Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Thỏa Lòng

Mục sư Phan Thanh Bình: Thỏa Lòng

THỎA-LÒNG

Trong cuộc sống, hầu hết chúng ta đã từng rơi vào tình-trạng chán-nản. Tâm-lý học chia ra bốn loại chán-nản:

1/ Chán-nản trong trạng-thái tĩnh. Nó không thể-hiện bởi hành-động, nhưng thể-hiện qua tình-cảm như lười biếng, bồn-chồn, cáu-kỉnh và cảm-xúc tiêu-cực.

2/ Chán-nản được định-mức. Không làm biếng, muốn làm một cái gì đó lại không biết mình phải làm gì, ở trong tình-trạng mơ-hồ.

3/ Chán-nản nên tìm làm cái gì theo cảm-xúc, một loại làm chơi và luôn có suy-nghĩ tiêu-cực.

4/ Chán-nản đến độ bất mãn. Chính cái bất-mãn nảy sinh phiền-trách bản thân và cả với người.

Tâm-lý học chia ra 4 loại “chán”. Tiếng Việt mình chia ra 7 loại “chán” như vầy:

1/ Chán-chường – Những người giàu thường chán-chường – không còn thiếu gì để ham, “Quá nhiều nên đã chán-chường hết trơn”.

2/ Chán-ngán – Những người làm đâu hư đấy, mong chút gì cũng không đạt đến nên “chán-ngán mớ đời”.

3/ Chán-ngắt – chán đến độ tự “ngắt” mình ra khỏi. Nghe radio hay xem truyền hình mà “chán-ngắt” là “ngắt”, tắt radio, TV, hết muốn nghe.

4/ Chán-chê – Nghe ai giảng-luận hay thuyết-trình chán-ngắt mà không chịu “ngắt”, cố-gắng chờ-đợi một cái gì mình ưa-thích, thế mà chẳng có là “chán-chê”, lần sau có mời cũng không tham đự, từ “chán-chê, chuyển qua “chán-ghê”.

5/ Chán-ghét – là hội-tụ của “chán-chê” và “chán-ghê”. “Chán-ghét” là dứt-khoát không dính-dáng tới, không đả-động tới. Có người thấy mặt ai đó là “chán-ghét” quay đi.

6/ Chán-nản – là đạt đến mức độ cao-siêu về “diệt dục”. Người chán-nản thường là người suy-tư hơi nhiều về cuộc đời. Thi-sĩ Triệu-Dương lâm vào tình-trạng “chán-nản”.

Đời chán ta hay ta chán đời?

Tuồng đời bày đặt lắm trò chơi

Bạc, tiền, châu-báu làm mê dạ:

Gạo, cá, chim, muông để nhử mồi.

Rút hết chiến-tranh vàng đá nát

Chỉ còn phong-cảnh núi sống dài.

Đời người lại hạn là trăm tuổi

Lao-lực, vinh-hoa cũng thế thôi.

Kết thúc “cũng thế thôi” thì thật quá “chán-nản”. “Nản chí sờn lòng” thì còn chi? 

Tâm-lý học đã coi “chán-nản” là bệnh cùng loại với “trầm-cảm”. Triệu-chứng “chán-nản” là luôn cảm thấy buồn, tâm-hồn trống-rỗng và khó chịu, không còn “ham vui”. Có cảm giác vô-dụng, mặc cảm tội-lỗi. Chán ăn-uống hay ăn-uống hơi nhiều, mất ngủ hay ngủ quá bình-thường, giảm khả-năng suy-nghĩ hoặc tập-trung tư-tưởng. Lòng tự-trọng thấp-kém, khó-khăn trong quyết-định. Luôn-luôn mệt-mỏi, di-chuyển chậm-chạp, động-tác không vững-chắc, mất nghị-lực, thường có ý-nghĩ tự-sát là “chán chết”.

7/ Chán-chết – Trong Le Mythe De Sisyphe. Albert Camus đã viết ở trang đầu: “Chỉ có một vấn-đề triết-học thật sự đúng-đắn, đó là tự-sát. Vấn-đề tự-sát là vấn-đề được nêu lên trong ý-thức đối với quan-niệm phi-lý”. Triết-học cho rằng những người tự-sát mang ý-nghĩa từ-chối cuộc sống vì không tìm thấy một ý-nghĩa gì để khả-dĩ tiếp-tục sống, chớ không phải “chán đời”. Thật ra không tìm thấy ý-nghĩa để sống thì “chán chết”.

Trong vở-kịch Hamlet của đại kịch-sĩ Shakespeare, nhân vật chính trong vở kịch là chàng Hamlet đã nói một câu để đời: “To be or not to be, that is the question” – Nên sống hay không nên sống, đó là một vấn-đề. Đây cũng là ý nghĩ băn-khoăn ngập-ngừng của biết bao người trong nhân-thế. Phải chăng chết là sự giải-thoát cuộc sống “chán-nản”, hay cứ bám lấy sự sống “chán-nản” như tâm-trạng nhà thờ Tô-Thùy-Yên:

Tôi sống để quên, quên để sống.

