Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Lời Giới Thiệu

Mục sư Phan Thanh Bình: Trường Đời – Lời Giới Thiệu

Lời Giới Thiệu:

Mục sư Phan Thanh Bình là một mục sư lão thành.  Ông đã hầu việc Chúa 20 năm tại Việt Nam và hơn 44 năm tại Hoa Kỳ.  Mục sư Phan Thanh Bình cũng là một cây viết lão luyện. Mục sư  Phan Thanh Bình là Chủ Bút của tờ Ánh Sáng, phát hành hằng tháng liên tục trong 44 năm qua. Theo tài liệu của Văn Phẩm Ánh Sáng Cơ-đốc, Mục sư Phan Thanh Bình đã xuất bản 114 cuốn sách và 68 truyền đạo đơn.  Trong cộng đồng Tin Lành Việt Nam, Mục sư  Phan Thanh Bình là người đã viết và xuất bản nhiều sách nhất từ trước tới nay.   Với sự chấp thuận của Mục sư  Phan Thanh Bình, Thư Viện Tin Lành sẽ lần lượt giới thiệu các sách và bài giảng của Mục sư Phan Thanh Bình trong thời gian tới.  Xin mời bạn đọc theo dõi loạt bài đầu tiên được trích từ sách Trường Đời, xuất bản vào tháng 6/2018.  Trong năm 2019 vừa qua, nội dung của sách Trường Đời đã được trích đăng trên một số báo Việt ngữ tại hải ngoại và thảo luận trên đài phát thanh Tiếng Nước Tôi. Mời bạn đọc cùng theo dõi.

Ban Biên Tập Thư Viện Tin Lành

Lời Dẫn

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc-lẻo gập ghình khó đi

Hai câu ca-dao quen-thuộc trên đây là câu hát ru mà bà mẹ Việt-Nam nào cũng thuộc lòng và đứa trẻ Việt-Nam nào khi lớn lên cũng đều ghi nhớ.

Sau này, chúng ta còn làm quen thêm với hai câu:

Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Trường đời! Một trường rộng lớn mà không một trường nào có thể so-sánh.

Được làm việc với Mục-sư Tiến-sĩ Phan-Thanh-Bình là một vinh-hạnh lớn cho chúng tôi.

Qua buổi phát thanh, Mục-sư Phan-Thanh-Bình đã gửi đến thính-giả những đề-tài sâu-sắc xoay quanh “Trường Đời”, bên cạnh phần thảo-luận với thính-giả làm tăng thêm ý-nghĩa của chủ đề này.

Nếu trong trường học có thầy và trò thì ở trường đời không có thầy, nhưng những bài học trong trường đời cũng quý-giá không kém. Những bài học trong trường đời chính là những kinh-nghiệm không dễ-dàng có được. Có khi chúng ta phải “mua” những kinh-nghiệm đó bằng tiền-bạc, bằng nước mắt và thậm chí bằng máu.

Nhưng may-mắn thay, trong trường đời chúng ta có thể tìm thấy những người nâng-đỡ, giúp chúng ta vượt qua khó-khăn. Đó chính là người bạn, người cố-vấn, người khích-lệ, người lãnh-đạo của chúng ta. Họ sẵn cho đi mà không hề vụ lợi.

Và chúng ta, một khi đã nhận những sự nâng-đỡ ấy, luôn cảm-ơn đời, luôn tri-ân, ghi ơn, và học cách làm ơn.

Mỗi một cá-nhân đều bị cuốn theo dòng đời, cảm-nhận được tất cả những sự khốn-khổ, gian-nan và cả những lúc bình-an.

Những bài học trường đời không được đánh giá qua số điểm, mà bằng những đức tính chúng ta rèn-luyện được, như sự khôn-ngoan, tính khiêm-nhu, lòng kiên-trì v.v…

Bên cạnh đó, chúng ta còn thấm-thía thói đời, qua sự gian-dối, thói đổ-thừa, lòng ganh-tị, tính tự-ái … Nhưng chúng ta luôn cảm-nhận hương đời, như đang sống trong vườn cây trái ngọt-ngào, qua lòng yêu-thương, nỗi vui-mừng, sự hãnh-diện.

