Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Mục sư Phan Thanh Bình: Ơn Đời – Cảm Ơn và Tạ Ơn

Mục sư Phan Thanh Bình: Ơn Đời – Cảm Ơn và Tạ Ơn

CẢM ƠN & TẠ-ƠN

Tiếng Việt mình hay, thông-thường dùng tiếng cảm-ơn trong giao-tiếp. Cảm-ơn là “cảm” nhận ra “ơn” nào đó người làm cho mình. Nhưng trong lễ-nghi tưởng nhớ ơn đấng sinh-thành, ơn tổ-quốc, ơn các bậc anh-hùng hào-kiệt cứu nhân độ thế, ơn đấng thiêng-liêng gia ơn phù hộ, ơn sâu nghĩa nặng không thể “cảm-ơn” mà phải “tạ-ơn” vì cảm-nhận ơn quá lớn lao, nặng cả “tạ” chớ nào có nhẹ. Đối với các người đã bỏ mình vì nước, chúng ta không thể Cảm-ơn Anh mà phải Tạ-ơn Anh.

Có bài hát Cảm-ơn Anh, không biết có bài hát nào Cảm-ơn Em?

Trong mọi sinh-vật, chỉ có con người ý-thức về ơn.

Ngày thứ Năm của tuần thứ tư tháng mười 11 hàng năm là ngày lễ Tạ-ơn – Thanksgiving Day ở xứ Mỹ này.

Nguồn-gốc ngày lễ Tạ-Ơn.

Tín-hữu Cơ-đốc giáo thời Nữ-Hoàng Anh Quốc Elizabeth I và vua James I  đã bị bắt-bớ và tàn-sát. Một số bỏ trốn qua Hòa-Lan. Tại đây họ được chứng-kiến những buổi lễ Tạ-ơn của dân Hòa-lan về sự tự-do.  Sau đó, 102 người vượt đại-dương bằng chiếc tàu nhỏ tên là Mayflower tới Massachusettes, rồi từ đó, họ đi qua Plymouth. Họ khai-phá và sinh-sống tại đây bằng săn-bắn và trồng-trọt. Họ gieo những hạt giống mang theo từ Hòa-lan và một số hạt giống của thổ dân để lại. Mùa gặt kết-quả mỹ-mãn. Họ làm một bữa ăn chung với nhau, vui-mừng dâng lên Chúa lời Tạ-Ơn về vật-thực Chúa ban cho. Lễ Tạ-Ơn đầu tiên vào năm 1622.

Một lễ Tạ-Ơn đặc-biệt nữa cử-hành vào năm 1784, không phải Tạ-Ơn về thực-phẩm mà Tạ-Ơn về cuộc chiến-tranh chấm-dứt tại Hoa-Kỳ. Năm 1789 Hoa-Kỳ có 30 Tiểu-Bang. Tổng-Thống George Washington kêu gọi toàn dân hãy làm một lễ Tạ-Ơn vào ngày thứ năm 26 tháng 11 về hòa-bình đã đến trên đất nước, dân-cư được an-lạc. Năm 1827,  bà Hale, chủ-bút tạp-chí Godey’s Lady’s Book đã yêu-cầu chính-quyền đưa ngày lễ Tạ-Ơn lên hàng quốc-lễ. Dân chúng hưởng-ứng lời kêu gọi của bà và Tổng-Tống Abraham Lincoln đã định ngày thứ Năm của tuần thứ tư tháng 11 hàng năm là ngày lễ Ta-Ơn. Lễ bắt đầu từ năm 1863.

Ngày nay dân Hoa-Kỳ dự lễ Tạ-Ơn Chúa không những về thực-phẩm, về hòa-bình mà còn về mọi ơn-phước mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ trong Đức Chúa Jêsus-Chrsit.

Lòng con người biết ơn thật nghèo-nàn. Tệ thì “ăn cháo đái bát”, “vắt chanh bỏ vỏ”. Khá hơn thì quên. Trong thời Chúa Jêsus tại thế, Ngài chữa cho 10 người phung được lành. Chỉ có một người quay lại tạ-ơn Chúa, còn 9 người kia “quên” và đi luôn (Lu-ca 17:11-18).

Chúng ta thường nói “Cảm-ơn” –Thanks hay Thank you khi cảm-nhận ơn người nào đó làm cho mình. Người mở cửa cho mình vào là mình nói “cảm-ơn” với người đó. Mua một món hàng, người bán “cảm-ơn” người mua, người mua “cảm-ơn” người bán. Hay một điều, ai cho mình cái gì, không nhận, cũng “cảm-ơn”. Nghe nói ở Việt-Nam tiếng “cảm-ơn” đã biến mất. Thấy người Việt mở miệng “cảm-ơn” là biết chắc “Việt kiều”.

