Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Thói Đời – Dối Trá

Mục sư Phan Thanh Bình: Thói Đời – Dối Trá

DỐI-TRÁ

Thói đời là thói quen ở đời. Thói đời là chẳng đề cập đến thói tốt, mà chỉ toàn thói xấu, thói xấu ăn sâu vào tâm não chúng ta đến độ thành “thói quen”.

Trá đồng nghĩa tráo – đổi giả thành thật. Tiếng Việt mình hay “thế-gian” nói lên người trần thế gian-dối. Gian-dối là đặc tánh của người trần-thế. Gian-dối là không thật-thà, dối-trá là giả-dối, lừa lọc.

Nhạc-sĩ Trúc-Phương đã viết bài ca Thói Đời khá nổi tiếng. Lời ca như sau:  

Đường thương đau đày ải nhân gian
ai chưa qua chưa phải là người. 
Trông thói đời cười ra nước mắt. 
Xưa trắng tay gọi tên bằng hữu. 
Giờ giàu sang quên kẻ tâm giao 
còn gian dối cho nhau. 

Người yêu ta rồi cũng xa ta 
nên chung thân ta giận cuộc đời.
Đôi mắt nào từng đêm buốt giá
bên chiếu chăn tình xa nhịp thở.
Tiền đổi tay khi rũ cơn mê 
để chua xót trên bước về. 

Rượu trần ai gội niềm cay đắng. 
Những suy tư in đậm đường hằn. 
Mình còn ai đâu để vui 
khi trót sa vũng lầy nhân thế. 
Cỏ ưu tư muộn phiền lên xám môi. 
Bạn quên ta, tình cũng quên ta 
nên chân đêm thui thủi một mình.
Soi bóng đời bằng gương vỡ nát.
Nghe xót xa ngùi lên tròng mắt. 
Đoạn buồn xa ta đã đi qua.
Ngày vui tới ta vẫn chờ.

 Dối-trá thể-hiện trong lời nói nhiều nhất vì dễ-dàng, dối-trá trong hành-động khó hơn vì đặc-thù kịch tính. Dối-trá không ai chấp-nhận, nên muốn người ta chấp-nhận phải “học”, phải “nghiêng-cứu”, phải “kế-hoạch” mới thành-công.

Lời dối-trá thiên-hình vạn trạng. Ngay trong lời nói, các nhà nghiên-cứu cho biết 41% lời “dối-trá” chỉ cốt che-đậy sự sai-trái của mình.

Một chàng ra khỏi sở, gặp ngay người bạn thân rủ nhau vào quán ăn-uống và tâm-sự. Bụng no, trễ giờ, vừa về đến nhà, thấy bữa cơm chiều đã dọn ra, người vợ chưa kịp hỏi lý-do về trễ, chàng đã mặt mày nhăn-nhó:

– Cho anh đi nằm một chút, vừa tan sở, tự-nhiên nổi cơn đau bụng lại muốn đi cầu, đi hai ba lần vẫn chưa hết đau, phải chờ bớt đau một chút mới dám lái xe về (thời đó chưa có điện thoại thông-minh tiện dụng như bây giờ). Rồi chàng đi thẳng vào phòng nằm nghỉ. Người vợ khép cửa phòng bước ra, chàng mỉm cười, tự phục sự “dối-trá” của mình.

Những người “dối-trá” có niềm tự-tin vững mạnh, tư-hào về thông-mình và lanh-lợi. Càng qua mặt được nhiều người, càng lừa dối được số đông, càng chứng-tỏ bản-lãnh “dôi-trá” của mình. Có người đã nói: Mỗi người là một kịch-sĩ, người “dối-trá” giỏi là kịch-sĩ đại tài.

