Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Làm Ơn

Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Làm Ơn

LÀM ƠN

Người làm ơn có hai loại, làm ơn theo thoái quen, theo phong-tục, nói chung là “lịch-sự” và làm ơn với chủ-đích.

Làm ơn theo thói quen, theo phong-tục rất thông-thường với người “lịch-sự” trong cách cư-xử hàng ngày để làm vui lòng người khác, từ nụ cười, đến lời nói và qua hành-động. Nhận nơi người sự vui-vẻ, có khi kèm với tiếng cảm-ơn là biết mình đã làm ơn. Ngay cả trong những cuộc hội-họp để quyên-góp cứu-trợ, chúng ta cũng làm theo thói-quen, ai sao ta vậy, “lịch-sự” thì tỏ ra chút trân-trọng “của ít lòng nhiều” cho có giá.

Làm ơn có chủ-đích thì khó hơn nhiều. Người làm ơn có chủ-đích thường có tấm lòng quảng-đại, có trí-óc tinh-vi, có nhận-xét chính-đáng, có phương-thức rõ-ràng và có khả-năng.

Người có lòng quảng-đại, theo tôn-giáo: Phật-giáo là người có “tâm Bồ-tát”, Công-giáo có tâm “Đức Mẹ Hằng Cứu-Giúp”, Tin-Lành có “ân-tứ Thánh-Linh”, còn các tôn-giáo khác tôi không rõ.

Người có lòng quảng-đại, theo tâm-lý học là người thọ ơn nhiều, tri-ân và biết ghi ơn. Người có lòng quảng-đại là có tấm lòng lớn chứa đầy ơn, có ơn mới có thể làm ơn. Không ơn lấy đâu ơn mà làm.

Lòng quảng-đại không thể đo-lường, chỉ có thể ví sánh. “Lòng mẹ bao la như biển Thái-Bình dạt-dào”. “Quảng-đại” của lòng mẹ chỉ chứa tình thương, còn mọi thứ khác chỉ chiếm một phần nhỏ trong “lòng mẹ”. “Quảng-đại” của lòng người làm ơn chứa ơn nhiều hơn. Còn danh, lợi, quyền chỉ chứa một phần vừa đủ cho cuộc sống.

Những người có lòng “quảng-đại”, lại là “lòng tham vô đáy” danh, lợi, quyền thì chẳng thể làm ơn. Có làm ơn cũng là cách mua danh, tạo lợi, thêm quyền. Hay theo niềm tin để tạo “công-đức” và “trả-nợ lỗi-lầm”, hay với ước-vọng “được Chúa trả ơn bội hậu”, một thứ “bỏ tép câu tôm”.

Hạng làm ơn này thường đắn-đo. Vở hài-kịch của văn-sĩ Pháp Augène Laich có thể giúp ta hiểu cách làm ơn “đắn-đo” này.

Perrichon cùng vợ và cô con gái cưng đi du-lịch Thụy-Sĩ. Có hai thanh-niên tháp-tùng là Armand và Daniel. Cả hai đều ngắm-nghé cô con gái cưng của Perrichon.

Trong lúc du-lịch, chàng Armand luôn tỏ ra lòng nghĩa-hiệp. Đã ba lần chàng có dịp làm ơn cho Perrichon. Chàng đã cứu Perrichon khỏi té xuống hố thẳm vì ngã ngựa. Chàng đã dàn-xếp cách khéo-léo để Perrichon khỏi bị thưa vì tội phỉ-báng. Và cuối cùng, chàng đã cứu Perrichon khỏi phải đấu gươm với một vị võ quan.

Còn chàng Daniel chẳng có công ơn gì đối với Perrichon cả. Một ngày kia, chàng giả-bộ té xuống hố để được Perrichon cứu. Rồi từ ngày đó, chàng cứ nhắc mãi cái ơn cứu tử đó.

Đến ngày hai chàng ngỏ ý cầu-hôn với con gái của Perrichon. Ai cũng đinh-ninh Perrichon sẽ gả con cho ân-nhân mình là Armand, kể như đền ơn. Gả con cho Armand đã không có ơn gì mà còn phải nhớ ơn hoài, mình là người thọ ơn. Chi bằng gả cho Daniel, đứa chịu ơn mình, ơn càng thêm ơn, nó sẽ chịu ơn và nhớ ơn mình suốt đời.

Người có lòng “quảng-đại” có khi làm ơn cho người làm ơn mình, nhưng không bao giờ có thái-độ “trả-ơn”. Người làm ơn cho người làm ơn mình với thái-độ “trả-ơn”, phải xếp vào phường “vô-ơn”. Tiếng Việt mình hay, gọi “người” biết ơn, nhưng “đồ” vô-ơn.