Ở xứ này, chúng ta “vô-tư” nói “cảm-ơn” không biết bao nhiêu lần mỗi ngày, chẳng cần cảm-nghĩ hay cảm nhận. Chỉ là thói quen.

Hai người cãi nhau hơi lâu, một người muốn chấm dứt, hậm-hực hét: Cảm-ơn, nói vậy đủ rồi, làm ơn im đi.

Hai chàng ra khỏi tiệm ăn, một chàng nói:

– Ông ăn xin ngồi dưới gốc cây kia sẽ cảm-ơn tao và chửi tao ngay. Hai chàng bước tới, chàng nắm tay đưa cho ông ăn xin, nói nhỏ: Giữ lấy, chút nữa vào uống cà-phê. Rồi quay đi. Người ăn xin nhận lấy, nói tiếng “cảm-ơn”. Mở tay ra, ném 5 gói đường nhỏ về phía hai người với tiếng ĐM.

Cảm-nhận “ơn” có phần dễ, nhưng hiểu biết “ơn” chẳng những khó mà còn khó bội phần. Tiếng Việt mình hay: Hiểu-biết – Hiểu là trí-thức, biết là tri-thức. Muốn hiểu phải học – học hiểu. Học một biết một là “hiểu”, nhưng học một biết mười là “biết”. Con tằm ăn dâu nhả ra dâu là “hiểu”, con tằm ăn dâu nhả ra tơ là “biết”.

Bằng-cấp cho người ta biết trình-độ trí-thức của mình, song phương-cách hành-xử mới cho người ta biết trình-độ tri-thức của mình. Tôi tự nhủ:

Người trí-thức treo bằng-cấp trên tường nơi phòng khách, nơi văn-phòng.

Người tri-thức đút bằng-cấp dưới giường để học tiếp. Vì điều ta biết chỉ là một giọt nước, điều ta không biết mênh-mông như đại dương.

Người ta không đề ra – Trí-Ân Tiền Nhân, Trí-ân Tổ-Quốc mà phải là Tri-Ân Tiền-Nhân, Tri-Ân Tổ-Quốc.

Tiếng Việt mình hay – Ơn, Ân đồng nghĩa. Ơn-phước hay ân-phước đều được. Chúng ta nói cảm-ơn, tạ-ơn, nhưng không thể nói cảm-ân, tạ-ân. Chúng ta có thể dùng ơn-nghĩa sinh-thành hay ân-nghĩa sinh-thành. Chúng ta không thể dùng ơn-ái hay ái-ơn mà phải dùng ân-ái hay ái-ân.

Ân-nghĩa sinh-thành – “Ân” về “sinh”, “nghĩa” về “thành”, “ân” về cha, “nghĩa” về mẹ, “ân” trước “nghĩa”, “sinh” trước “thành”. “Ân-sinh” cha ban cho con là sự sống. Sự sống nơi tinh-trùng người cha, tinh-trùng cha vào trứng mẹ mà “sinh-thành” con.

Ân-nghĩa sinh-thành “hiểu” mới nhận ra Ân sâu nghĩa nặng. “Ân” không “nặng” mà “sâu”. “Sâu” đây có nghĩa sự sống và “genes” của cha thấm-nhuần lưu-truyền vào cả cuộc đời con-cái. “Nghĩa nặng” khi “hiểu” được “mang nặng đẻ đau” của người mẹ trong chín tháng mười ngày, “vượt biển một mình”.

Nhờ học mới “hiểu” được “ân-nghĩa sinh-thành”, “ân sâu nghĩa nặng”. “Ân sâu” – “hiểu” song “cảm-nhận” không dễ. Nhưng “nghĩa nặng” – “hiểu” và “cảm-nhận” dễ-dàng.

“Ân sâu” – “hiểu” song “cảm-nhận” không dễ, nên ca-ngợi “tình cha” chẳng bao nhiêu.

“Nghĩa nặng” – “hiểu” và “cảm-nhận” dễ-dàng, nên “tình mẹ” được ca-ngợi quá nhiều. Trung-bình 100 bài ca-ngợi “tình mẹ” mới có 1 bài ca-ngợi “tình cha”.