Chưa dừng lại, tác-giả còn chia-xẻ với chúng ta những lo-lắng, lo-liệu, lo toan … cho phần cuối đời.

Trong trường đời, chúng ta không lúc nào ngưng học, do đó không có lễ ra trường, không có bằng tốt-nghiệp. Mỗi ngày, mỗi giờ, chúng ta đều phải học.

Nghe những bài giảng của Mục-sư Tiến-sĩ Phan-Thanh-Bình, chúng tôi cảm thấy mình đang nhận được một món quà tinh-thần quý-giá. Mục-sư dùng lời lẽ giản-dị, gần-gũi; cách nói thân-mật, đôi lúc hài-hước, dẫn-giải bằng những bài thơ làm sáng tỏ thêm vấn-đề.

Thính-giả Tiếng Nước Tôi, đủ mọi lứa tuổi, lắng nghe rất thích-thú và gọi điện-thoại đóng góp ý-kiến ngay trên làn sóng. Đa số quý vị bày-tỏ sự đồng ý, thông-cảm với diễn-giả. Cũng có vài vị nêu lên ý-kiến trái-ngược. Tất cả đều được Mục-sư giải-đáp, phân-tích, thậm-chí Mục-sư còn khuyến-khích thính giả gọi điện-thoại riêng cho Mục-sư để Mục-sư có thì-giờ chia-xẻ thêm.

Bằng tất cả tấm lòng kính-mến và ngưỡng-mộ, chúng tôi xin cảm-ơn Mục-sư Tiến-sĩ Phan-Thanh-Bình đã dày công soạn-thảo các bài giảng cho chủ-đề “Trường Đời” đã được phát thanh trên làn sóng Radio Tiếng Nước Tôi, và xin trân-trọng giới-thiệu đến quý vị độc-giả và thính-giả khắp nơi quyển sách mang tựa-đề “Trường Đời”. Ước-mong quyển sách này sẽ có mặt trong tủ sách gia-đình của quý đồng-hương Việt-Nam trên toàn thế-giới.

Trân-trọng,

Mỹ-Thanh
Xướng ngôn viên Tổng Đài Tiếng Nước Tôi.

Lời Nhập

TRƯỜNG LỚP – TRƯỜNG ĐỜI

Thứ Bảy, ngày 8 tháng 1 năm 2017 là ngày đầu năm Đinh Dậu. Theo phong-tục Việt, tôi quyết định đầu năm phải làm một cái gì. Tôi không biết làm thơ, nhưng cũng ráng làm vài câu “khai bút” ở tuổi 82:

Bước vào năm Con Gà
Xét thân-phận Bình già
Tự cho mình là gà
Được con nuôi gà trống
Nhờ Chúa thêm sức gáy.

Đầu năm quyết định “còn nước, còn tát”, nên dự-định viết cuốn Trường Đời. Nhớ câu ca-dao:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc-lẻo gập ghình khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời.

Tôi đổi  câu dưới cho rõ nghĩa hai “trường”:

Con tới trường lớp, mẹ qua trường đời.

Trường lớp có địa-chỉ, trường đời không có địa chỉ nên vào trường đời do nhận thức.

Vào “trường lớp” chúng ta học tùy theo trình-độ và ưa-thích. Các môn học phổ-thông đại-khái như:

Chính-trị học – Politics
Cơ-thể học – Anatomy
Dược học – Pharmacology
Dược thảo học – Herbology
Địa-dư học – Geography
Địa chất học – Geology
Hóa-học – Chemistry
Huyền-bí học – Occultism
Khảo-cổ học – Archeology
Khoa-học – Science
Không-gian học – Astronomy
Luật học – Jurisprudence
Môi-trường học – Environment
Nhân-sinh học – Anthropology
Tâm-lý học – Psychology
Thần học – Theology
Toán học – Math
Triết học – Philosophy
Văn học – Literary
Vật-lý học – Physics
Vi-trùng học – Microbiology
Vũ-trụ học – Cosmography
Y học – Medicine.