Văn-học Việt đã ghi lại lòng “quảng-đại” của Dương-Lễ khi làm ơn cho người đã làm ơn cho mình là Lưu-Bình. Tôi đã viết chuyện này trong tình bạn, nay nhắc lại cách làm ơn.

Dương-Lễ nhà nghèo, được Lưu-Bình đùm-bọc ăn-học, sau đỗ làm quan. Lưu-Bình ỷ vào gia-đình giàu-có, chỉ lo ăn chơi. Sau đến hồi cùng-cực, nhớ đến Dương-Lễ, kẻ hàm ơn mình, bèn tới. Dương-Lễ lạnh-nhạt không tiếp, sai đầy-tớ dọn bữa cơm đạm-bạc đãi Lưu-Bình. Lưu-Bình giận đứa vô-ơn bỏ đi. Chàng gặp một thiếu-nữ duyên-dáng, đẹp-đẽ kết-bạn. Chàng được nàng nuôi-nấng ăn-học và hứa chỉ kết-nghĩa vợ chồng khi chàng đỗ-đạt thành-tài.

Lưu-Bình giận thằng bạn bất-nghĩa, vô-ơn, nay được người đẹp khuyến-khích, chẳng bao lâu, chàng đỗ-đạt làm quan. Lưu-Bình mũ-áo trở về, chàng chẳng thấy người yêu, buồn vô tả, lại nghĩ tới thằng bạn bạc-tình, vô-ơn, bèn định cho thằng bạn bạc tình, vô-ơn một bài học. Lưu-Bình khăn áo chiễm-chệ tới thăm Dương-Lễ. Dương-Lễ tiếp-đón niềm-nỡ và gọi vợ ra chào tân quan. Lưu-Bình giật mình, nhận ra người thiếu-nữ xinh-đẹp nuôi mình bấy lâu nay chính là vợ Dương-Lễ.

Người làm ơn có chủ-đích thường có tấm lòng quảng-đại, có trí-óc tinh-vi, có nhận-xét chính-đáng, có phương-thức rõ-ràng và có khả-năng.

Người làm ơn có chủ-đích: có tấm lòng quảng-đại, song cần có trí-óc tinh-vi để khỏi bị người đời “lợi-dụng”. Một số không nhỏ hội “thiện-nguyện”, hội “phước-thiện” thiếu “thiện”. Ơn của những tấm lòng “quảng-đại” thu góp tiền, 90% vào túi họ, chỉ còn trên dưới 10% tới tay người cùng-khốn. Kinh-Thánh gọi hạng người này chỉ biết “hầu việc cái bụng họ, và lấy những lời ngọt-ngào dua-nịnh dỗ-dành lòng người thật-thà” (Rô-ma 16:18).

Người làm ơn có chủ-đích: có tấm lòng quảng-đại, có trí-óc tinh-vi để tránh bị lợi dụng và cần nhận-xét chính-đáng để giúp đúng nhu-cầu, đúng người.

Vấn-đề cứu-khổ, cứu nguy, cứu đói là vấn-đề phổ-quát từ xưa đến nay trên toàn thế-giới. Chúng ta đều có cơ-hội dự-phần. Tuy nhiên làm ơn có chủ-đích, tuy cũng cứu khổ, cứu nguy, cứu đói  không có tính-cách phổ-thông nhưng đáp-ứng nhu-cầu cá-biệt. Tôi đơn cử một thí-dụ làm ơn cứu-nguy.

Bé gái đi dọc bờ sông, thấy bông hoa đẹp, định vươn người với tay hái bông. Một người thấy vậy, hô lớn:

– Không được hái, té xuống sông đó! Bé gái dừng lại, không hái. Người này đã làm ơn cứu bé gái mà chính bé gái không biết. Nếu người này, cứ để bé gái hái bông, té xuống sông, rồi nhảy xuống cứu thì bé gái nhận ra ơn cứu tử của người này, cha-mẹ bé cũng  biết ơn người này, hàng xóm láng giếng cũng biết ơn người này.

Bởi nhận-xét chính-đáng mà chỉ cần hô một tiếng: Đừng hái, té xuống sông đó. Cái nhận-xét chính-xác giúp ta làm ơn đúng cách, kịp thời, có khi người chịu ơn không hề hay biết.