Các nhà tâm-lý học rất quan-tâm đến sự “dối-trá”, và nhận ra: “Dối-trá để sinh-tồn và cần dối-trá để thành-công” ở thời đại này. “Dối-trá” đã trở nên thành-phần của cuộc sống. Không biết các dân-tộc khác có tinh mắt bằng dân-tộc Việt mình để nhìn thấy sự “dối-trá” đầy-dẫy trên đất nước có hơn 4 ngàn năm văn-hiến. Bởi sự nhận biết này mà dân-gian có lời:

Dối thiên dối địa dối vô cùng
Dối giấy dối tờ dối tứ tung
Dối từ đất Âu sang đất Á
Dối từ xuân hạ đến thu đông
Dối mãi dối hoài không hết dối
Dối thiên dối địa dối vô cùng.

“Dối-trá” có từ xưa, và “dối-trá” đi vào văn học.

Ông Đinh-nhật-Thận, hiệu Bạc-Mao-Am, sinh năm 1815 và mất năm 1860, người làng Thanh-Liên, huyện Thanh-Chương, tỉnh Nghệ-An, thi đỗ Đinh-Nguyên khoa Mậu-Tuất, năm Minh-Mạng thứ 19, tức năm 1838. Ông được bổ làm quan ít lâu thì chán cảnh hoạn-trường, cáo quan về sống nghề dạy học và bốc thuốc.

Ông Đinh-Nhật-Thận là bạn thân của nhà thơ “ngông” Cao-Bá-Quát. Vì thế, đến đời vua Tự-Đức ông bị bắt giải về kinh vì bị tình-nghi nhúng tay vào vụ Cao-Bá-Quát khởi loạn. Nhưng vì không có bằng chứng, nên ông được tha. Vua Tự-Đức mến tài ông nên giữ ông ở lại kinh-đô để dạy học cho các tôn thất.

Khi ở kinh-thành, ông và các đại thần được theo ngự thuyền ngoạn cảnh trên sông Hương. Nhân lúc vua và các quan đàm luận về đạo-đức thánh-hiền, ông nhắc đến câu: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” – Vua khiến tôi chết, tôi không chết không trung, cha khiến con chết, con không chết không hiếu, và cho đó là một câu chí-lý, mọi người cần phải theo.

Nghe ông nói vậy, vua Tự-Đức phán:

– Thế bây giờ trẫm truyền cho khanh nhẩy xuống sông này mà chết đi, khanh có làm không?

Nghe nhà vua phán, ai nấy đều lo cho số phận của ông Thận, vì không nhảy xuống sống thì mang tội bất trung, còn nhảy thì chết một cách oan-uổng. Thế nhưng ông vẫn bình-tĩnh, lạy tạ nhà vua, rồi lao xuống sông Hương. Dòng nước bắn tung-tóe, mọi người đều nghĩ đây là nơi an-nghỉ ngàn thu của ông. Thế là kết-liễu một đời tài-hoa không tội-lỗi.

Nhưng chỉ trong giây lát, ông Thận ngoi đầu lên bơi đến bám vào ngự thuyền. Vua Tự-Đức thấy vậy bèn hỏi:

– Sao không ở dưới đó mà chết đi, lại còn trở lên đây? Ông đáp:

– Thần định ở, nhưng vừa xuống tới đáy sông thì gặp ông Khuất-Nguyên, ông ấy đuổi thần lên và mắng thần bằng hai câu thơ như vầy:

Ngã phùng ám chúa hàm oan nhẫn
Nhữ ngộ minh quân nịch tử hà?

– Ta gặp vua ngu, mà chịu chết oan đã đành. Còn ngươi, gặp vị vua sáng-suốt cớ sao phải chết đuối? Thần nghe ông ấy mắng đúng lắm nên phải lên đây tâu bệ-hạ rõ.

Vua Tự-Đức nghe qua cả cười, sai thị-vệ kéo ông lên ngự thuyền, lấy quần áo cho thay, rồi đích thân ban cho chén rượu để khen-thưởng. Thưởng cho cái tài ứng-phó mẫn-thiệp, mặc dầu biết đó là câu chuyện bịa đặt, tức   “dối-trá”..

