Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Sống Đời – Khiêm Nhu Nhưng Đừng Nhu Nhược

Mục sư Phan Thanh Bình: Sống Đời – Khiêm Nhu Nhưng Đừng Nhu Nhược

Khiêm Nhu Nhưng Đừng Nhu Nhược

Kiêu-ngạo ngược chiều với khiêm-nhu. Con người rất kiêu-ngạo, ai cũng có thể kiêu-ngạo được, nhưng rất khó khiêm-nhu.

Người kiêu-ngạo luôn nghĩ mình ít nhất cũng bằng người hay hơn người. Hầu hết chúng ta biết câu chuyện ngụ-ngôn Ếch Muốn Bằng Bò của La Fontaine. Chuyện rằng:

Con ếch muốn lớn bằng bò nên cố-gắng nín thở phình bụng cho to bằng bò. Rán phình bụng chưa to được bao nhiêu thì đã vỡ bụng ra và chết.

Người kiêu-ngạo thường ngó xuống thay vì ngó lên như câu ca-dao:

Ngó lên mình chẳng bằng ai – làm sao kiêu-ngạo được.

Ngó xuống thì thật khó ai bằng mình – kiêu-ngạo là cái chắc.

Người “trí-thức” bằng-cấp một xấp khó khiêm-nhu.

Người “tri-thức” dễ khiêm-nhu vì có cảm-nghĩ như Einstein:

“Điều ta biết như giọt nước, điều ta không biết giống như đại dương”.

Các nhà đạo-đức học coi đức “khiêm-nhu” là một viên kim-cương sáng chói trong mọi đức tánh “thiện” của con người.

Thời nay, cái thời quảng-cáo, cái thời phô-trương, cái thời đề-cao, cái thời, nói theo kiểu Việt-Cộng là “nổ”. Thì đức “khiêm-nhu” phải được gói-ghém đặt vào một chỗ “khiêm-nhu” trong cuộc sống. Để rồi theo thời-gian, “khiêm-nhu” ngày càng mai-một trong cuộc sống. Chẳng những thế, người ta còn cho “khiêm-nhu” là tự-ti, là hèn-yếu.

Người xưa đã nói: Khuất kỳ giả năng xử chúng; hiếu thắng giả tất ngộ địch. – Nhún mình dễ xử với người. Nếu hay hiếu thắng gặp người chống ngay.

Hiệu-năng tốt-đẹp của đức “khiêm-nhu” ngàn đời bất đi. Đức “khiêm-nhu” không cho phép chúng ta phô-trương để thiên-hạ “nể”. Nhưng cho phép chúng ta chứng-tỏ khả-năng để thiên-hạ chấp-nhận để “được phục-vụ”.

Người “khiêm-nhu” hầu hết là người có thực tài, thực đạo-đức, nhưng lúc nào cũng cảm nhận mình chỉ là một người, một người ở giữa mọi người cùng tình đồng loại, nên có thể “hòa” với mọi người dầu không “đồng”.

Người “khiêm-nhu” hầu hết có lòng yêu-thương, là người tự hạ mình xuống bằng người đối-diện, để thông-cảm với họ, hiểu-biết họ, liên-kết cùng họ với hi-vọng đem họ lên bằng mình.

Vào quân-trường, tân binh phải tập 6 tuần về “huấn-nhục” để loại bỏ cái tôi “cứng-ngắc” với bao điều tự-hào, tự ái, hầu biết tuân hành mệnh lệnh. Không đồng ý cũng phải “thi-hành trước, khiếu-nại sau”.

Chúng ta khó “khiêm nhu” vì trông như “nhu-nhược”. Pascal ví “Con người là cây sậy, có tư-tưởng”. “Cây sậy” – mềm-mại – “nhu”. Gặp bão-tố sấp mình xuống theo làn gió thổi. Qua cơn bão lại đứng thẳng lên. Chớ không phải “gió chiều nào, nghiêng theo chiều ấy”.

Con người có “tư-tưởng” nên dễ “khiêm-nhu”. “Tư-tưởng” càng cao, “khiêm-nhu” càng dễ.

Nữ giới thể-hiện tánh “nhu” (mềm-mại) qua thân hình hơn là tánh-tình. “Lệnh ông không bằng cồng bà” thì chẳng “nhu” chút nào.

Nhiều bà vợ thiếu “mềm-mại” nên lúc nói luôn ở cung “la trưởng”, nên nhiều ông chồng dầu “hét ra lửa” vẫn “sợ vợ”.

