Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Hãnh Diện

Mục sư Phan Thanh Bình: Hãnh Diện

HÃNH-DIỆN 

Tiếng Việt mình hay, trong ta có điều gì hay, điều gì quý muốn mọi người biết, ta phải “kiêu-hãnh” là tìm cách bày-tỏ điều mình có cho mọi người biết mà lưu-tâm.

Theo tâm-lý học, nữ giới luôn “kiêu-hãnh” về con người mình: Từ vóc-dáng đến cách ăn-mặc. Bởi “kiêu-hãnh” mà sáng-tạo cách cười, cách nhìn, cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách ăn, cách nói, mong rằng đối phương nhìn thấy là phải thốt lên: “Người đâu gặp-gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không”.

Lần đầu tiên Kim-Trọng gặp Thúy-Kiều, chỉ thấy dáng nhưng chưa nhìn thấy mặt vì lo nói chuyện với Vương Quan, còn hai nàng Kiều thì đang “e lệ nép vào dưới hoa”. Nhìn xa mà cảm nhận:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.

Mới nhìn thấy “kiêu-hãnh” cái dáng “nẻo xa” mà đã biết ngay mặt-mày “mặn-mà”.

Nhiều nàng thiếu dáng, song “kiêu-hãnh” về “mày ngài mắt phượng” của mình chớ không như người mắt lươn, mà sách tướng số ghi:

Những người ti-hí mắt lươn.

Trai thì trộm-cướp, gái buôn chồng người.

Thật ra mắt lươn hay mắt phượng không là tướng số mà là nhân-chủng học. Người Nhật, Người Hàn hầu hết đều “mắt lươn” lại rất văn-minh, trông vào vẫn đáng yêu. Người ta nói: Con mắt là cửa sổ của tâm-hồn. Con mắt có tâm-hồn là con mắt đẹp, là con mắt có “thần”.

Tây-Thi, Vương-Chiêu-Quân, Điêu-Thuyền, Dương-Quý-Phi là tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc có mắt “thần”. Họ liếc một cái, nghiêng cả thành-quách, liếc cái thứ hai, sụp cả chế-độ – Nhất cố khuynh thành, nhị cố khuynh quốc.

Mắt phái nữ nhiều loại, mơ-màng như mắt “nai tơ”, lại thêm thuật “đá lông nheo” là chàng tự nhận “đi vào mắt em”.

Người ta nói “con mắt là cửa sổ của tâm-hồn”, có người nói “cái miệng là cửa lớn của tâm-hồn”, vì cái miệng nói lên được mọi điều tâm-hồn chất-chứa. Cái miệng cười rất đáng giá – “Ngàn vàng mua lấy miệng cười”. “Anh về anh nhớ hàm răng em cười” chớ đâu có nhớ “mắt”. Miệng nói lời tỏ tình, nói lời hẹn-hò, chấm dứt câu chuyện, chúm miệng “hun” một cái là ăn tiền.

Rất tiếc đôi khi sự “kiêu-hãnh” không làm cho ta “đã” mà có khi lại ngược chiều.

Nàng có bạn trai một thời xa-xưa, nay nghe tin bạn lấy vợ, nàng xin  bạn cho mình tới dự hôn-lễ. Nghĩ đến tình xưa, chàng chấp-nhận.

Nàng rất “kiêu-hãnh” về mình, đâu có thua gì cô dâu. Trong đám cưới có chàng đẹp trai, ăn-mặc rất “ấn-tượng” luôn ngó chăm nàng. Nàng đi đâu chàng cũng cà-rà theo sau. Nàng rất “kiêu-hãnh” đã “hút hồn” chàng. Mặt nàng tươi hẳn lên, môi nàng luôn rạng-rỡ nụ cười. Hôn-lễ xong, nàng tới gặp chàng:

– Cảm ơn anh đã cho tôi niềm vui hôm nay bởi  cái nhìn chăm-chú của anh, những bước nhẹ-nhàng anh đi theo tôi. Anh có thể cho tôi biết nơi tôi có động lực nào mà mới gặp nhau đã “thu-hút” được anh? Chàng trả-lời tỉnh bơ:

– Chàng rể thuê tôi “canh chừng” cô.  

