Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Sống Đời – Khôn Ngoan Nhưng Đừng Ngoan Cố

Mục sư Phan Thanh Bình: Sống Đời – Khôn Ngoan Nhưng Đừng Ngoan Cố

Khôn Ngoan Nhưng Đừng Ngoan Cố

Luật “trường đời” không có văn thư. Ngày xưa mình có câu “Luật vua thua lệ làng”. Giới gian-hồ, giới ăn chơi đều có “luật” riêng. “Luật” của đảng Cộng-sản Việt Nam được nhiều người Việt công-nhận là “luật rừng”.

Mỗi tổ-chức đoàn-thể, đảng phái và cả tôn-giáo đều có “luật” riêng mà mọi người tham-gia đều phải tôn-trọng, thực-thi.

Bước vào “trường lớp” là chúng ta phải theo “luật” học đường. Nhưng vào “trường đời” thì chúng ta tự đặt “luật” cho mình.

Phao-lô là một học-giả, rất rành “luật” đời, “luật” đạo. Thế mà Phao-lô đã đặt “luật” cho mình như vầy: “Tôi đãi thân-thể tôi cách nghiêm-khắc bắt nó phải phục” (I Cô-rinh-tô 9:27). Và “Tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đàng sau, mà bươn theo sự ở đàng trước, tôi nhắm mục-đích mà chạy” (Phi-líp 3:14).

Một học-giả đã xin Thượng-Đế 3 điều theo “luật” mình đặt ra cho chính mình như vầy:

* Xin cho con bình-thản để con chấp-nhận những gì không thể thay đổi được,

* Xin cho con can-đảm để con thay-đổi những gì có thể thay đổi được.

* Xin cho con sự khôn-ngoan để biết phân-biệt hai điều trên.

Nhà thơ Mai-Thảo đã “bình-thản chấp-nhận” bịnh nan y như vầy:

Bịnh ở trong người thành bịnh bạn
Bịnh ở lâu ngày thành bịnh thân
Gối tay lên bịnh nằm thanh-thản
Thành một đôi ta rất đá vàng.

Nguyễn-văn-Học đã để lại cho ta một câu ý-thức lẽ cần của “can-đảm” trước khó-khăn.

“Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại nú e sông”.

Khôn-ngoan rất cần cho chúng ta trong “trường đời”. Chúng ta không quên bài học thuộc lòng trong thời thơ-ấu, khuyên:

Hỡi các cậu bé con
Trong lúc tuổi còn non
Các cậu phải chăm học
Có học mới nên khôn.

Thực-tế, nhiều người “có học” mà chẳng “khôn”.

Tiếng Việt mình hay, người “có học” được gọi là “trí-thức”, người “khôn” được gọi là “tri-thức”. Xã-hội vẫn còn dành nhiều ưu-đãi cho giới trí-thức.

Thời xa-xưa “kẻ sĩ” vẫn được xếp hàng đầu trong tần-lớp xã-hội Việt-Nam. Sĩ, nông, công, thương, binh. Xã-hội loài người đã tạo ra “bằng cấp” để định mức “trí-thức” của con người. Dần-dần, “bằng-cấp” trở thành bằng-chứng của “trí-thức”, giá-trị của “trí-thức” và tinh-thần trong “bằng-cấp”, và coi “bằng-cấp” là chân giá-trị “trí-thức” ở đời đã bị ngộ-nhận.