Tại “trường lớp” học nhiều là “đầy” trí-thức. Nơi “trường đời” học nhiều là “đầy” kinh-nghiệm.

Vô “trường đời” dường như môn học căn-bản là “học làm người”. Tại sao đã là “người” mà còn phải “học làm người”?

Thi-sĩ Mẫn-Châu Nguyễn-Mạnh-Bồng bắt-chước Tú-Xương “Chúc Nhau” trong ngày đầu năm:

Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua, quan, sĩ, thứ người trong nước
Sao được cho ra cái giống người.

Có người thấy đời người quá khốn-khổ nên chẳng còn muốn làm người, mà muốn “Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Nhạc-sĩ Vĩnh-Điện, chứng kiến thảm-trạng tết Mậu-Thân ở Huế mà chính nhạc sĩ cũng lãnh thảm-trạng đó, thế mà Tôi Chỉ Muốn Làm Người được sáng tác ngay sau đó và bài hát đã nổi tiếng một thời.

Ở hải-ngoại, trung tâm Thúy-Nga có một show TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT-NAM, hãnh-diện trình-bày sự thành-công của người Việt nơi xứ người.

Những người được cứu-chuộc bởi tin-nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, hãnh-diện xưng mình là NGƯỜI CƠ-ĐỐC – CHRISTIAN.

Suy-tư về con người, con người có nhiều điều cao-trọng trong “tính người” – “nhân cách” để xứng đáng danh-phận “con người”.

Thuở xa-xưa, một số nhà  văn, nhà giáo đã đề xướng một loại sách “Học Làm Người” cho “Trường Đời”: Đắc Nhân Tâm, Người Lịch-Sự, Huấn-Luyện Tình-Cảm, Cái Dũng Của Thánh Nhân, Óc Sáng-Suốt, Bảy Bước Đến Thành-Công, Người Con Trai Nên Biết, Muốn Nên Người, Vợ Chồng, Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống,  Thuật Tư-Tưởng, Nghệ-Thuật Nói Trước Công-Chúng, Một Nghệ-Thuật Sống. Thuật Xử Thế Của Người Xưa, Túi Khôn Của Loài Người, Ái-Tình Và Hôn-Nhân, Đức Tự Chủ, Ngón Thần Để Luyện Tâm, Tinh-Thần Tháo-Vác, Biết Làm Việc, Thành-Công Và Xử Thế, Tâm-Lý Ái-Tình, Sống Đơn-Giản, Tình Bằng-Hữu v.v.

Tôi còn nhớ tác-giả hay dịch-giả là Nguyễn-Hiến-Lê, Phạm-Cao-Tùng, Nguyễn-Duy-Cần, Trần-Thiệu-Nam, Phạm-Quỳnh, Hoàng-Thu-Đông.

Ngày nay loại sách “Học Làm Người” có cả chục ngàn cuốn trong thư-viện. Tủ sách tôi có gần trăm cuốn loại sách này giúp “tự học” ở “trường đời” để “nên người”.

Tiếng Việt mình hay, nội chữ “người” thôi, được xử-dụng rất đa-dạng và hàm-xúc nhiều ý-nghĩa. “Người” được xưng như một loại từ để chỉ một hạng người: Người cha, người mẹ, người chồng, người vợ, người con, người chủ, người thợ, người lính, người quân-tử, người bần cùng, người đau-khổ, người sung-sướng, người bạn và cả người … tình.

Trong bài thơ Thương Người của Nguyễn-Trãi, chữ “người” để chỉ hạng “người” đáng thương và chữ “người” ở câu kết để chỉ đồng loại.