Hội Cao Niên có nhiều chuyện vui lắm. Nhiều cụ tới sớm vì được con-cháu chở tới trước khi đi làm. Ba bà tới trước đang ngồi nói chuyện thì cụ ông đi vào. Cụ ông vui-vẻ chào ba bà, ba bà vui-vẻ chào cụ ông, rồi ngó nhau cười. Cụ ông đi qua mà các bà vẫn cười. Cụ quay lại thấy các bà ngó mình, cười. Cụ “kiêu-hãnh” nhận thấy mình có cái gì làm các bà vui như vậy, nên quay lại hỏi:

– Hôm nay tôi có điều gì  lạ lắm sao mà các bà cứ nhìn tôi cười hoài vậy? Một bà nhìn cụ vừa nói vừa cười:

– Cụ đem xe vào ga-ra rồi, nhớ đóng cửa lại. Khi cụ thuật lại cho tôi nghe, cụ bảo, cụ cười và định hỏi: Có bà nào thấy xe của tôi không? Nhưng cụ không hỏi, chỉ cười và giơ tay kéo một cái từ dưới lên trên “đóng cửa”. Cảm-ơn rồi quay đi.

Theo tâm-lý học, người “kiêu-hãnh” luôn tự tin bởi biết những giá-trị mình đang có. Người “kiêu-hãnh” luôn muốn chứng-tỏ điều mình có cho mọi người biết nên biết trau-dồi, bổi-bổ điều mình quý-trọng. Nhưng người “kiêu-hãnh” ít khi đạt được điều mình mong muốn nên buồn, đôi khi kinh-thường người khác, coi người không lưu-tâm đến mình như thứ “đem đàn gảy tai trâu” hay “nước đổ lá môn”.  

Điều hay, điều quý mình có, mình chẳng nên “kiêu-hãnh” nhưng mà hãy “hãnh-diện”.

Người Việt chúng ta “hãnh-diện” là “con rồng cháu tiên”, “con ông cháu cha”, “hãnh-diện” địa-danh nơi mình sanh-trưởng. Tôi là người Việt-Nam có đất nước mang hình chữ S – Sáng-ngời, tôi là dân “Hà-lội” – kinh-đô của văn học, dân xứ “Huệ”, – đất của Triều-Đình,  dân “Quảng-Nôm” – nguồn gốc bao anh-hùng liệt sĩ v.v.

Tôi “hãnh-diện” về tiếng Việt. Âm-nhạc Tây Phương có thất cung: Đồ, rê, mi, pha, son, la, si. Âm nhạc Đông Phương có ngũ cung: Hò, sừ, sang, xế, công. Âm thanh tiếng Việt có lục cung: La, lả, lã, lá – lên cao dần; Là, lạ – xuống thấp dần. Mỗi chữ có ý-nghĩ khác nhau.

Khi còn ở Việt-Nam, tôi được mời dạy các khóa Tu-Nghiệp Giáo Chức ở Đà-Nẵng, Sài-Gòn, Cần-Thơ. Một khóa ở Cần-Thơ, trong ban giảng-huấn có nữ giáo-sư người Úc. Cô cho tôi biết đang học tiếng Việt. Tôi hỏi:

– Lý-do nào cô học tiếng Việt.

– Lý-do là để nói chuyện với người Việt.

– Học để nói chuyện thì không khá được. Nếu cô học tiếng Việt, vì tiếng Việt là tiếng hay nhất trong ngôn-ngữ loài người, cô học sẽ khá hơn.

– Anh kiêu-ngạo quá, tình dân-tộc nặng quá. Tiếng Việt “hay” chỗ nào anh nói tôi nghe.

Thế là tôi nói cho cô biết cái “hay” của tiếng Việt:

1/ Tiếng Việt có sáu cung. Tôi “cho” cô – cô cảm ơn. Tôi cao giọng “chó” cô – cô giận liền.

2/ Một câu 5 chữ có thể viết thế nào cũng được.

Sao nó bảo không đến?

Sao bảo nó không đến?

Sao không đến bảo nó?

Sao nó không bảo đến?

Sao? Đến bảo nó không?

Sao? Bảo nó đến không?

Nó đến, sao không bảo?

Nó đến, bảo không sao?

Nó đến, bảo sao không?