“Ân sâu” thật ra chỉ “hiểu” ở phương-diện “sinh-lý” chớ chẳng ai “hiểu” thế nào là sự sống. Khoa-học hiện-đại tân-tiến ngày này chỉ cảm-nhận chớ không thể “hiểu-biết” hai lãnh-vực quan-trọng trong con người đó là “sống” và “yêu” nên chỉ có thể đặt ra “mô-thức văn-minh” (civilized archetypes) cho cuộc sống vì cảm-nhận con người quá phóng-túng và quy ngã, buông-thả đến độ cẩu-thả, đánh mất đi sự tôn-trọng người khác trong cách đối-đãi ngoài xã-hội, hay sự cạnh-tranh quá mức, sự tài-hóa các giá-trị xã-hội đã khiến cho đời sống mất đi các chất-liệu cần-thiết “sống” và “yêu” để con người thật sự hạnh-phúc và sống trọn-vẹn một cuộc đời đẹp-đẽ và có ý-nghĩa.

Chúng ta có sự sống ngay khi còn là cái phôi-thai trong lòng mẹ. Chúng ta đang sống và suốt cả cuộc đời trên đất chúng ta “mưu-sinh”, lo bảo-vệ và duy-trì sự sống của chúng ta. Một tích-tắc trước khi chết, chúng ta vẫn sống. Như vậy, chỉ có cái chết mới làm chúng ta hết sống. Khi hết sống thì đến lương-y đại tài cũng chẳng thể “cải-tử hoàn-sinh”. Cha-mẹ dẫu có thương đứa con hết sống cũng chẳng thể đem sự sống của mình chia-xẻ cho con. Dầu bậc đế-vương muốn gì được nấy cũng vô-phương kéo dài sự sống của mình trong một khoản-khắc

Sự sống là gì nhỉ? Roman Rolland đã viết: Sự sống không phải là cái gì lý-trí lãnh-lẽo hay cái gì con mắt chúng ta thấy được. Nhưng sự sống là cái gì chúng ta mơ-tưởng.

Chưa có nhà khoa-học nào giải-nghĩa được sự sống. Người ta chỉ nhận-biết sự sống, chứ chưa giải-nghĩa được sự sống. Với nền khoa-học tân-tiến ngày nay, người ta có thể giải-thích được sự cấu-tạo các vật-thể, nhưng về sự sống thì bất-khả thuyết-minh.

Người ta có thể làm một hạt giống nhân-tạo đúng phẩm-chất, hình-thể và màu-sắc như một hạt giống. Đem phân-tích và quan-sát, chẳng cách nào phân-biệt hạt giống nào là hạt giống nhân-tạo. Chỉ cần đem bỏ xuống đất vài ngày, hạt giống nào nẩy lên một cái mầm thì chắc-chắn hạt giống đó không phải là hạt giống nhân-tạo.

Trong một buổi triển-lãm về điêu-khắc, nhà điêu-khắc đã mất ngủ ba ngày liền vì lời nói của nhà phê-bình trứ-danh khi ông ngắm pho tượng kiệt-tác:

– Tiếc quá, chỉ còn thiếu một điều. Cuối cùng nhà nghệ-sĩ tài-ba xin gặp nhà phê-bình để hỏi cho ra cái “thiếu một điều” của mình. Người nghệ-sĩ ngẩn người khi nghe nhà phê-bình trả lời: Chỉ còn thiếu sự sống thôi, thì thật trọn-vẹn.

Sự sống làm sao tạo được ?

Sống – ai cũng nhận-thức được, nhưng không ai hiểu được. Đó là lẽ đương nhiên, vì sự sống không thuộc về trần-giới, mà thuộc về linh-giới.

Sống không phát-sinh từ vật-chất, nhưng từ Thần-Linh, từ Đức Chúa Trời Hằng Sống. Kinh-Thánh là Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta biết cội-nguồn của sự sống và sự sống của chúng ta có từ đâu. Sách Sáng-thế ký cho chúng ta biết thể nào Đức Chúa Trời dựng nên loài người và ban cho loài người sự sống. Kinh-Thánh chép: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi-đất nắn nên hình người, hà sanh-khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh –linh” (Sáng-thế ký 2:7).

Như vậy, sự SỐNG là “sanh-khí” của Đức Chúa Trời. “Sanh-khí” của Đức Chúa Trời truyền vào con người qua đường hô-hấp – “lỗ mũi”. Vậy nên, hết thở là hết sống. Con người còn thở là còn sống, là còn quan-hệ đến Đức Chúa Trời Hằng Sống. Vì sự quan-hệ đó mà mạng sống con người quý-giá vô-cùng.

Vào bịnh-viện, chúng ta có thể nhìn thấy những người nằm hôn-mê, bất-động, vô tri-giác, nếu không còn chút thoi-thóp thở thì chúng ta có thể nghĩ ngay đó là xác chết. Dẫu vậy, chẳng ai dám chấm-dứt chút “thoi-thóp”, cái sống mỏng-manh đó. Dầu mỏng-manh vẫn rất quý-giá, một chút sống vẫn quan-hệ đến Đức Chúa Trời Hằng Sống.