“Dối-trá” mà nhà vua phải khen, các quan phải phục, và người đời sau ca-tụng mãi. “Dối-trá” đó không làm hại ai, trái lại còn tô-điểm kho-tàng văn-học thêm phong-phú. Ở đời, mấy ai “dối-trá” có nghệ-thuật để thiên-hạ biết mình “dối-trá” mà vẫn nghe, vẫn phục, vẫn có thiện-cảm.

“Dối-trá” kiểu Đinh-nhật-Thận nhiều lắm, nhưng không đủ hay để đi vào văn học.

Bởi nhu-cầu “dối-trá” mà sự thật không còn cần-thiết. Người ta sợ sự thật vì “nói thật mất lòng” và “sự thật phủ-phàng” là vậy.

Chúng ta chẳng bao giờ bỏ công-sức đi tìm “sự thật” nơi người thân yêu. Nhưng chúng ta luôn chứng-tỏ sự phi-thường và can-đảm của mình khi tìm ra “sự thật phủ-phàng” nơi người mình không ưa hay thù-nghịch. Những người này rất tự hào, coi mình như thánh-thần khó ai lừa dối nổi, khó ai “qua mắt” thánh.

Những người thuộc hạng: người của quần chúng, người nổi tiếng, người tài-ba, người được tôn-vinh luôn bị hạ xuống bởi  “sự thật phủ-phàng” được khám-phá.

Nhưng có những “sự thật phủ-phàng” chúng ta không thể tin. Tôi xin đơn cử “sự thật phủ-phàng” của bà Trần-Lệ-Xuân, vợ của Ngô-Đình-Nhu là “Đệ Nhất Phu Nhân” của thời Đệ Nhất Cộng Hòa Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm.

Nhà văn Hoàng-Trọng-Miên đã được Giải Thưởng Văn Học Toàn Quốc do Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm tặng. Thế mà năm 1967 “học giả” Hoàng-Trọng-Miên viết truyện Đệ Nhất Phu Nhân đăng trên nhật báo Quyết Tiến. Sau năm 1975, những bài viết này được in thành sách do nhà xuất bản Đại-Nam phát-hành. Trong cuốn sách này, Hoàng-Trọng-Miên đã mô-tả bà Trần-Lệ-Xuân, phu-nhân của Cố-vấn Chính-Phủ Ngô-Đình-Nhu như một con đĩ rẻ tiền, làm tình với những vị “cao cấp” trong chính quyền như: Tướng Nguyễn-văn-Hinh, đại tá Nguyễn-văn-Trí, đại tá Trần-văn-Đôn, thủ-hiến Trung Phần Phan-văn-Giáo, với cả đại-sứ Mỹ Nolting, và cả với cựu hoàng Bảo-Đại ở Đà-Lạt.

Nhiều nhà văn đọc cuốn sách này đã gọi Hoàng-Trọng-Miên là “học dẻ” hay “học dở” viết cách “Dối-trá” để bôi bẩn Đệ Nhật Cộng Hòa của Tổng-Thống Ngô-Đình-Điệm.

“Dối-trá để sinh-tồn và cần dối-trá để thành-công” ở thời đại này, các nhà tâm-lý học chia “dói-trá” ba cấp:

  1. Dối-trá (lie), không ngay-thật (false), lừa gạt (deceit) là Bản tánh tự-nhiên

Người Việt chúng ta chỉ có một người “dối-trá” nổi danh, đó là thằng cuội – “dối như cuội”. 

Kinh-Thánh khẳng-định: “Lòng người ta là dối-trá (deceitful) hơn mọi vật, và rất là xấu-xa: ai có thể biết được” (Giê-rê-mi 17:9). Chúa Jêsus cũng xác-định: “Lòng người ta là dối-trá” như vầy: “Tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm-dục, trộm-cướp, giết người, tà-dâm, tham-lam, hung-ác, gian-dối, hoang-đàn, con mắt ganh-gổ, lộng ngôn, kiêu-ngạo, điên-cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ-dáy người” (Mác 7:21-23).