 3/ Tiếng Việt mình hay, tiếng Việt đơn âm nhưng phát âm “sáu cung” bởi 5 dấu. Ngôn-ngữ không đứng đơn-độc, mà thường ở dạng kết-hợp kép. Kép này không có ý-nghĩa nhị nguyên mà để giúp chúng ta cảm-nhiệm, ý-nghĩa gia-tăng. Nội chữ “ăn” mà ghép “kép” như vầy:

Ăn chung, ăn đứt, ăn tham

Ăn đụng, ăn ké, ăn gian, ăn mày

Ăn cưới, ăn rỗi, ăn vay

Ăn vụng, ăn bám, ăn chay, ăn lường

Ăn nằm, ăn ở, ăn sương

Ăn vạ, ăn tái, ăn đường, ăn non

Ăn ngẫu, ăn hiếp, ăn bòn

Ăn hại, ăn vã, ăn đòn, ăn dơ

Ăn chặn, ăn cướp, ăn nhờ

Ăn gỏi, ăn khớp, ăn thua, ăn vòi

Ăn rở, ăn khách, ăn lời

Ăn nhạt, ăn cánh, ăn chơi, ăn dè

Ăn vặt, ăn xổi, ăn thề

Ăn ghé, ăn chực, ăn rê, ăn tiền

Ăn quẩn, ăn liếm, ăn kiêng

Ăn bậy, ăn bớt, ăn riêng, ăn phàm.

Buồn thì:

Buồn-bã, buồn-bực, buồn-phiền

Buồn-rầu, buồn-nản, buồn-thiu, buồn-thầm

4/ Một bài thơ có thể đọc năm cách

Tôi tin chắc trên thế-giới này, không có một ngôn-ngữ nào có thể dùng cách chơi chữ để làm một bài thơ theo cách sau đây. Bài thơ Trông Chồng, mà người ta cho là của vua Tự-Đức.

Gương tà nguyệt xế đã ngoài song,

Hắt héo trông ai quá rất trông.

Thương bấy thiết-tha lòng héo liễu,

Nhớ thay vàng võ má phai hồng

Vương sầu xiết kể chi nguôi Bắc.

Ý tủi thêm buồn vả chạnh Đông.

Chàng hỡi biết ai chăng bội bực?

Loan hàng viết thảo tả tình chung.

Bài thơ này có thể đọc 6 cách:

  1. Đọc như thường từ dưới lên trên:

Loan hàng viết thảo tả tình chung.

Chàng hỡi biết ai chăng bội bực?

Ý tủi thêm buồn vả chạnh Đông,

Vương sầu xiết kể chi nguôi Bắc.

Nhớ thay vàng võ má phai hồng,

Thương bấy thiết-tha lòng héo liễu.

Hắt héo trông ai quá rất trông,

Gương tà nguyệt xế đã ngoài song.

  1. Đọc ngược từ dưới lên trên, từ phải qua trái:

Chung tình tả tháo viết hàng loan,

Bực bội chăng ai biết hỡi chàng?

Đông chạnh vả buồn thêm tủi ý,

Bắc nguôi chi kể xiết sầu vương.

Hồng phai má võ vàng thay nhớ,

Liễu héo lòng tha thiết bấy thương.

Trông rất quá ai trông héo hắt,

Song ngoài đã xế nguyệt tà gương.

  1. Đọc xuôi từ trên xuống, mỗi câu bỏ hai chữ đầu,

Nguyệt xế đã ngoài song,

Trông ai quá rất trông.

Thiết-tha lòng héo liễu,

Vàng võ má phai hồng

Xiết kể chi nguôi Bắc.

Thêm buồn vả chạnh Đông.

Biết ai chăng bội bực?

Viết thảo tả tình chung.

  1. Đọc xuôi từ dưới lên trên, mỗi câu bỏ hai chữ cuối

Loan hàng viết thảo tả .

Chàng hỡi biết ai chăng?

Ý tủi thêm buồn vả,

Vương sầu xiết kể chi.

Nhớ thay vàng võ má,

Thương bấy thiết-tha lòng.

Hắt héo trông ai quá,

Gương tà nguyệt xế đã.

  1. Đọc ngược từ dưới đọc lên, từ phải sang trái, bỏ hai chữ đầu mỗi câu.

Tả thảo viết hàng loan,

Chăng ai biết hỡi chàng?

Vả buồn thêm tủi ý,

Chi kể xiết sầu vương.

Má võ vàng thay nhớ,

Lòng tha thiết bấy thương.

Quá ai trông héo hắt,

Đã xế nguyệt tà gương.

