Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Người Khích Lệ

Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Người Khích Lệ

NGƯỜI KHÍCH-LỆ

Nay chúng ta bước qua người thứ ba rất quan-trọng trong “trường đời” là người khích-lệ.

Khích-lệ rất cần cho mọi người trong cuộc sống ở bất cứ tuổi nào, ở bất-cứ công-việc nào, ở bất-cứ dự-tính nào và ở bất cứ thành-quả nào.

Khích-lệ là “kích-thích tố” trong lời nói nâng-đỡ. “Kích-thích tố” loại này tạo nên “hứng chí”. Chúng ta chỉ “khích-lệ” người nào đó, trong công-việc nào đó, khi nhận-xét có giá-trị nào đó. Khích-lệ hàm chứa vừa khen, vừa nhắn-nhủ chưa đạt đến như đáng phải đạt đến.

Lời khích-lệ giúp người thất-vọng có hi-vọng, người mệt nhọc được thêm sức và được khích-lệ vượt qua cản-trở (hinder).

Người chồng làm ăn thất-bại, tiêu-tan sự-nghiệp, chán nản nói với vợ:

– Em ơi, anh mất tất cả, kể như đời anh bắt đầu tàn-tạ từ đây. Người vợ ôm lấy chồng thỏ-thẻ:

– Anh ơi, tuy anh mất tất cả, nhưng chưa mất em. Người chồng như ra khỏi cơn mê, bao nhiêu chán-nản trong phút chốc đã lìa khỏi, anh mỉm cười đầy sức sống, trìu-mến nói với vợ:

– Còn em là đủ, chúng ta sẽ bắt đầu trở lại.

Struthers Burt nói: “People are failures, not because they are stupid, but because they are not sufficiently impassioned” – Người thất-bại, không phải vì ngu-dại, mà là không đủ kích-thích mãnh-liệt.

Nhưng khích-lệ đôi khi chúng ta không thể chấp-nhận. Richard Ellmann trong cuốn sách viết về nhà văn Ái-nhĩ-lan nổi tiếng là James Joyce. Richard có nói đến một chuyến viếng thăm Zurich, James Joyce  được một thanh-niên rất ái-mộ khi đọc tác-phẩm Ulysses của James Joyce. Chàng đến xin hôn bàn tay đã viết Ulysses:

  • May I kiss the hand that wrote Ulysses?

Được người ái-mộ đến xin hôn tay trước bao nhiêu người quả là một vinh-dự, khích-lệ lớn-lao. Thế mà James Joyce đã cân-nhắc lời yêu-cầu đó và từ-chối đưa tay cho người ái-mộ hôn. James Joyce đã đưa ra giải-pháp chính-đáng để từ chối bằng một câu ngắn-ngủi:

  • No, I did lots of other things too.

Không hôn bàn tay ấy được, vì nó còn làm nhiều việc khác nữa, chớ đâu phải chỉ viết văn. Các việc khác đó có khi chẳng sạch-sẽ gì thì hôn làm chi.

Lời khích-lệ quả là quan-trọng, là một sự nâng-đỡ hữu-hiệu cho những ai đang dự-tính một thành-quả tốt-đẹp.

Khích-lệ là phương-cách đưa người nào đó “lên”. Chê-bai là phương-cách “hạ” người nào đó xuống.

Theo thế-thường, một người có dự-tính tốt-đẹp, đổ đồng có một người khích lệ, hai người dèm-chê. Đưa lên khó lại ít, kéo xuống dễ lại nhiều. Ai làm người khích-lệ, nên cố-gắng hết sức mình để nâng-đỡ người.

Lời khích-lệ của phái-nữ rất đắc-dụng, người Việt mình gọi là “mái sùy”. Các đội thể-thao Mỹ có đội nữ “cheerleader”, cô nào cô nấy đều đẹp, ăn mặc phô-trương thân-hình “bốc lửa”. Đội nhà yếu thế là múa may, nhảy nhót hô lớn:

– You can do it. Don’t give up – Các bạn làm được đấy. Đừng bỏ dở. Các chàng nghe các nàng hô là lên tinh-thần liền.

Lời khích-lệ của phái nữ rất đắc-dụng đối với phái nam. Người Việt mình gọi là “khích tướng”. Người được khích-lệ thấy mình lên “tướng” nên hành-xử với năng-lực quyền uy của vị “tướng”.