Sống là bản-thể của Đức Chúa Trời. Kinh-Thánh bày-tỏ về Đức Chúa Trời chân-chính là “Đức Chúa Trời chân-thật và sự sống đời-đời” (I Giăng 5:20).

Sau khi loài người phạm tội, sự sống con người không còn tinh-ròng như “sự sống đời-đời” của Đức Chúa Trời ban cho con người lúc tạo-dựng. Cơ-đốc nhân là người tin-nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình, được tái-sinh (born again) thì có “sự sống đời-đời” như lời Chúa Jêsus khẳng-định: “Ai tin con, thì được sự sống đời-đời” (Giăng 3:36).

Yêu-thương – ai cũng nhận-thức được, nhưng không ai hiểu được. Đó là lẽ đương nhiên, vì yêu-thương không thuộc về trần-giới, mà thuộc về linh-giới.

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân-Diệu). “Yêu là cái mà ta không tả được” (Tiến-Xuân).

Sống không “yêu” là sống không còn ý-nghĩa, nên người ta mong sống được “yêu” và biết “yêu”. Chính cái “yêu” đã đày-đọa con người trong cuộc sống nhưng thiếu “yêu” là không được. Tôi đã luận Khốn-khổ về Tình Yêu, vì “yêu” là nhu-cầu tối cần.

Tình yêu trong người chỉ đủ “tự ái” – yêu mình. Yêu người khó lắm và hiếm lắm.

Người ta thường chúc nhau Phát Tài, Phát Lộc, nhưng mấy ai muốn Phát Tâm.

Phật Tử “yêu” người là phát tâm Bồ-đề.

Kinh-Thánh khẳng-định “yêu-thương” là bản-chất của Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời là sự yêu-thương” (I Giăng 4:8). Cơ-đốc nhân chân-chính có “yêu-thương của Đức Chúa Trời” trong lòng để “yêu” người. Kinh-Thánh xác-chứng: “Sự yêu-thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta (Cơ-đốc nhân) bởi Đức Thánh-Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô-ma 5:5). Kinh-Thánh đã mô-tả đặc-tánh “yêu-thương” này trong I Cô-rinh-tô 13:4-7 như vầy: “Tình yêu-thương hay nhịn-nhục; tình yêu-thương hay nhơn-từ; tình yêu-thương chẳng ghen-tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu-ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng-giận, chẳng nghi-ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công-chính, nhưng vui trong chân-lý. Tình yêu-thương hay dung-thứ mọi sự, tin mọi sự, nín chịu mọi sự”.

Tất cả mọi điều mình nhận được trong đời sống qua ơn của trời đất, qua ơn của tiền nhân, qua ơn của biết bao người trong xã-hội. Mọi hành-động qua tình yêu-thương của mọi người ban cho chúng ta trong sự sống là ơn, là ân. Phải nói chúng ta còn sống, còn sanh-động nơi trần-thế là do ơn của nhiều người.

Con người thiếu cảm-ơn, tạ ơn là “đồ” vô ơn, không còn là “người”.     

HÃY TẠ-ƠN
HÃY CA-NGỢI HẾT LÒNG

“Các ngươi sẽ được ăn và được no-nê. Các người sẽ ngợi khen danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã xử với các ngươi cách lạ-lùng.” (Giô-ên 2:6)

Được đủ ăn đã là điều phước lắm
Được no-nê … phước ấy, phước hằng mong
Biết bao người vất-vả kiếm miếng ăn
Trên thế-giới … gần tỷ người … đói lả.

Tôi nghĩ rằng: Đời này ai cũng rõ
Đói là gì? Đói khốn-khổ lắm sao?
Những năm dài khi Cộng-Sản tiến vào
Đói, đói hết! Người dân nào cũng đói!

Mỗi bữa ăn, ngồi vào bàn … nhớ lại
Chúa nuôi tôi thật kỳ-diệu, lạ-lùng
Trải qua bao ác mộng, tưởng đời tàn
Chúa thương-xót cứu tôi, ơn trời bể!

Tôi cúi đầu, trước bữa ăn, cảm-tạ
Lời chân-thành biết ơn Chúa đãi tôi
Dẫu tôi luôn đi vấp-váp trên đời
Chúa tha-thứ, Chúa nuôi tôi no đủ,

                     ***

Không riêng tôi, mọi con dân của Chúa
Chúa thương yêu, Chúa chăm-sóc vô-cùng
Hãy tạ-ơn, hãy ca-ngợi hết lòng
Đấng đã xử với chúng ta … đặc-biệt.

Tường-Lưu

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top