Thật ra, “bằng-cấp” rất cần để bảo-đảm trình-độ “trí-thức” và khả-năng hành-sự tối-thiểu cho một số công-việc liên-quan đến sinh-mạng con người trong ngành y-khoa, dược khoa, kiến-trúc, vận-tải v.v. Một lầm-lẫn trong nghề-nghiệp, vị y-sĩ không thể đem “bằng-cấp” bác-sĩ y khoa của mình để bào-chữa lỗi-lầm mình trước công-lý. Giá-trị “bằng-cấp” chỉ thế thôi. Chúng ta không phủ-nhận những người tài-ba xuất chúng đều là những người có “bằng-cấp” cao. Nhưng không cứ có “bằng-cấp” cao là những người tài-ba lỗi-lạc, tri-thức đầy mình. Biết bao nhân tài không hề xuất thân từ những trường đại học. Văn-hóa Pháp Anotole France, Henry de Montherland không có bằng tiến-sĩ. Shakespeare của Anh quốc chỉ là một kép hát mà đã để lại cho hậu-thế những vở kịch bất-hủ, nhữnng danh ngôn tuyệt-với. Ở Việt-Nam ta có thi-hào Nguyễn-Du chỉ đậu tú-tài, Cụ Nguyễn-đình-Chiểu, tác-giả cuốn Lục-Vân-Tiên chỉ là một cụ đồ – “đồ Chiểu”. Thi-nhân Nguyễn-khắc-Hiếu chỉ là một “ấm sinh”, thi Hương hoài không đỗ. Họ không có “bằng-cấp” cao, nhưng đầy “tri-thức”.

Người “tri-thức” là người cố thâu-thập sự hiểu-biết của người khác qua sách vở, qua giảng-dạy của giáo-sư tại trường làm kiến-thức cho mình, rồi “luận cổ suy kim” khai-triển “tri-thức” – “học một biết mười”. Như tằm ăn dâu xanh mà nhả ra tơ vàng, chớ không nhả ra dâu xanh như hạng “trí-thức”.

Người “tri-thức” không buông lời vọng ngôn, cố cư-xử với mọi ngườ cho phải. Không chuộng cái học vụ danh, vị lợi, nên người “tri-thức” ít thì hữu-dụng cho xã hội. Người “tri-thức” nhiều thì hữu dụng cho quốc-gia, cho nhân-loại.

Nói tóm lại, người “tri-thức” luôn đem sự hiểu-biết của mình giúp đời. Trên bình-diện giúp đời, người “tri-thức” luôn cảm thấy sự “tri-thức” của mình chưa đủ, nên luôn tìm cách học thêm. Vậy nên có người so-sánh “trí-thức” và “tri-thức” như vầy:

Người “trí-thức” treo bằng-cấp trên tường.
Người “tri-thức” đút bằng-cấp dưới giường.

“Tri-thức” là người biết áp-dụng “trí-thức” cách “khôn-ngoan” vào cuộc sống. Tiếng Việt mình hay “hiểu-biết” – “hiểu” trước, “biết” sau. “Hiểu” là “trí-thức”, “biết” là “tri-thức”. Tổng-Thống Eisenhower đã tỏ ý nghi-ngờ giới “trí-thức” trong  bài diễn-văn đọc tại Los Angeles, CA vào năm 1954. “Trí-thức” là người dùng rất nhiều chữ để nói những điều họ biết rất ít.

Ngày nay có một số người “khôn” để được sống yên thân đã tự đặt cho mình “luật” đời 3 “không”:

Không quan-tâm.
Không bình-luận.
Không can-thiệp.

Có lẽ những người này đã bắt chước “3 Không” của 3 con khỉ “khôn” tại đền Nikko Toshogu ở Nhật của điêu-khắc gia nổi tiếng Hidari Jingoro ở thế-kỷ 17. Ba con khỉ có tên: Kikazaru – Bịt tai; Mizaru – Bịt mắt; Iwarzaru – Bịt miệng. Ý nhắc-nhở người Phật Tử “3 Không”:

Bịt tai – không nghe điều bậy
Bịt mắt – không thấy điều bậy
Bịt miệng – không nói điều bậy

Điều khó hiểu là “bịt tai”, “bịt mắt” thì làm sao biết được điều nào là “điều bậy”.

Chúng ta có thể “khôn” trong cuộc sống như bài thơ sau đây không?

Sống không giận, không hờn, không oán-trách
Sống mỉm cười với thử-thách chông gai
Sống vương lên theo nhịp ánh ban mai
Sống an-hòa với những người chung sống
Sống là động, nhưng lòng luôn bất động
Sống là thương, nhưng lòng chẳng vấn-vương
Sống yên-vui – danh-vọng mãi coi thường
Sống bất biến – giữa dòng đời vạn biến”

Mới đọc, thấy “sống” như vậy “khôn” quá. Nhưng ngẫm kỹ thì thấy hơi trái lẽ thông-thường của người “biết” sống.