  1. Đọc ngược từ dưới đọc lên, từ phải sang trái, bỏ hai chữ cuối mỗi câu

Chung tình tả tháo viết,

Bực bội chăng ai biết?

Đông chạnh vả buồn thêm,

Bắc nguôi chi kể xiết.

Hồng phai má võ vàng,

Liễu héo lòng tha thiết.

Trông rất quá ai trông,

Song ngoài đã xế nguyệt.

Quý Vị đã thấy tiếng Việt mình độc-đáo và “hay” nhất trên thế giới.

5/ Nói lái

Chỉ có tiếng Việt mới có lối nói láy: Kia mấy cây mía, có vài cái vò. Nói lái hai con “sò, cóc” thành hai con “sóc, cò”. Có thể nói láy hai chữ trong câu là đổi hẳn ý: Con đường bác đi bi-đát quá.

Hồ-Xuân-Hương làm thơ không “lái” chữ nhưng   nghĩa “lái” như vầy:

                    Sư bị làng đuổi

Cái kiếp tu-hành nặng đá đeo

Vị gì một chút tẻo tèo teo

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc

Trái gió thành ra phải lộn lèo.

Thời thực dân Pháp cai-trị nước Việt-Nam, Nguyễn-Văn-Tâm được Pháp cho làm Thủ Tướng. Ngày nhậm chức, Thủ-Tướng Nguyễn-Văn-Tâm nhận được bức hoành phi viết bốn chữ ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN sơn son thiếp vàng trông thật lộng-lẫy do một cụ “nhà nho” kính tặng và trình-bày ý-nghĩa:

   – Thưa Ngài Thủ-Tướng “ĐẠI” là lớn – Ngài là “Đại Nhân”; “ĐIỂM” là nơi chốn – Thủ-Tướng là “cao điểm” trong chính quyền. “QUẦN THẦN” là bậc trung thần thương nước yêu dân. ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN nói lên Ngài là Đại Trung Thần cao-sang của dân Việt.

Thủ Tướng rất khoái chí cho treo ngay trong dinh-thự Thủ-Tướng. Bất cứ ai vào dinh, ngó tấm biển với lòng suy tôn Thủ-Tướng. Bốn tiếng ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN được loan truyền trong dân chúng.

Đến một ngày, một cụ già nhà quê nghe tin đồn, xin phép được vào chiêm-ngưỡng bức hoành-phi. Cụ bổng cười sằng-sặc, nhổ nước miếng rồi bỏ đi. Quân lính bắt lại trình Thủ-Tướng. Cụ già bẩm:

– Tôi cười tấm bảng chớ nào dám cười Thủ-Tướng. Thủ-Tướng hỏi:

– Tại sao lại cười tấm bản?

– Bẩm Thủ-Tướng: ĐẠI là to, ĐIỂM là chấm. ĐẠI ĐIỂM là chấm to; QUẦN-THẦN là bầy tôi. Ngài đọc Chấm To Bầy Tôi thì rõ nghĩa (Chó Tâm Bồi Tây) nên tôi cười.  

Cuối cùng cô giáo-sư Úc phải công nhận tiếng Việt “hay” nhất trong ngôn-ngữ loài người.

Tôi là người Việt, tôi rất “hãnh-diện” về tục-ngữ ca-dao của mình, sao mà đúng tâm-lý quá.

Tôi “hãnh-diện” tiếng Việt mình “hay”. Cơ-đốc nhân chân-chính luôn “hãnh-diện” Lời Kinh-Thánh “hay” vô-cùng cho mọi tầng-lớp trong xã-hội loài người trên toàn thế-giới.

Kinh-Thánh khác với tất cả mọi sách trên thế-giới. Là một cuốn sách kỳ-diệu phi-thường, vượt quá sự hiểu-biết của con người. Là cuốn sách có tiêu-chuẩn đạo-đức cao hơn hết; là cuốn sách nói về khởi-nguyên và kết-thúc thế-giới này; là cuốn sách giãi-bày Đức Chúa Trời một cách chính-xác; là cuốn sách nói lên ý-muốn của Đức Chúa Trời đối với loài người; là cuốn sách minh-định lịch-sử và tiến-trình của con người. Qua cuốn Kinh-Thánh con người có thể hiểu được đường-lối Đức Chúa Trời mà tuân theo, hầu hưởng được các phước-hạnh mà Đức Chúa Trời dành cho loài người. Là cuốn sách nói lên tất cả lý-do người ta quyết-định từ-khước đường-lối Đức Chúa Trời. Là cuốn sách bày-tỏ hậu-quả khủng-khiếp cơn thạnh-nộ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ bất tuân. Là cuốn sách được mệnh danh là Lời Đức Chúa Trời.