Viết đến đây, tôi nhớ đến một người làm ơn cứu mạng cha tôi là Mục-sư Phan-Sỹ-Kiểm. Thời đó cha tôi làm Mục-sư ở Kiến-an, thời “Việt-Minh” chống Pháp, dân chúng phải tản-cư ra khỏi thành phố đến các làng xa-xôi hẻo lánh. Tuy tản-cư, gia-đình sống lang-thang rày đây mai đó, nhưng cha tôi vẫn làm nhiệm-vụ người truyền-bá Tin-Lành ơn Cứu-rỗi đến mọi người ở nhiều nơi. Cha tôi thường đi làm chứng về Chúa Cứu-Thế Jêsus ở những làng lân-cận nơi gia-đình thường-trú. Có lần cha tôi tới một làng hơi xa làm chứng ở đó vài ngày. Sau vài ngày thì máy bay Pháp tới thả bom xuống làng đó. Dân làng nghi cha tôi là “Việt-Gian” tới làng để chỉ điểm cho máy-bay Pháp đến thả bom, nên cha tôi bị bắt và bị tòa-án nhân-dân lên án tử-hình. Án vừa được tuyên-bố thì một tay súng trong ủy-ban nhân-dân tình-nguyện đem tên “Việt-Gian” ra sông xử bắn và thả trôi sông. Thế là hắn hung-hăng xông đến cha tôi bắt dẫn đi. Đến tối, tên này dẫn cha tôi ra bờ sông, cởi trói và nói:

– Tôi ở Kiến-An, tôi biết Mục-sư và đã vài lần nghe Mục-sư giảng. Tôi biết chắc Mục-sư không phải là “Việt-Gian”, tôi muốn cứu Mục-sư. Mục-sư phải rời khỏi làng này ngay trong đêm nay và đừng bao giờ trở lại đây. Cha tôi cảm-ơn và chạy đi với ba tiếng súng nổ sau lưng.

Nhận-định chính-xác đôi khi không cấp-bách, phải có thời-gian cần-đủ trước khi quyết-định làm ơn thiết-thực. 

Người làm ơn có chủ-đích thường có tấm lòng quảng-đại, có trí-óc tinh-vi, có nhận-xét chính-đáng và có phương-thức rõ-ràng.

Người làm ơn có chủ-đích phải có phương-thức rõ-ràng chớ không thế “hứng đâu làm đó”.

Người có lòng “quảng-đại” làm ơn giúp người mà thiếu “phương-thức”, chỉ biết “xía vào chuyện của người ta” là lãnh-đủ “làm ơn mắc oán”.

Chuyện này cho ta biết phương-thức quan-trọng thế nào khi làm ơn.

Môn-đệ một võ sư danh tiếng muốn chứng-tỏ tài-năng mình nên thường tìm đến những võ-sĩ tăm-tiếng để thi đấu, ai ngờ đấu đâu thua đấy, nhục-nhã, hết muốn sống. Chàng lẩn-tránh mọi người, ngay cả người thầy của mình. Võ sư tìm đến hỏi nguyên-do, chàng chán đời nói:

– Con giờ chỉ muốn chết. Vừa nghe xong, võ sư nói mạnh:

– Đệ-tử muốn chết, để ta giúp con chết. Nói xong võ sư đánh tới-tấp vào người đệ-tử. Mới đầu, đệ-tử chịu đau và mong sớm chết để hết đau. Nhưng võ sư chỉ đánh cho đau chớ không đánh chết. Đệ-tử chịu đau hết nổi giơ tay chống đỡ, rồi đánh lại thầy. Thầy dừng tay hỏi:

– Sao, không muốn chết nữa phải không? Chàng yên-lặng, theo thầy về võ đường học tiếp. Nhìn những vết bầm đau-đớn trên cơ-thể, chàng âm-thầm cảm-ơn thầy, và sau chàng trở nên một võ sư danh tiếng.

Kinh-Thánh ghi lại lời vua Đa-vít nói:

“Nguyện người công-chính đánh tôi ấy là ơn;

Nguyện người sửa-trị tôi, ấy khác nào dầu trên đầu; (“dầu vui-vẻ” Thi-Thiên 45:7),

Đầu tôi sẽ không từ-chối.” (Thi-Thiên 141:5).

Tôi theo học chương-trình Tiến-sĩ trọn khóa trong 4 năm, chớ không được kéo dài như chương-trình cử-nhân hay cao-học. Sau đó, có 2 năm để viết luận-án. Nếu luận-án bị bác là kể như “diều đứt dây” phải làm lại từ đầu. Người đỡ-đầu luận-án (mentor) của tôi là một giáo-sư danh-tiếng. Luận-án của tôi: Overcoming Cultural Conflict To Strengthen Vietnamese Ministry với 320 trang. Luận-án của tôi “được” vị giáo-sư này bắt viết đi viết lại đến lần thứ 7 ông mới chấp-nhận. Tôi mời vị Giáo-sư đi ăn “cơm Việt-Nam” để tỏ lòng biết ơn vị Giáo-sư “hành” tôi đến mức.

Vị Giáo-sư cho tôi biết, khi viết đến lần thứ 3 thì đủ tiêu-chuẩn chấp-nhận. Thấy tôi không than-phiền lấy cớ là sinh-viên ngoại-quốc, tuổi ngoài 60 nên gặp nhiều khó-khăn trong khi viết luận-án, trái lại, tôi luôn chấp-nhận điều ông “sửa-trị” nên “làm tới luôn”. Ông cho biết luận-án tôi rất giá-trị. Tôi đâu có ngờ luận-án của tôi đã được trên 100 sinh-viên Trung-Hoa, Đại-Hàn, Nhật-Bản, Ấn-độ, Việt-Nam và cả Mỹ tham-khảo để viết luận-án cao-học và tiến-sĩ của họ.