Phái nữ dường như được khích-lệ qua lời nói thì ít nhưng qua hành-động thì nhiều. Một “món quà cho em” là đủ khích-lệ. “Món quà” này khó diễn tả nhưng dễ cảm-nhận bởi “nhạy cảm”.

Trong các buổi văn-nghệ trình-diễn, người hướng-dẫn luôn xin khán giả một tràng pháo tay thật lớn để chào mừng và khích lệ người trình-diễn. Sau khi trình-diễn lại được thêm một tràng pháo tay khích-lệ.

Những người tự cao, tự đại hay ngủ quên trên “đài vinh-quang” không cần khích-lệ và cũng chẳng lưu-tâm đến lời khích-lệ. Chúng ta không mất công khích-lệ những người như vậy.

Những người cảm thấy “được” (OK) cần được khích-lệ để lên “tốt” (good), lên “tốt hơn” (better) và lên “tốt nhất” (the best).

Tôi được nhiều nơi mời thuyết-trình. Điều khích-lệ nhiều nhất là sự lắng nghe của người tham-dự. Chính sự khích-lệ này buộc tôi phải soạn bài kỹ-lưỡng, và phải diễn-đạt thể nào hầu người tham-dự không uổng công tới tham-dự.

Một cuộc đối-thoại hấp-dẫn cần có người lắng nghe, và người lắng nghe “khích-lệ” người nói hay hơn.  

Dr. Robert E. Fisher, một nhà tâm-lý học thuật lại kinh-nghiệm lắng nghe của ông như vầy:

– Khi tôi còn là một sinh-viên nội trú, không có xe, tôi dự định tới thăm người bạn gái cách nơi tôi ở 250 miles vào ngày thứ bảy. Sáng hôm đó, tôi ra xa-lộ đón xe đi nhờ. Một xe dừng lại hỏi tôi đi đâu. Tôi cho biết thành-phố cách đây 250 miles. Người lái xe cho biết ông đến thành-phố cách đây 100 miles. Như vậy, đến đó, tôi phải đón một xe khác. Lên xe, chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau. Người lái xe bắt đầu nói và tôi lắng nghe. Sự lắng nghe của tôi khiến người tài xế nói hết như chưa bao giờ được nói. Thời-gian đi quá mau, nói chưa hết chuyện đã tới nơi ông định đi, xong ông chạy tiếp vì câu chuyện chưa hết. Qua khỏi 10 miles, nhìn xa lộ hơi vắng xe, ông nói: Chỗ này chắc khó đón xe lắm. Ông chạy thêm 50 miles và tiếp-tục nói, còn tôi lắng nghe. Sau đó, ông nói: Đây là một cuộc hành-trình kỳ lạ. Hôm nay tôi cũng chẳng có công việc gì quan-trọng, tôi sẽ đưa anh tới thành-phố đó và ông ta đã đưa tôi tới tận nhà.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ, ông không hề hỏi điều gì về tôi, cũng chẳng hỏi tên tôi nữa. Ông nói về gia-đình ông, công việc ông, cả ước-mơ và tham-vọng của ông.

Đến trước nhà người bạn gái tôi, tôi cảm-ơn ông và bước xuống  xe. Ông nói lớn:

– Này anh bạn trẻ, dừng lại một chút, nghe tôi nói đây. Tôi rất thích đón người đi nhờ, vì tôi muốn học nơi người khác điều gì đó khi họ nói chuyện. Trong những cuộc chuyện trò với người đi nhờ, tôi muốn nói, anh là người rất đặc biệt mà tôi gặp trong số những người tôi cho họ đi nhờ.

Qúy vị biết sao không? Nghe mệt, nói khỏe. Được người khác nghe là khích-lệ mình nói. Nhưng phải nói sao cho người nghe không “mệt”.

 Dr. Fisher kết-luận câu chuyện trên rằng: Tôi học được bài học trong ngày đó: Chính sự vui-vẻ lắng nghe đã kềm-giữ miệng tôi. Chính sự kềm-giữ miệng tôi, chỉ để lắng nghe đã tạo sự thích-thú cho người nói và vì muốn nói nên cứ tiệp-tục lái xe đưa tôi đến nơi mà người đó không dự tính trước.

Trong suốt 60 năm giảng-dạy, tôi rất biết ơn những người lắng nghe. Chính sự lắng nghe của thính giả đã giúp tôi cẩn-thận soạn bài giảng-dạy, thuyết-trình để khỏi phụ lòng người lắng nghe.