Lắm bà vợ “mềm-mại” trong lời nói, khiến nhiều ông chồng “thèm” nghe tiếng vợ như thi-sĩ Thế-Điện:

Chỉ có em, lời tình nồng qua hơi thở, 
Khắc vào tim thành những khúc tình ca.

Những ông chồng này không hề sợ vợ, nhưng luôn nghe lời vợ.

Nam giới sợ thể-hiện “nhu” qua thân hình, nhưng cố thể-hiện trong giao-tiếp, vì “nhu” được lòng người đối-diện.

Ở Mỹ, nam giới luôn được nhắc-nhở phải “gentleman” – một người “nhu” – lịch-sự. Những vị cao tuổi, dầu nam hay nữ đều có thể-chất “nhu” – mềm-mại.

Cơ-đốc nhân có đối-tượng để học về “khiêm-nhu”. Đối-tượng đó là Cứu Chúa Jêsus. Ngài phán:

“Ta có lòng nhu-mì, khiêm-nhường (khiêm nhu), nên hãy gánh của ta, và học theo ta, thì linh-hồn các ngươi sẽ được yên-nghỉ” (Ma-th-ơ 11:29).

Cơ-đốc nhân phải “học” sự “nhu-mì” nơi Chúa Jêsus, rồi sau đó phải tập-tành điều mình “học” biết.

Chúa Jêsus “có lòng nhu-mì” chớ không có dáng “nhu-mì”. Người có dáng “nhu-mì” mà không “có lòng như-mì” là giả hình.

Cơ-đốc nhân muốn “có lòng nhu-mì” như Chúa Jêsus phải “học” và “học thuộc lòng”. “Học thuộc lòng” là “học” đi, “học” lại cho thuộc “nằm lòng”, chớ không phải chỉ tác-động đến trí. Một hình-thức “ghi lòng tạc dạ” nhớ đời. “Học” ghi nơi tri, đôi lúc chấp-nhận, đôi lúc từ-chối theo suy-luận. Nhưng “ghi lòng tạc dạ” thì không thể thay-đổi.

Cơ-đốc nhân “ghi lòng tạc dạ” Chúa Jêsus chúng ta “nhu-mì”. Ngài “nhu-mì” từ cách sống đế lời nói. Ngài sống thật “nhu-mì” so với vài thú-vật cũng không bằng: “Con cáo ó hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có chỗ gối đầu” (Ma-th-ơ 8:20). Khi Ngài chết, “Ngài gục đầu mà trút linh-hồn” (Giăng 19:20).

Sau khi Chúa Jêsus từ kẻ chết sống lại, Ngài tuyên-bố: “Hết cả quyền-bính trên trời và dưới đất đã giao cho ta” (Ma-thi-ơ 28:18). Sau khi Chúa Jêsus từ kẻ chết sốg lại, Kinh-Thánh khẳng định: “Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quỳ xuống và mọi lưỡi thảy đều xung Jêsus-Christ là Chúa mà tôn-vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Phi-líp 2:9-11).

Với quyền-năng và chức cao vậy, mà Ngài vẫn “nhu-mì” với kẻ chống-nghịch Ngài. Ngài chẳng ra tay hại  bất cứ ai, vì Ngài “muốn mọi người dược cứu và hiểu-biết chân-lý” (I Ti-mô-thê 2:4).

Đối với Cơ-đốc nhân, là người Ngài đã cứu, là người thuộc về Ngài, “là người thánh và rất yêu-dấu của Ngài” (Cô-lô-se 3:12). Là người mở miệng ra xưng Ngài là “Chúa”. Thế mà chẳng “tôn Đấng Christ là Chúa, làm thánh trong lòng mình” ( I Phi-e-rơ 3:15). Lại còn đẩy Chúa ra khỏi lòng để tự-do “sống theo tư-dục xác-thịt mình, làm trọn những sự ham-mê của xác-thịt và ý-tưởng chúng ta” (Ê-phê-sô 2:3).

Thế mà Ngài vẫn “nhu-mì” nhắn gởi: “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở của cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta” (Khải-huyền 3:20).

Phao-lô, người “học” nhuần-nhuyễn sự “nhu-mì” của Chúa Jêsus, nên tỏ ra: “Nhưng chúng tôi ăn-ở nhu-mì ở giữa anh em, như một người vú săn-sóc con-cái mình cách dịu-dàng” (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:7).

Phao-lô “học” nhuần-nhuyễn sự “nhu-mì” của Chúa Jêsus, nên muốn mọi người “học” theo mình và tập-tành: “Chớ nói xấu ai, chớ tranh-cạnh, hãy dong-thứ, đối với mọi người tỏ ra một cách mềm-mại (nhu-mì) trọn-vẹn” (Tít 3:2).