Bởi cớ đó, “dối-trá” là bản-tánh tự-nhiên của con người, nhưng lại được liệt vào bản-tánh “xấu”, “làm cho dơ-dáy người” nên phải dùng “dối-trá” để che-đậy “dơ-dáy” của mình và dùng “dối-trá” để làm “dơ-dáy” người mình không ưa hay thù-ghét. Nhưng “ai có thể biết được”. Người ta chỉ có thể biết được khi “cháy nhà lòi mặt chuột” hay “ngủ trong chăn mới biết chăn có rận”, hoặc chờ “kim trong bọc lâu ngày lòi ra”.

Có người “dối-trá” lâu ngày đâm chán con người “dối-trá” của mình, nên bình-tâm tìm lại con người thật của mình xem sao. Nhà thơ Tô-thùy-Yên nhìn mình:

Ta nhìn ta lạ-lùng thay,
Tả-tơi, đâu chỉ hình-hài thấy đây.

Chúng ta đôi khi cũng tự hỏi: Tôi là ai đây? Who am I? Ai đây phải tìm cho ra.

Nhà thơ Tô-thùy-Yên muốn biết rõ chính mình:

Lục lại thời-gian kiếm chính mình.

Thi-nhân Mai-tất-Đắc cũng vướng-mắc tâm-trạng:

Rồi tôi cứ mãi tìm tôi,
Rồi tôi vẫn mãi con mồi tôi săn.

Phao-lô là một học-giả, một nhà đạo-đức, là một người quyền-thế trong xã-hội, thế mà nhận ra con người thật của mình như vầy: “Đức Chúa Jêsus-Christ đã đến trong thế-gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc-chắn, đáng đem lòng tin trọn-vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó, ta là đầu” (I Ti-mô-thê 1:15). Nhiều người đã nhận ra con người thật của mình như Phao-lô, trong đó có tôi, nên đã tin nhận Chúa Jêsus để được “cứu”.

“Dối-trá” làm hại người thì nhan-nhản, hạng cao-cấp như “học dẻ” Hoàng-trọng-Miên cũng không hiếm.

Chẳng ai tránh được “dối-trá”, nhưng chỉ nên “dối-trá” không hại ai, mà còn làm vui lòng người mình “dối-trá”. Theo tâm-lý học loại “dối-trá” này được gọi là “dối trắng”.

  1. Dối-trá trắng (white lie)

Vào khoảng 14% lời nói “dối trắng” (white lie) vô hại, chì vì tế-nhị trong xã-giao. Hai bà gặp nhau, khen nhau “vẫn trẻ đẹp như … xưa”, là cả hai cùng cười thoải-mái.

Vào khoảng 45% lời nói “dối trắng” là khoe-khoang, khoác-lác để người ta nể-phục, tiếng thời-đại ngày nay là “nổ”, hay thêu-dệt một vài vấn-đề cho hấp-dẫn, hoặc tạo thêm giá-trị nào đó cho mình như lời Kinh-Thánh khẳng-định: “Tài vật nhờ dùng lưỡi dối-gạt mà được” (Châm-ngôn 21:6).

Còn lại 42% là dối-trá qua hành-động khi giao-tiếp. Hành động “dối-trá” nhiều nhất là cười. Có đến vài chục cách cười, nhưng người ta cười “dối-trá” (smirk) nhiều hơn hết.

Lạ một điều, “dối-trá” lại bành-trướng mạnh-mẽ trong lãnh-vực tình yêu. Bước vào tình yêu, người ta tự dối mình trước hết. Phải biết “bối-rối” trước người đẹp, phải biết e-ấp, thẹn-thùng trước ánh mắt của ai đó đang dõi mắt nhìn theo. Nôn-nóng gặp mặt người yêu vẫn cố-tình nhởn-nhơ trễ năm mười phút cho chàng thẫn-thờ ngóng trông. Thẫn-thờ ngóng chờ lại lẩm-nhẩm: “Em cứ hẹn song em đừng đến nhé”. “Trong héo ngoài tươi” cũng là “dối” đấy. Vì “dối-trá” trong tình yêu, nên thời yêu-đương rất nên thơ, rất tốt-đẹp. Vì cớ đó mà “tình chỉ đẹp khi còn dang-dở”. Lấy nhau rồi, hết còn màu-mè mà chỉ còn “thực chất phủ-phàng”.