“Lòng không giận, không hơn, không oán-trách” –Thấy điều bất chánh, bất nghĩa mà “không giận” là “bất lương”.

“Sống mỉm cười với thử-thách chông gai” thì làm sao có thể vượt “thử-thách chông gai” mà sống.

“Lòng luôn bất động” thì con năng-lực nào để “sống động”.

Vua Sa-lô-môn được vinh danh là vị vua “khôn-ngoan”. Sách Châm-Ngôn trong Kinh-Thánh chứng-nghiệm sự “khôn-ngoan” của vua. Vua viết sách này:

“Đặng khiến cho người ta hiểu biết sự khôn-ngoan và điều khuyên dạy, cùng phân-biệt các lời thông-sáng” (Châm-ngôn 1:2).

Sự “khôn-ngoan” rất cẩn:

“Người nào tìm được sự khôn-ngoan, và được sự khôn-ngon, có phước thay” (Châm-Ngôn 3:13).

Sự “khôn-ngoan” năng-dụng.

“Sự khôn-ngoan sẽ khiến con đi trong đường người thiện, và gìn-giữ các lối của người công-chính” (Châm-Ngôn 2:20).

Phương-cách hưởng “khôn-ngoan”.

“Kính-sợ Đức Chúa Trời, ấy là khởi đầu sự khôn-ngoan; Sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự thôg-sáng” (Châm-Ngôn 9:10).

Người cao niên thường “khôn-ngoan” với kinh-nghiệm “trường đời”. Con cái ở tuổi 60 mới cảm-nhận được cha-mẹ mình “khôn-ngoan” hơn mình. Nhưng ở tuổi đó mấy ai còn cha-mẹ để xin ý-kiến chỉ dạy.

Con-cái không xin ý-kiến cha-mẹ già, cha-mẹ già “khôn-ngoan” thường không xen vào đời sống gia-đình của con-cái. Cần lắm chỉ có thể “đề-nghị” chớ không “khuyên-dạy”. Biết tôn-trọng ý-kiến riêng-tư của con-cái là “khôn-ngoan”.

Cha-mẹ già sống chung với con-cái, “khôn-ngoan” là không bắt con-cái phải “vâng-lời” mình, song biết “vâng-lời” con-cái trong vài trường-hợp chúng lưu-tâm lo-lắng cho mình.

“Khôn-ngoan” nhưng đừng “ngoan-cố” – “Ngoan-cố” là cố giữ ý mình từ xưa dầu biết không còn hợp thời.

Bày-tỏ “ngoan-cố” chỉ một lời: “Tao vậy đó”.

Người lớn tuổi khó tránh “già sanh tật” và bắt con-cháu “rán chịu”. Con-cái phản đối là chỉ thẳng mặt nói:

Tao là cha mày, mẹ mày nghe chưa.

Con-cái “khôn-ngoan” muốn cha-mẹ nghe lời mình phải nhỏ-nhẹ khi nói và tỏ ra sự lo-lắng, thương-yêu cha-mẹ lúc già yếu. Chính sự hiếu-thảo giúp cha-mẹ “vâng-lời” liền.

“Ngoan-cố” có khi là thủ cựu – “trước sau như một”. Chúng ta có thể loại bỏ “ngoan-cố” khi biết lắng nghe và suy-gẫm. Bởi lắng nghe và suy-gẫm, chúng ta có thể nhận-thức đúng tầm quan-trọng của những vân-đề nhỏ-nhặt, là tránh được “sai một ly, đi một dặm”. Giảm bớt sự đụng-chạm, gây khó chịu cho người khác.

Bỏ “ngoan-cố” phải áp-dụng “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Là ứng-xử phù-hợp theo từng hoàn-cảnh, môi-trường cụ-thể chung-quanh mình. Một hành-động có thể thích-hợp trong hoàn-cảnh này, nhưng lại không thích-hợp trong hoàn-cảnh khác.