Kinh-Thánh là cuốn sách mà Tổng-Thống đầu tiên của Mỹ Quốc – George Washington đã tuyên-bố:

– Không có Đức Chúa Trời và Kinh-Thánh thì không thể điều-khiển thế-giới cách đúng đắn được.

John R Green, tác-giả cuốn Short History Of The English People  – Lịch-sử Dân-tộc Anh đã ghi nơi trang 450: Không có cuộc thay-đổi quốc-gia nào vĩ-đại hơn cuộc thay-đổi ở Anh Quốc khoảng giữa triều-đại Nữ-Hoàng Elizabeth, và lúc nghị-viện nhóm họp. Anh Quốc đã trở thành một nước của một cuốn sách và cuốn sách ấy là Kinh-Thánh.

William E. Gladstone, một chính-khách lỗi-lạc người Anh đã nói: Kinh-Thánh có mang dấu-hiệu khởi nguyên đặc-biệt, và Kinh-Thánh cách xa các sách đối đầu, một trời, một vực.

Có rất nhiều lời ca-tụng Kinh-Thánh, – coi Kinh-Thánh là khuôn vàng thước ngọc của các danh nhân như: Abraham Lincoln, Napoléon, Queen Victoria, Daniel Webster, Sir Issac Newton, Goeth v.v. đã được Henry H. Halley trưng-dẫn trong cuốn Bible Handbook trang 22 và 23.

Tôi đã học, tra-cứu, giảng-dạy Kinh-Thánh và viết 35 cuốn Bài Học Kinh-Thánh và 27 cuốn Huấn-Luyện Giải-Bày Chân-Lý trong Kinh-Thánh. Trên 60 năm gắn-bó với Kinh-Thánh, đời sống tôi đã được Kinh-Thánh hướng-dẫn, cảm-hóa, thể-hiện năng-lực Lời Kinh-Thánh với cả niềm “hãnh-diện”.

Mình có điều gì hay, điều gì quý mà được người ta biết đến là “hãnh-diện”. Theo tâm-lý học, cái “hãnh-diện” này cho ta biết điều hay, điều quý như tảng băng trong biển. Điều người ta thấy chỉ là 13%, còn 87% ở dưới nước không thể thấy. Người ta thấy mà nghĩ điều mình có là quá “đã”.

Cơ-đốc nhân chân-chính có điều người ta biết mà mình “hãnh-diện” vì biết chắc Chúa làm qua mình thì quá “đã”.

Từ năm 1980 đến năm 1985, tôi được giáo-hội cử đi cổ-động các Hội-Thánh Báp-Tít trên 20 tiểu-bang bảo-trợ người Việt tị-nạn. Tới Hội-Thánh nào tôi cũng được mời giảng và sau đó nói về tình-trạng người Việt bỏ xứ ra đi và cần được bảo-trợ. Tôi được nhiều người biết đến và đoàn Mục-sư giảng bồi-linh mời tôi tham-gia, tôi nhận lời.

Đoàn gồm có 7 Mục-sư tới giảng 7 Hội-Thánh trong thành phố một tuần. Các Mục-sư ở khách-sạn và luân-phiên giảng mỗi Hội-Thánh. Trong buổi họp chia tay, 6 Mục-sư Mỹ đều có tiến-sĩ và cao-học, duy tôi là người Việt. Các Mục-sư cho tôi biết một sự việc chưa bao giờ xảy ra cho họ, là khi tới giảng đều được con-cái Chúa nói về bài giảng của tôi và họ muốn biết trình-độ học vấn của tôi.

– Tôi tốt-nghiệp trường Kinh-Thánh, sau đó cố gắng tìm cách đi du học, nhưng chưa đạt được. Quý vị biết muốn có rượu ngon, phải có thời gian trồng nho, gặt nho, làm rượu, và phải để rượu lâu năm mới ngon. Quý vị có thời-cơ thuận tiện nên đã học đến cao học, tiến-sĩ, phải tốn nhiều thì giờ trau-dồi kỹ-năng để giảng-dạy. Quý vị là rượu ngon. Còn tôi, không có thời-cơ thuận-tiện để học, tôi rất tầm-thường giống như nước lã. Chúa thương nên đã “biến nước thành rượu” (Lu-ca 2:7-10), một vị thêm vào: mà là “rượu ngon”. Tôi “hãnh-diện” – Chúa biến thì làm sao không “ngon” được.