Thương người tất-tả ngược xuôi,
Thương người lỡ bước, thương người bơ-vơ
Thương người ôm dắt trẻ thơ,
Thương người tuổi-tác, già-nua, bần-hàn.
Thương người cô-quả, cô-đơn,
Thương người đói rách lầm than bên đường.
Thấy ai đói rách thì thương,
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Thương người như thể thương thân

Đói rách, bần-cùng vẫn là “người”. Nhưng “người” mà thiếu nhân cách, thiếu bổn-phận, trách-nhiệm thì tiếng “người” được bảo-vệ. Thay vào tiếng “người” để chỉ hạng “người” này thì khá nhiều. “Đồ” bất hiếu, “đứa” phản-nghịch, “bọn” lừa đảo, “phường” dối-trá, “tên” trộm cướp, “quân” lưu-manh, “thằng” mất dạy, “con” lăng-loàn, “kẻ” điếm-đàng.

Muốn tôn-kính ai, đề cao ai, cứ gọi người đó là “người” cách trịnh-trọng là đủ. Ở Việt-Nam, sau 30 tháng 4 năm 1975 có “thành phố mang tên Người”. Tiểu-sử “Người” có “Hai Mươi Năm Người Lê Gót Nơi Xứ Người”. Rồi đến một ngày, “Người” lìa trần, “Người” không được “mồ yên mả đẹp” mà phải “phơi thây” để toàn dân “chiêm-ngưỡng”, nhớ đến công ơn “Người”, tưởng-niệm “Người”. Nhưng biết bao “người” tưởng-niệm “Người” với lòng thù-oán “Người” và rủa-sả “Người”.

Anh-hùng Nguyễn-Thái-Học, đại sự chưa thành đã phải lên đoạn đầu đài đền nợ nước. Trước khi bị hành-hình, anh-hùng Nguyễn-Thái-Học tuyên-bố:

  • Không thành công, cũng thành nhân.

Có người cho “thành nhân” là “thành người” – “nên người”. Nhưng có người suy-diễn “thành nhân” không phải là “thành người” mà là “thành nhân-tố”. Nguyễn-Thái-Học “không thành-công” trong ước-muốn của mình và phải chết, chính cái chết của mình “thành nhân-tố” khiến nhiều người đứng lên tiếp-nối công-trình để “thành-công”.

“Thành nhân” theo luật-pháp quy-định – người 18 tuổi được kể là “thành nhân”.

“Thành nhân” theo luật đạo-đức quy-định – bào thai trong bụng mẹ đã “thành nhân”, nên phá thai là giết “người”.

Chúng ta là “người”, ai gọi chúng ta là ”đồ khỉ”, chắc chúng ta không vui. Ngay cả những người tin vào thuyết tiến-hóa của Darwin cũng không hài lòng khi bị đồng-loại xếp mình vào hàng “tổ-tiên của loài người”.

Tại sao chúng ta có tâm-trạng nhận-thức chưa đạt đến danh phận “người” đúng mức. Cái cảm-nghĩ về con người của chúng ta giống như một người ăn phải trái cam úng, quả cam đã bị hư. Nơi lưỡi ta còn một chút ngọt của cam, nhưng không phải là chất ngọt tinh-ròng của cam. Mùi thơm của cam vẫn còn đó, nhưng phản-phất mùi thum-thủm không phải của cam. Dầu người sành ăn đến đâu cũng không thể tìm được cái vị chính-xác của một trái cam nguyên-vẹn qua trái cam bị hư. Chỉ có thể kết-luận: Đây là vị của cam, nhưng là vị của trái cam hư. Thực vị của cam không phải là như vậy.