Hầu hết những người tài danh chân-chính đều mong một lời “khích-lệ” về công-việc của mình. Đây nhà văn Nguyễn-mạnh-Côn tâm-sự:

“Khi một cuốn sách về tư-tưởng được in ra và phát-hành rồi, tác-giả của nó thao-thức chờ-đợi một lời phê-bình, một cuộc thảo-luận – một cuộc thảo-luận hay một lời phê-bình đúng theo ý-muốn của người viết, không nhất thiết phải khen hay chê, mà chứng-tỏ người đọc đã thực-sự đọc hết và thật sự chú ý đến những ý-kiến được trình-bày. Lẽ tất-nhiên tôi đã thao-thức mong chờ, nhưng tất cả các bạn đồng-nghiệp của tôi không ai cho tôi cái hạnh-phúc đó. Trừ Hoàng-hải-Thủy.

Hoàng-hải-Thủy hỏi tôi một câu đúng vào chỗ tôi thiếu-sót. Một lý-thuyết triết-học, nếu đầy-đủ, phải trả-lời được tất cả mọi câu hỏi. Tôi đã tưởng lý-thuyết “phối-ngẫu toàn-bích” là đầy-đủ. Không ngờ Thủy, bằng câu hỏi ngắn, chỉ ngay cho tôi thấy một khoảng trống mênh-mông mà mãi nửa năm sau tôi mới lấp đầy. Tôi nhờ thế mà biết anh đã đọc kỹ cuốn sách, đã suy-nghĩ thêm nhiều về nội dung của nó. Anh lại phải có rất nhiều thiện-cảm với tác-giả, đồng-thời cũng đồng ý nhiều phần với lý-thuyết mới nắm vững vấn-đề, xem-xét mọi khía cạnh đủ để tìm thấy cái thiếu-sót to lớn của nó. Như vậy, tuy không bao giờ nói ra, Hoàng-hải-Thủy bắt-buộc phải là một nhà suy-tư triết-học.”

Câu “Hoàng-hải-Thủy bắt-buộc phải là một nhà suy-tư triết-học” là một lời “khích-lệ” lớn-lao cho Hoàng-hải-Thủy.

Không dễ gì chúng ta có may-mắn như Nguyễn-mạnh-Côn được Hoàng-hải-Thủy “khích-lệ” đúng mức, đúng cách.

Tôi đã viết tờ Ánh-Sáng, phát hành số 1 ngày 31 tháng 8 năm 1975. Duy-trì đến nay, một phần nhờ sự “khích-lệ” của nhiều độc-giả qua thư hay điện-thoại. Nhưng có hai vị “khích-lệ” tôi rất đặc-biệt mà tôi luôn nhớ.

Khi tôi tới giảng tại một Hội-Thánh ở Virginia, sau buổi giảng, một bà đến bên tôi, tay cầm một xấp Ánh-Sáng “khoe” với tôi là bà đã giữ lại ngay từ số đầu nhận được. Bà còn cho biết thỉnh-thoảng vẫn lấy ra đọc lại. Tôi cảm-ơn bà về sự “khích-lệ” rất đặc-biệt này.

Khi tôi qua Ottawa, Canada giảng. Tôi tới thăm một Hội-Thánh Việt-Nam, vị Mục-sư mời tôi vào văn-phòng và đem ra một thùng nhỏ cho tôi xem tất cả tờ Ánh-Sáng được để trong thùng. Trên nắp thùng dán một tờ giấy đánh số thứ-tự và đề-tài từng tờ Ánh-Sáng. Vị Mục-sư  nói với tôi: Đây là một “kho tài-liệu” rất quý đối với tôi. Tôi lặng người xúc động vì lời “khích-lệ” của vị Mục-sư trẻ tuổi.

Mục-sư Huỳnh-quốc-Bình và Bác-sĩ Châu-ngọc-Hiệp đã “khích-lệ” tôi rất nhiều khi bình-luận cuốn Tình … Già của tôi trên Đài Phát-Thanh trong chương-trình Đời Sống An-Bình.

Người họa-sĩ triển-lãm tranh mình, bắt gặp hai vợ chồng đứng ngắm bức tranh rất say-mê. Người họa-sĩ tiến tới và nói:

  • Anh chị muốn bức tranh này không?