Cuối năm 1979, các báo loan tin dược-sĩ Phạm-Vương-Đức đã trộn độc dược vào bữa cơm tối gia-đình để chấm-dứt cuốc sống của cả gia-đình, chỉ vì dược-sĩ cảm thấy “chán-nản” sau một thời gian sống tại nước Mỹ trong “mơ-ước”.

Bốn năm trong trại tù Việt-cộng với mỹ danh “trại cải-tạo” không “chán” vì dược-sĩ có kế-hoạch “vượt ngục” để tìm đường đến xứ tự-do, hầu có một tương-lai sáng-sủa, rực-rỡ. Dược-sĩ đã thành-công. Thuyền tới hải-phận Thái-Lan, dược-sĩ bị hải-tặc lột sạch tài-sản mang theo, Dược-sĩ không “chán” vì nghĩ “còn người còn của”.

Mười tháng ở trại tị-nạn, dược-sĩ không “chán”, trái lại còn có những ngày “vui”. Ngày“vui” nhận được giấy bảo-trợ. Ngày “vui” được kêu lên khám sức-khỏe. Ngày “vui” bước lên phi-cơ. “Vui” tiếp-diễn khi phi-cơ phóng lên không trung, “vui” khi phi-cơ hạ cánh, “vui” đặt chân trên “miền đất hứa”.

Nhưng sau những ngày tháng được tự-do vươn-lên mà vươn không nổi thì “chán-chết”, và cả gia-đình từ-giã cuộc sống sau bữa cơm chiều.

Biết bao người Việt nơi xứ này thành-công, nhà cao cửa rộng. Ngày “vui” nhiều quá, nhất là ngày “ăn tân-gia”, bạn-bè bà-con tới dự trầm-trồ, khen-ngợi. Sau ngày “vui” đó, theo thời-gian, “vui” đó khác nào “như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao”. Trước kia mấy cái “thẻ nhựa” cứ phóng tay “cà”. Giờ đây, hàng tháng một xấp “bills” “chà” lại mình đến “chán”.

Thật ra ở bất cứ thời nào, tuổi nào cũng đều “chán-nản”. Cuộc đời của Nguyễn-Công-Trứ “chán-nản” không ít. Nguyễn-Công-Trứ nhận-định:

Nhập thế-cuộc bất khả vô công-nghiệp

Xuất mẫu hoài tiên thị hữu quân thân

Mà chữ “danh” liền với chữ “thân”

Thân đã có ắt danh âu phải có.

 Có thân thì phải có danh, danh chưa có “chán” lắm, oán-trách cả Trời.

Thợ Trời sao khéo đa-đoan

Cái danh cũng ghét, cái nhàn cũng ghen

Danh giá Tạo-vật chi sở kỵ

Ghét chứng chi ghét mãi ghét hoài.

Thế mà khi danh đã toại lại vẫn “chán”.

Chen chúc lợi danh đà chán-ngắt

Ước gì trở lại thời vô danh

Chẳng lợi danh thì lại hóa hay

Chẳng ai phiền-lụy chẳng ai rầy

Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp

Trong thú yên hà mặc tỉnh say.

Nhiều vị cũng có tâm-trạng “chán” như Nguyễn-Công-Trứ trong

Cuộc Công Danh

Cuộc công-danh không-không có-có

Có rằng không, không có cũng ừ.

Nào ai hay trời đất những bao giờ

Mà đã chắc non sông đà mấy tuổi?

Hồn-hồn nhất đại khối

Điểu-điểu như nghĩ quần,

Lọt lòng ra ta cũng có quân thân,

Mang lấy nợ, lẽ lần-khân không trả.

Cuộc kim cổ, bày thời lại xóa

Cái râu mày nào biết dại khôn

Trăm năm cũng một tiếng đồn?

                 Vô Danh Thị

Người không đạt được danh-vọng “chán” đã đành, người đạt được danh-vọng cũng “chán”. Đúng là:

Con cá trong lờ đỏ hoe con mắt,

Con cá ngoài lờ ngúc-ngoắc muốn vô.

Nhìn lại, nghĩ lại, “Trăm năm cũng một tiếng đồn” thì “chán” thật.

Không biết quý-vị có lâm vào tình-trạng “chán” như Logan P. Smith cảm-nhận mỗi sáng khi thức dậy: What a bore it is, waking up in the morning always the same person.

Chán chường thay, chán chường thay

Sáng nào cũng thứ người này mãi sao.

Chúng ta chỉ có thể hết “chán” khi biết “thỏa-lòng”.