Tôi vào trường học chương-trình cao-học về tâm-lý và cố-vấn gia-đình. Chương-trình 4 năm mà phải 6 năm mới hoàn-tất. Sau đó học tiếp 4 năm chương-trình tiến-sĩ về môn Lãnh-Đạo và dùng 2 năm để viết luận án. Tôi được viện-trưởng mời phát-biểu trong buổi lễ Tốt-Nghiệp. Tôi từ chối vì 66 tuổi mới lấy được tấm bằng này là quá dở, trong khi những bạn đồng khóa đều dưới 40. Vị viện-trưởng cho biết theo lối Mỹ, tốt-nghiệp ở tuổi già, hay tuổi rất trẻ mới đặc-biệt, và tôi nhận lời. Tôi rất “hãnh-diện” mái đầu bạc trắng ngồi chung với những mái đầu đủ màu.

Tôi “hãnh-diện” mở đầu bài phát-biểu:

Gentlemen and Ladies (Vietnamese Culture) – Luận-án của tôi là Overcoming Cultural Conflict To Strengthen Vietnamese Ministries. Thế là phái nam vỗ tay hưởng ứng. Kết thúc bài phát-biểu:

As of today, I can write the letters “Dr.” Before my name: Dr. Phan-Thanh-Bình. By my way of thinking, however, the letters “Dr.” belong after my name: Phan-Thanh-Bình. Dr. as in “driver”. I seek to drive many people to Our Jesus – The Way. Thế là hội-chúng lại vỗ tay hưởng-ứng. Tôi “đã” làm sao trong niềm “hãnh-diện”.

 Phao-lô rất “hãnh-diện” khi tỏ-bày: “Chúng tôi là kẻ ngu-dại vì cớ Đấng Christ, nhưng anh em được khôn-ngoan trong Đấng Christ; chúng tôi yếu-đuối, anh em mạnh-mẽ; anh em quý-trọng, chúng tôi khinh-hèn. Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần mình, bị người ta vả trên mặt, lưu-lạc rày đây mai đó. Chúng tôi dùng chính tay mình làm việc khó-nhọc; khi bị rủa-sả, chúng tôi chúc-phước; khi bị bắt-bớ, chúng tôi nhịn-nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên-dỗ; chúng tôi giống như rác-rến của thế-gian, cặn-bã của loài người cho đến ngày nay.” (I Cô-rinh-tô 4:10-13).

Ở tuổi 83 mà vẫn được Chúa xử-dụng nên rất “đã” và “hãnh-diện” làm tôi-tớ Chúa phục-vụ mọi người.

 CHÚA ƠI, CHÚA ĐẸP LẠ-LÙNG

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Khi Ngài giảng-dạy trên hòn núi cao (Ma-thi-ơ 5)

Những lời an-ủi dường nào

Cho người nghèo-khổ lao-đao dưới đời.

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Khi Ngài ban bánh năm ngàn người ăn (Mác 6:30-44)

Xin thầy cho họ về làng

Chính các người … cho họ ăn mới về.

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Khi Ngài đã … ngồi chung bàn … Xa-chê (Lu-ca 19:1-10)

Mặc lời to nhỏ xầm-xì

Xa-chê hối-cải, Chúa nghe, đủ rồi.

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Đền thờ Chúa đuổi con buôn … chạy dài

Bện roi, Chúa quất thẳng tay

        Đền thờ không thể để ai coi thường. (Mathiơ 21:12-13)

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Trên cây thập-tự máu tuôn vì người

Gục đầu Chúa trút tàn hơi

Giữa trưa mà cả đất trời tối tăm. (Mathiơ 27:45)

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Kìa xem ngôi mộ … đã không có Ngài (Mathi ơ 28)

Tử Thần cao chạy, xa bay

Vinh-quang sống lại, quyền oai về trời.

Chúa ơi, Chúa đẹp vô-cùng

Tin-Lành ơn-phước, vui-mừng, bình-an

Từ trên ngôi báu Thiên-Đàng (Mác 10:19)

Gọi người tội-lỗi, ăn-năn … trở về.

Tường-Lưu

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top