nghe lại bài hội-luận “Ăn Nhịp”.

Nghe lại bài cũ mà sao “ăn nhịp” với chính mình trong hiện-tại. Nằm nghe mà tâm-hồn vui-thỏa. Vui-thỏa vì biết những buổi hội-luận đã đem lại lợi-ích cho một số người lắng nghe qua lời “hỏi đáp”. Nghe xong là thấy “khỏe” hơn một chút. Cảm-ơn Mỹ-Thanh, cảm-ơn đài TNT, cảm-ơn thính-giả. Biết ơn, tri-ân là thấy “khỏe”.

Tri-ân người còn tùy theo trình-độ “hiểu-biết”. Nhưng biết mình có “ơn” gì để giúp người thì quả không dễ. Nhiều khi người ta biết “ơn” mình có, mà mình không ngờ mình có “ơn” đó.

Môn tâm-lý học giúp người ta nhận thấy ưu-điểm hơn là thấy khuyết-điểm nơi mỗi người. Chính ưu-điểm là “ơn” người đó có để giúp đời. 

Người biết “ơn” mình có, mới làm “ơn” đúng cách, đúng chỗ, đúng thời-điểm. Người biết “ơn” mình có là biết trau-dồi “ơn”, khai-triển “ơn” để “ơn càng thêm ơn”.

“Ơn” với “Tài” thường đi đôi với nhau, “tài” hỗ-trợ “ơn”. “Tài” thiếu “ơn” là “tài sanh tật”.

Cơ-đốc nhân chân-chính đều có “ơn” mà “ơn” này được định danh là “ơn Đức Thánh-Linh (The Gifts Of the Spirit). “Ơn” này Kinh-Thánh cho biết có đến 16 “ơn” thông-dụng và 2 “ơn” đặc-biệt”. Mỗi Cơ-đốc nhân chân-chính đều có ít nhất là một “ơn” hay vài “ơn”, nhưng chẳng ai có đủ 16 “ơn” thông-dụng để làm “ơn”. Tôi đã viết và xuất-bản cuốn Ân-Tứ Thánh-Linh vào tháng 9 năm 1992.

Mong rằng mỗi chúng ta “biết” ơn người. Cảm-nhận “ơn” người ban cho mình là thấy đời mình đầy “ơn-phước”.

Mong rằng mỗi chúng ta “biết” ơn mình có. “Biết” ơn mình có, mới dùng “ơn” làm “ơn” cho người.

SỐNG TẠ-ƠN CHÚA

Tạ-ơn Chúa ban cho con nhiều vật-thực,
Con ăn vào, thêm sức-khỏe mạnh hơn,
Xin cho con biết chia-xẻ làm ơn,
Giúp kẻ đói, người nghèo và đơn chiếc.

Tạ-ơn Chúa đã cho con hiểu-biết,
Được khôn-ngoan, sống thánh-khiết theo lời,
Xin dạy con, nói chia-xẻ cho người,
Về sự sống, đời-đời trong Đấng Christ.

Tạ-ơn Chúa, ban bình-an miên-viễn,
Dù trải qua những thử-thách khó-khăn,
Xin cho con sống bày-tỏ tình thân,
Với tất cả mọi người trong ân-sủng!

Tạ-ơn Chúa, đã cho con mạnh tiến,
Thêm ơn Ngài, thuộc-thể lẫn thuộc linh,
Xin cho con giúp người yếu đức-tin,
Và nâng-dỡ, những anh em kém sức!

Tạ-ơn Chúa, phước Ngài ban tốt nhứt,
Ban cho con sống dư-dật thỏa lòng,
Để đời con, mãi trung-tín, cậy-trông,
Và bày-tỏ, ơn Ngài cho tất cả.

Tiểu-Minh-Ngọc

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top