Gia-cơ cảm-nhận “nhu-mì” là một trong những “sự khôn-ngoan từ trên mà xuống”: “Nhưng sự khôn-ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh-sạch, sau lại hòa-thuận, tiết-độ, nhu-mì, đầy-dẫy lòng thương-xót, và bông-trái lành, không có sự hai lòng và giả-hình” (Gia-cơ 3:17). Vì “nhu-mì” là một phần trong “bông-trái” Thánh-Linh: “Nhưng trái của Thánh-Linh, áy là lòng yêu-thương, sự vui-mừng, bình-an, nhịn-nhục, nhơn-từ, hiền-lành, trung-tín, mềm-mại (nhu-mì), tiết-độ” (Ga-la-ti 5:22).

Phao-lô khuyên người hầu-việc Chúa phải “nhu-mì”: “Vả, tôi-tớ của Chúa không nên ưa sự tranh-cạnh, nhưng phải ăn ở tử-tế (nhu-mì) với mọi người, có tài dạy-dỗ, nhịn-nhục, dùng cách mềm-mại (nhu-mì) sửa dạy kẻ chống trả, mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn-năn để nhìn biết chân-lý, và họ tỉnh-ngộ gỡ mình khỏi lưới ma-quỉ, vì đã bị ma-quỉ bắt lấy làm theo ý nó” (II Ti-mô-thê 2:24-26).

Người hầu-việc Chúa chân-chính luôn có “những kẻ chống trả”. Không thiếu “tôi-tớ của Chúa” đưa “kẻ chống-trả” ra trước Hội-Thánh, ra trước ban điều hành để “xử-lý”. “Kẻ chống-trả” thắng, “tôi-tớ của Chúa” đi chỗ khác hầu-việc Chúa. “Tôi-tớ Chúa” thắng, “kẻ chống-trả” cũng “ra-đi-mở-hội-thánh-mới”. Để tránh tình-trạng trên, hãy “dùng cách mềm-mại (nhu-mì) sửa dạy”. Nếu không đủ “nhu-mì” hãy nghe Phao-lô mời gọi: “Hãy bắt-chước tôi” (I Cô-rinh-tô 4:16) như vầy: “Tôi là Phao-lô, bởi sự nhu-mì, nhơn-từ của Đấng Christ mà xin anh em” (II Cô-rinh-tô 10:1).

Mong rằng tất cả Cơ-đốc nhân đều nhớ “học” và tập-tành “nhu-mì, nhơn-từ của Đấng Christ”.

Khôn-ngoan là khiêm-nhu nhưng đừng nhu-nhược.

Có những vị chữ-nghĩa vài “bồ”, bằng-cấp một “xấp”. Nhưng khi được đề cử làm việc này, việc nọ họ đã khéo-léo từ-chối, lúc nào cũng tự nhận mình “tài hèn đức mọn”. Họ “khiêm-nhu” chăng? – Không, họ “nhu-nhược”.

Người cao tuổi trông “yếu-đuối”, nhưng không thể “nhu-nhược”. Đừng mặc cảm với quan-niệm “lão lại tài tận”. Nhưng phải tự-hào “gừng càng già càng cay”. Chính sự tự-hào này mà người cao-niên cảm thấy chưa phải là “đồ bỏ”. Tôi tuy đã 82 tuổi, biết thân-thể ngày càng “yếu-đuối”, nhưng luôn giữ tâm-hồn “khỏe”. Cái “khỏe” này do ý-thức chất “cay” của “gừng già”.

Cái “cay” của “gừng già” là “nội lực” của người lớn tuổi. Tôi thường chia-xẻ nguyên-tắc này để người lớn tuổi không “nhu-nhược”. Đó là:

Chống gối đứng dậy, chống gậy bước đi.

“Chống gối đứng dậy” – dùng “nội-lực” mình có để khởi đầu một công-việc. Sau đó “chống gậy bước đi” – nương nhờ “ngoại lực” mà làm thành.

Người lớn tuổi tuy sức yếu, nhưng vẫn còn chút sức-lực. Tiếng Mỹ “sức-lực” là Power. Chúng ta áp-dụng phương-thức Power vào công-việc là nhận ra còn “cay”.

Prepare – chuẩn-bị
Organize – sắp-xếp
Work – thực-hiện
Evaluate – đánh giá
Rethink – nghĩ lại

Làm sao chúng ta có thể “nhu-nhược” được khi còn Power – còn “cay’.

Tôi vẫn còn “cay” vì biết chắc: “Tôi làm được mọi sự, nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:13).

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top