Bước vào đời sống gia-đình, vợ chồng chỉ mong thành-thật với nhau, nhưng dễ gì. Vợ chồng chấp nhận “dối trắng” và không cần “đóng kịch” đã là hạnh-phúc lắm rồi.

“Dối trắng” là “lịch-sự” với nhau đúng cách.

Thi-sĩ Nguyễn-Bình “dối trắng” trong tình vợ chồng nên thơ

Thoi Tơ

Em lo gì trời gió
Em sợ gì trời mưa
Em buồn gì mùa hạ
Em tiếc gì mùa thu.
Em cứ yêu đời đi
Yêu đời như thuở nhỏ
Rồi để anh làm thơ
Và để em dệt lụa.
Lụa dệt xong may áo
Áo anh và áo em
May áo nếu lụa thiếu
Xe tơ em dệt thêm.
Thơ làm xong anh đọc
Bên anh em lắng nghe
Và để lòng thổn-thức
Theo vần âu-yếm kia.
Mộng đẹp theo ngày tháng
Đi êm-đềm như thơ
Khác nào trên khung cửi
Qua lại chiếc thoi tơ.

“Dối trắng” chẳng làm hại ai, còn đem vui cho người. Nhưng dối cao cấp theo tâm-lý học là dối thông-thái để đạt đến cứu-cánh.

Dối thông-thái (noble lie)

Dối thông-thái phát-triển mạnh trong giới truyền-thông, chánh-trị và tôn-giáo.

Giới truyền-thông loan tin: Tin tốt, tin vui (good news), tin xấu, tin buồn (bad news), tin … tức – trong tiếng Anh không có. Tin thất thiệt (fake news). Tổng-Thống Trump tuyên-bố những tin “bí-mật” về ông được giới truyền-thông phanh-phui đều là tin thất thiệt.

Tôi không nhớ một trường đại học nào đó đã mở khoa “dối-trá” để những người muốn làm chính-trị theo học.

Lãnh-vực tôn-giáo chú tâm đến đạo-đức thì “đạo-đức giả” phát-triển mạnh nhờ những nhà tôn-giáo thông-thái “dối-trá”.

Kinh-Thánh nói đến Hội-Thánh Lao-đi-sê nhờ “dối-trá” mà tự hào: “Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa”. Nhưng thực chất: “song ngươi không biết rằng mình khổ-sở, khốn-khó, nghèo-ngặt, đui-mù, và lõa-lồ” (Khải-huyền 3:17). Trong Cơ-đốc giáo, các mục-sư “dối-trá” không ít. Kinh-Thánh chỉ rõ hạng mục-sư “dối-trá” này như vầy: “Những kẻ đó chẳng hầu việc Đấng Christ, song hầu-việc cái bụng họ, và lấy những lời ngọt-ngào dua-nịnh dỗ-dành lòng người thật-thà” (Rô-ma 16:18).

Thông-thái dối-trá là cả một nghệ-thuật. “Dối-trá” sao để mọi người không thể nhận ra “dối-trá” mà còn tin-tưởng vào “dối-trá” là một sự thật hiển-nhiên. Lắm người đã luyện “dối-trá” đến mức “thông-thái” như vầy: “Miệng nó trơn láng như mỡ sữa, nhưng trong lòng có sự giặc-giã. Các lời nó dịu-dàng hơn dầu, nhưng thật là những thanh gươm trần” (Thi-Thiên 55:21).

Tại sao “dối-trá” đắc thế trong thế-gian. Chúa Jêsus cho chúng ta biết nguyên-nhân thảm-trạng này như vầy: “Các ngươi bởi cha mình, là ma-quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa-muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được chân-lý, vì không có chân-lý trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối” (Giăng 8:44).

Cơ-đốc nhân chân-chính phải làm theo lời Kinh-Thánh dạy: “Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công-việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo ảnh-tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu-biết đầy trọn” (Cô-lô-se 3:9).

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top