– Chúng tôi muốn lắm, quá đẹp. Nếu chúng tôi có đủ tiền, chắc-chắn chúng tôi sẽ mua bức tranh này để treo nơi phòng khách. Nhưng rất tiếc, giá bức tranh quá cao, chúng tôi không đủ khả-năng. Người họa-sĩ đáp:

– Thấy anh chị say-mê thưởng-thức bức tranh, chính điều này đã “khích-lệ” tôi rất nhiều. Anh chị đem bức tranh này về và giá anh chị phải trả là một bữa cơm tối anh chị đãi tôi tại nhà anh chị. Chúng ta thấy cái giá “khích-lệ” thật là tuyệt-vời.

Người “khích-lệ” người khác hầu hết không có “máu” ganh-tị và “máu” thầy đời.

Người “khích-lệ” người khác thường là người biết “thưởng-thức” và nhận ra “giá-trị” thật của công-việc.

Khi một người danh tiếng “khích-lệ” đúng, là giúp cho nhiều người khác “hùa nhau” khích-lệ. Đó là lợi-điểm cho người được “khích-lệ”.

 Người được “khích-lệ” đừng bao giờ phô-trương sự “khích-lệ” của người khác để chứng-tỏ “giá-trị” của mình.

Câu chuyện xa xưa, một thầy giáo đã phê: “Được lắm” hai bài luận-văn của hai học sinh trong lớp. Học-sinh cầm bài luận của mình “khoe” với học sinh giỏi nhất lớp.

– Bạn thấy chưa, bài của tôi được thầy phê: “Được lắm”, như bài của bạn. Học sinh giỏi này lấy làm lạ và thắc-mắc tại sao thầy lại đánh giá văn tài mình xuống bằng học sinh kia, hay lại đem văn tài học sinh kia lên bằng mình. Anh tìm dịp chất-vấn thầy. Thầy cho anh biết:

– Với trình-độ của học-sinh đó viết như vậy là “được lắm”, đáng “khích-lệ”. Nhưng khi học-sinh đó có trình-độ như anh thì biết ngay văn mình chưa “được lắm”.

Những người được “khích-lệ” luôn tự-hào hơn là hãnh-diện.

Một hình-ảnh ấn-tượng “khích-lệ” tôi rất nhiều. Trong một cuộc đua chạy đường trường, người về chót còn một trăm thước là tới đích thế mà anh kiệt-sức, quỵ xuống. Có người chạy tới tính đỡ anh dậy, nhưng anh xua tay. Người hai bên đường vẫn hô lớn:

– Cố lên, cố lên, chút nữa là tới đích. Người này đã cố “bò” chậm-chạp cho tới đích. Tới đích, anh mỉm cười và nằm ngay đơ nơi lằn đích và sau đó được xe cứu-thương tới chở anh đi.

Nhờ sự “khích-lệ” mà tôi cũng đang cố “bò” để tới đích. Rất cảm-ơn những lời “khích-lệ” của Quý Vị.

Cơ-đốc nhân chúng tôi còn nhận được sự “khích-lệ” rất lớn-lao do Đức Thánh-Linh, Đấng ngự trong Cơ-đốc nhân chân-chính. Chính Ngài luôn “khích-lệ” Cơ-đốc nhân làm việc đúng theo lời Kinh-Thánh dạy và “khích-lệ” bằng chính lời Chúa Jêsus phán: “Được lắm” (Ma-thi-ơ 25:21) mỗi khi hoàn-tất công-việc.

Cơ-đốc nhân chân-chính phải biết “khích-lệ” lẫn nhau như lời Kinh-Thánh dạy: “Anh em hãy khuyên-bảo nhau, gây-dựng cho nhau. (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:11) 

KHI …

Khi sung-sướng, khi bình-an vui-vẻ
Ca-ngợi Ngài ban phước-hạnh triền-miên
Khi hoạn-nạn, khi buồn-rầu than-thở
Tìm-kiếm Ngài dâng trọn nỗi niềm riêng
Khi yên-tĩnh, khi một mình, trầm-lặng
Thờ lạy Ngài, lòng cung-kính thiêng-liêng
Khi đau-đớn, khi mộng đời tan-vỡ
Tin cậy Ngài, tình thương-mến vô-biên
Trong mọi lúc, mọi thời-gian cuộc sống
Tạ-ơn Ngài, tạ-ơn mãi trong tim.

Tường-Lưu

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top