Chúng ta là người, nhưng không phải là người trọn-vẹn, song là con người hư-hỏng. Cái gì làm cho con người hư-hỏng? Kinh-Thánh định rõ đó là “tội-lỗi”, và “mọi người đều đã phạm tội” (Rô-ma 3:23). Kinh-Thánh cho chúng ta biết tình-trạng con người như vầy: “Họ đầy-dẫy mọi sự không công-chính, độc-ác, tham-lam, hung-dữ, chan-chứa những điều ghen-ghét, giết người, cãi-lẫy, dối-trá, giận-dữ, hay mách, gièm-chê, chẳng tin-kính, xấc-xược, kiêu-ngạo, khoe-khoang về sự làm dữ, không vâng-lời cha-mẹ; dại-dột, trái lời giao-ước, không có tình-nghĩa tự nhiên, không có lòng thương-xót” (Rô-ma 3:28-31). Kinh-Thánh trong thư Ga-la-ti 5:19-21 nói đến những điều con người ưa-thích gồm có 15 điều mà tôi phân-tích như sau:

3 điều “vui-thỏa” tác-hại bản thân, ấy là: “gian dâm, ô-uế, luông-tuồng”.

2 điều “mê-tin” tác-hại đời linh, ấy là: “thờ hình-tượng, phù-phép”.

8 điều “khốn-khổ” tác-hại cho mình và cho người, ấy là: “thù-oán, tranh-đấu, ghen-ghét, buồn-giận, cãi-lẫy, bất-bình, bè-đảng, ganh-gổ”.

2 điều “thích-thú” tác-hại nhân-cách, ấy là: “say-sưa, mê ăn-uống”.

Bởi tội-lỗi trong con người mà con người được kể là “tội nhân”. Kinh-Thánh khẳng-định về Cứu Chúa Jêsus như vầy: “Đức Chúa Jêsus-Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt người có tội, ấy là lời chắc-chắn, đáng đem lòng tin trọn-vẹn mà nhận lấy” (I Ti-mô-thê 1:15).

Không một ai trong chúng ta phủ-nhận địa-vị, danh phận “người” của mình. Nhưng là loại “người” không trọn-vẹn – “nhân vô thập toàn” là vậy.

Chúng ta có thể tìm được trái cam nguyên-vẹn để biết chắc hương-vị tinh-ròng của cam. Nhưng chúng ta không thể tìm ra một “người trọn-vẹn” để làm chuẩn, hầu nhận ra cái “bất toàn” trong con người chúng ta. Thế mà chúng ta vẫn nhận ra con người chúng ta chưa đúng chuẩn con người chúng ta mong ước.

Cái chuẩn con người mong-ước cho có vẻ cao-thượng là “Chân, Thiện, Mỹ”. “Chân” là sống chân-thật, “Thiện” là sống lương-thiện. “Mỹ” là sống đẹp. “Chân, Thiện, Mỹ” cho mình và cho người.

Bước “qua trường đời” môn học “làm người” phải khởi đầu tập-dượt trong đời sống: Chân, Thiện, Mỹ. Không dễ. Nên nhiều người không chịu vào “trường đời”, vô-tư “trôi theo dòng đời”, bình thản “thời phải thế, thế thời phải thế”. Nhưng cũng có lắm người nghiệt-ngã bị “dòng đời cuốn đi”, thôi đành “nhắm mắt xuôi tay”.

Mong rằng Quý Vị thử bơi “ngược dòng” và vào “trường đời”.

Trường Đời khó quá, Mỹ gọi là School Of Hard Knocks.

Trường đời giúp ta học hỏi ít nhất là 5 điều:

* Lối sống thực-dụng của một xã-hội sinh động.

* Biết áp-dụng cả luật-pháp lẫn luật đời.

* Biết sòng-phẳng khi đối xử.

* Thẳng-thắng, khéo léo khi giao-tiếp.

* Nhứt là khi bị phê-bình, chê-bai chẳng buồn-giận.

Không biết bao giờ mới có thể hoàn-tất cuốn sách này. Nhưng đang ở trong mùa Xuân nên cảm thấy “sức sống” còn mạnh theo nhận-định của mình.