Theo “truyền-thống” chúng ta thò đũa mình gắp thức ăn trong tô canh. Nhưng bây giờ phải dùng muỗn hay đũa “chung” để làm việc đó.

Trong lãnh-vực tâm-linh, nhiều khi chúng ta cũng “ngoan-cố”.

Giả-dụ chúng ta đã dùng “thuốc chữa bách bệnh” hàng chục năm, mà mỗi năm đều thêm bệnh. Chẳng lẽ chúng ta “ngoan-cố” cứ tiếp-tục dùng. Người tiếp-tục dùng có khi không “ngoan-cố”, nhưng chỉ để chứng-minh mình không sai trong mấy chục năm.

Tôi thường đi thăm những vị cao-niên là tuổi “gần đất xa trời”. Tôi luôn tìm cách nhắc các cụ về niềm tin. Tôi thường gợi ý để các cụ suy-nghĩ.

Cụ theo đạo này để làm gì?

Điều cụ tin có gì bảo-đảm?

Hầu hết các cụ cho biết: Ông bà, cha-mẹ tin sao minh tin vậy.

Tôi giới-thiệu Chúa Jêsus là Đấng Cứu-Thế như lời Kinh-Thánh xác-chứng: “Đức Chúa Jêsus-Christ đã đến trong thế-gian để cứu-vớt người có tội, ấy là lời chắc-chắn, đáng đem lòng tin trọn-vẹn mà nhận lấy” (I Ti-mô-thê 1:15).

Chúa Jêsus phán: “Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài (Đức Chúa Jêsus), hầu cho hễ ai tin Con ấy (tin Chúa Jêsus đã đến thế-gian chịu chết trên thập-tự giá đền tội cho chúng ta) không bị hư-mất mà được sự sống đời-đời” (Giăng 3:16).

Lời Kinh-Thánh cũng khẳng-định: “Chẳng có sự cứu-rỗi trong đấng nào khác, vì ở dưới trời, cẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công-vụ các sứ-đồ 4:12). Nhiều cụ tin lời tôi làm chứng, nhưng vẫn “ngoan-cố” không chịu tin-nhân Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình. Nhưng cũng có cụ dẹp bỏ “ngoan-cố” bằng lòng tin-nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình vì muốn “được cứu”.

Trong Cơ-đốc giáo, nhiều Cơ-đốc nhân cũng “ngoan-cố” không kém. Lúc nào cũng hãnh-diện giữ “truyền-thống” cả trăm năm. Tôi cũng có một thời “ngoan-cố”, cứ “nhắm mắt đưa chân” hay “trót leo lên lưng cọp” làm sao mà xuống.

Tôi may-mắn được qua Mỹ, một nước có nền giáo-dục cao, sách vở quá nhiều. Tôi được học thêm, tra-cứu nhều nên không còn “ngoan-cố”, “thủ cựu” mà cố-gắng “canh-tân” như tiến trình: “Khi tôi còn là con trẻ, tôi nói như con trẻ, tư-tưởng như con trẻ, suy-xét như con trẻ, khi tôi đã thành-nhân, bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ” (I Cô-rinh-tô 13:11).

Hội-Thánh thuở ban đầu, Phao-lô nhận định: “Đáng lẽ anh em đã làm thầy từ lâu rồi, nay còn cần người ta lấy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời mà dạy anh em” (Bê-bơ-rơ 5:13). Lâu năm mà chẳng hiểu thêm chút nào, chỉ vì tật “ngoan-cố”.

Cơ-đốc nhân loại bỏ “ngoan-cố” mới có cơ-hội “hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu là thể nào, và được biết sự yêu-thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông-biết, hầu cho anh em được đầy-dẫy mọi sự dư-dật của  Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 3:18-19).

Chúa muốn Cơ-đốc nhân luôn “khôn-ngoan”. Đừng để “ngoan-cố” cản-trở “khôn-ngoan”.

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top