Chức-vụ của tôi là Mục-sư dám dùng Kinh-Thánh “làm ơn” bằng cách “dạy-dỗ, bẻ-trách, sửa-trị, dạy người trong sự công-chính” (II Ti-mô-thê 3:16). Khó nhất là sửa-trị. Tiếng Việt mình hay: “Sửa-trị” – “sửa” là chỉnh-đốn, “trị” là loại-bỏ, như “trị-bịnh” là loại bỏ bịnh ra khỏi. “Chữa-trị” là vậy. Thời nay khó tìm được người có tinh-thần như Đa-vít:

“Nguyện người công-chính đánh tôi ấy là ơn,
Nguyện người sửa-trị tôi.”

Có phương-thức – đôi khi phương-thức phải chấp-nhận những thiệt-hại mình gây nên.

Một thiếu niên đứng bên đường ném mạnh một hòn đá vào xe người chạy qua. Chiếc xe dừng lại liền, người đàn ông bước tới nắm áo cậu thét lớn:

– Sao mày dám ném đá vào xe tao. Cậu  liền nói:

– Ông ơi, làm ơn tới đỡ người đi xe lăn kia dậy, cháu cố đỡ mà không sao đỡ nổi. Ông hỏi:

– Sao cậu không giơ tay đón xe cho họ ngừng, lại ném đá vào xe?

– Cháu dơ tay đón hoài mà không xe nào chịu dừng, cháu phải nghĩ ra cách này, xe mới dừng. Ông làm ơn tới giúp đi. Sau khi đỡ người ngồi trên xe lăn dậy, đẩy vào chỗ an-toàn, ngươi đàn ông nói với cậu.

– Ông cảm-ơn cháu đã nghĩ ra cách làm dừng xe để ông “làm ơn” cứu giúp người. Ông sẽ không chữa vết trầy này, để ông nhớ đến cách khôn-ngoan của cháu khi “làm ơn”.

Người làm ơn có chủ-đích thường có tấm lòng quảng-đại, có trí-óc tinh-vi, có nhận-xét chính-đáng, có phương-thức rõ-ràng và cần có khả-năng.

Thiếu khả-năng có thể “chữa lợn lành thành lợn què” và lãnh đủ “làm ơn mắc oán”. Mình chỉ có thể “làm ơn” với khả-năng mình có. Có nhiều trường-hợp tôi từ-chối “làm ơn” chỉ vì tự biết không có khả-năng trong lãnh-vực đó và đành “xin lỗi”. Song tìm người có “khả-năng” và giúp họ “làm ơn”. Tôi xin kể một chuyện về “làm ơn” thiếu khả-năng của mình.

Hai vợ chồng đi chơi trên một du-thuyền, đang cùng nhiều người đứng bên hành lang du thuyền ngắm cảnh. Thình-lình một ông té xuống biển. Mọi người hô lớn:

– Cứu người, cứu người. Lập tức  ông chồng nhẩy xuống, vất-vả đến mấy chục phút mới cứu được nạn nhân. Khi lên tàu, người được cứu hết lòng cảm ơn người cứu mình; Ông cũng được hành-khách trên tàu tôn-vinh là vị anh-hùng và được thuyền trưởng trao giải-thưởng: Chuyến du-lịch của hai vợ chồng được miễn phí và còn miễn phí cho chuyến du-lịch tới.

Sau khi vui-tươi nhận lời khen tặng của bạn đồng hành và giải-thường của thuyền-trưởng, ông hầm-hầm quay qua vợ nói:

– Lúc đó em đứng bên cạnh anh, em thấy đứa nào đã xô anh xuống? Anh sẽ cho nó biết tay anh! Người vợ mỉm cười:

– Chính em xô anh xuống, vì em biết anh có “khả-năng” làm việc này. Nhờ em mà mọi người thấy được “khả-năng” của anh và anh tận-dụng “khả-năng” mình có “làm ơn” cho người. Hôm nay anh đã “thành-công”. Anh phải nhớ rằng: Một người đàn ông thành-công luôn có người đàn-bà sau lưng mình.

Quý vị nghĩ sao câu chuyện này?

Cơ-đốc nhân chúng tôi thờ-phượng Đức Chúa Trời, là

“Đức Chúa Trời hay làm ơn, có lòng thương-xót,
Chậm nóng-giận, và đầy sự nhân-từ” Thi-Thiên 145:8.

Người tôn-thờ “Đức Chúa Tri hay làm ơn” phải “làm ơn”.

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top