Ở tuổi Ất-Hợi thì mới có 82, “sức sống” không đủ sức đến “trường lớp”. Tôi đã rời “trường lớp” năm 66 tuổi, nhưng chắc còn sức để ở “trường đời”.

Tôi vào “trường lớp” năm lên 6 và ra khỏi “trường lớp” năm 66. 60 năm “trường lớp” mới lãnh được băng “Tiến-Sĩ”, trong khi hầu hết “bằng” này những người  nửa số tuổi tôi đã “nắm” trong tay.

Tôi vào “trường lớp” có thời để “học”, có thời để “dạy”.

Tôi vào “trường đời” năm 12 tuổi đến nay vẫn “học”, chưa dám làm “thầy đời”.

Vào “trường lớp” nghe lời thầy dạy.

Vào “trường đời” chớ nghe “thầy đời” dạy.

Vào “trường lớp” ngồi.

Vào “trường đời” đi và đi trên “đường đời”. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là vậy. Đặc-điểm của “đường-đời” là:

Đường đời trắc-trở chông gai. “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh-hùng hào-kiệt có hơn ai”, hay “có mấy ai”.

Những người học “Trường lớp” có “máu” viết, nên các sách về môn-học của mình được hình-thành để giúp những người đang học “trường lớp” có cơ hiểu thêm về môn học của mình cách rộng-rãi và thêm chất-lượng.

Loại sách này tiểu-sử Tác-giả hơi dài, “trường lớp” được liệt-kê, bằng-cấp từ thấp lên cao được kê-khai. Cuối cuốn sách có những trang cho biết tác-giả đã tham-khảo các sách nào để chứng-minh “nói có sách”. Chưa đủ cho người lưu-tâm đến sách của mình. Đầu sách phải có vài người danh tiếng giới-thiệu. Tôi được tác-giả tặng cho cuốn sách. Đầu sách có đến 9 vị viết lời giới-thiệu về cuốn sách, trong số 9 vị có 3 vị có bằng Tiến-Sĩ. Đọc được vài chục trang, tôi gọi mấy người bạn có bằng Tiến-sĩ, khen lời giới-thiệu quá hay, qua lời giới-thiệu thì sách này nên đọc. Quý vị này nghe tôi “khen” thì cảm-ơn. Nhưng khi tôi xin Quý Vị này cho biết có đọc kỹ cuốn sách này trước khi viết lời giới-thiệu không. Thì cả ba trả lời, đâu có thì giờ đọc, cả ba vị chỉ “xem qua” và viết lời giới-thiệu theo “yêu cầu”.

Nhà văn Hoàng-ngọc-Yến trong bài: Đọc Văn-Học Hải Ngoại. Ông viết: “Có lần gặp nhà văn Tô-Hoài, ông đưa tôi xem một cuốn sách và nói: Tôi mới mượn được cuốn tiểu-thuyết này, lời giới-thiệu rất hay. Lần sau gặp lại, ông nói với tôi: Hóa ra người viết giới-thiệu chưa đọc tác-phẩm”.

Nhớ hơn 20 năm về trước, tôi ngồi trong “trường lớp”, mỗi môn học, sinh-viên phải đọc ít nhất từ hai đến năm cuốn sách do giáo-sư chỉ định. Có lần tôi đọc cuốn sách giáo-sư chỉ định. Mới đọc hơn nửa cuốn là thấy một số điều lý-luận không vững-chắc. Vào lớp, tôi hỏi giáo-sư:

– Thưa Giáo-sư, Giáo-sư đã đọc cuốn sách này chưa? Vị Giáo-sư trả-lời:

– Đây là một tác-giả đáng tin-cậy. Tại sao anh lại hỏi tôi, đã đọc cuốn sách này chưa? Tôi trả-lời:

– Nếu Giáo-sư đã đọc sách này, tôi nghĩ Giáo-sư sẽ không bảo chúng tôi phải đọc. Vị Giáo-sư nói:

– Sau giờ học, mời anh vào văn-phòng tôi. Và tôi đã vào văn-phòng, chỉ những chỗ lý-luận sai lầm khác hẳn với cách Giáo-sư dạy. Giờ học sau đó, Giáo sư tuyên-bố: Khỏi đọc sách đó. (Ở Việt-Nam mà sinh-viên nói với Giáo-sư kiểu này chắc “từ bị thương đến chết”). Người xưa nói: Đọc sách mà tin hết mọi điều sách nói thì đừng nên đọc.

Những người học “trường đời” xuất-sắc thường không làm “thầy đời”, song có “máu” viết, nên nhiều cuốn sách được hình-thành nói lên điều mình “học” được, để ai muốn “học” như mình thì “đọc”.

Hầu hết những người xuất-xắc “trường đời” đều được trau-dồi trong “trường lớp” nhiều năm và có bằng-cấp chứng-tỏ “trí-thức” của mình.

Hầu hết những người xuất-xắc “trường-đời” đều biết tận-dụng “trí-thức” của mình để đạt đến “tri-thức”. Giúp ích cho đời phần đông là người “tri-thức”.

Tôi đọc cuốn sách của một tác-giả lừng danh chẳng thấy Dr. trước tên ông hay Ph. D. sau tên ông, dầu ông đã có những bằng cấp đó. Ông học “Trường đời” và viết thành sách. Trang sách đầu ông ghi ơn những người đã dạy ông trong “trường đời” qua lời tặng như sau:

Cuốn sách này xin dành tặng người tôi luôn cảm-phục;

Tặng người bạn đã dành cho tôi những tình-cảm nồng-ấm;

Tặng người cố-vấn thông-thái đã khéo-léo hướng-dẫn tôi;

Tặng người đã khích-lệ tôi bằng những lời nói đầy cảm-hứng;

Tặng người lãnh-đạo tôi yêu quý và học-hỏi … đó là cha tôi.

Vào “trường đời” cứ người nào mình “cảm-phục”, người đó là “thầy” mình, song không cần “bái sư”.

Tác-giả cuốn sách này không nêu tên ai mà chỉ nói chung “người”. Riêng người lãnh-đạo được xác-định là “Cha”. Tác-giả đã chia ra bốn hạng người trong “trường đời” liên-hệ đến tác-giả:

Người bạn

Người cố-vấn

Người khích-lệ

Người lãnh-đạo.

Tôi nghĩ chúng ta đều cần 4 “người” này trong “trường đời”.

MỤC-LỤC

Lời dẫn                                        Mỹ-Thanh      
Lời Nhập      Trường Lớp & Trường Đời     

 I. Bạn Đời
* Người Bạn                                    
* Người Cố-vấn                              
* Người Khích-lệ                           
* Người Lãnh-đạo                         

II. Ơn Đi
*  Cảm ơn & Tạ-ơn                         
*  Tri ân                                            
*  Ghi ơn                                           
*  Làm ơn                                         

III. Dòng Đi
* Khốn-khổ                                     
* Thăng-trầm                                 
* Bất an                                             

IV. Sống Đời
* Khôn-ngoan nhưng đừng ngoan-cố
* Khiêm-nhu nhưng đừng nhu-nhược
* Kiên-trì nhưng đừng trì-trệ   
* Khước-từ nhưng đừng từ-chối

V. Thói đời
* Dối-trá                                        
* Dụ-dỗ                                            
* Đổ-thừa                                        
* Ganh-tị                                         
* Tự ái                                             

VI. Đã đời
* Yêu-thương                                 
* Vui-mừng                                    
* Hãnh-diện                                  
* Thỏa-lòng                                   

VII.  Cuối đời
* Lo-lắng                                         
* Lo-liệu                                           
* Lo toan                                          

Tâm-tình 
        Để Đời

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

  

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top