Thỏa-lòng 

Người “thỏa-lòng” không lâm vào tình-trạng “ăn mày đòi xôi gất”, “có voi đòi tiên”, “được đàng chân lân đàng đầu”. Vợ-chồng “thỏa-lòng” chỉ cần “một túp lều tranh hai trái tim vàng”, thiếu “thỏa-lòng” là lo xây-cất “lâu-đài tình-ái”. Không “thỏa-lòng” thì “chồng ăn chả, vợ ăn nem”. Vợ-chồng “thỏa-lòng” thì:

Râu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

“Thỏa-lòng” là nở  một nụ cười. Tôi rất thích nụ cười của Thằng Bờm.

Thằng Bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim

Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười.

“Ba bò chín trầu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, đôi chim đồi mồi” đều có giá-trị, nhưng không đáp-ứng  cái bụng đang đói của “thằng Bờm”. “Nắm xôi” tầm-thường nhưng đáp-ứng được cái nhu-cầu thiết-thực, nên “Bờm cười” chấp-nhận ngay – “thỏa lòng”.

Càng văn-minh, nhu-cầu con người ngày càng nhiều. Chính cái nhu-cầu của con người tạo nên đời sống văn-minh. Nhu-cầu vừa được đáp-ứng là nảy thêm nhu-cầu khác cần được đáp-ứng nên thiếu “thỏa-lòng”.

Con người chỉ “thỏa-lòng” khi được đáp-ứng nhu-cầu thiết-thực – “Miếng khi đói bằng gói khi no” là vậy.

Người “thỏa-lòng” luôn tận-dụng cái “biết” của mình. Trước hết phải “biết” “điều mình có làm đủ rồi” (Hê-bơ-rơ 13:5). Người xưa nói: Tri túc, tiện túc hà thời túc – biết đủ, cho là đủ, thì tất đủ. Đây là “đủ” theo mục-tiêu (goal) chớ không phải “đủ” theo mục-đích (purpose).

“Thỏa-lòng” phải nói là một hiện-tượng vô-cùng thích-thú. Kinh-Thánh minh-định: “Sự tin-kính cùng sự thỏa-lòng, ấy là một lợi lớn” (I Ti-mô-thê 6:6). Đối với Cơ-đốc nhân, “sự tin-kính” mới làm ta “thỏa-lòng” trong mọi trường-hợp, vì biết rằng “mọi sự (việc tốt, việc xấu) hiệp lại làm ích cho người yêu-mến Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:18).

Kinh-nghiệm về sự “thỏa-lòng” của Phao-lô như vầy: “Tôi đã tập gặp cảnh-ngộ nào cũng thỏa-lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư-dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:11-13).

Muốn “thỏa-lòng” phải biết “tập” chịu-đựng. Đôi khi không ngờ lại “chịu” được cả khi quá sức mình và “thỏa-lòng”, vì “tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”.

Dấu-hiệu không “thỏa-lòng” là hay “than”.

Cụ Phan-Quảng-Nam rất “thỏa-lòng” sau khi tin-nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình. Cụ bày-tỏ sự “thỏa-lòng” qua bài thơ 

 

TÂM-HỒN CON

Con đến dâng Cha cả tấm lòng

Với niềm yêu-kính, với cầu-mong

Như hoa dương nở nghiêng về nắng

Như nước dòng xanh đến biển đông.

Nắng nở hương hoa cánh cánh nồng

Biển thâu tình nước, nước ngàn sông

Tâm-hồn con đấy, hoa và nắng

Tưởng nhớ quê nhà, cõi thái không.

Thái không nào phải chốn vô-hình

Trong ánh huy-hoàng ngự Thánh-Linh

Nước Chúa bao-la, người bé nhỏ

Lòng con nhỏ bé có Thiên-Đình.

Chúa ngự lòng con, ôi hiển-vinh

Con trong lòng Chúa, hưởng an-bình

Con nguyền giữ mãi hồn thanh-khiết

Với đức tin ngời ánh thủy-tinh.

Đức tin hằng sống vạn trời xuân

Chúa dẫu cao xa, Chúa vẫn gần

Con ở nơi đâu, Ngài ở đấy

Ngài ban từ-ái với hồng-ân.

Nỗi mừng con biết lấy chi cân?

Trút hết sầu-tư giữa bụi trần

Vườn cũ Ê-đen dù đã mất

Ngày mai vườn Chúa nở tường vân.

Mong thấu Cao Xanh mấy tiếng lòng

Tâm-hồn con đấy, nước về đông

Tâm-hồn con đấy, hoa triều nắng

Mang nặng niềm tin đức Hóa-Công. 

Cụ tiều-phu nơi Quế-Sơn, tỉnh Quảng-Nam đã “thỏa-lòng” sống trong căn nhà lá.

Một căn nhà lá vách thưa-thưa

Chúa ở với tôi thế cũng vừa

Chớ tưởng cái nghèo đeo cái khổ

Hỏi ai giàu có sướng chi chưa?

 “Thỏa-lòng là một mối lợi lớn” nên rất “đã”.

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top