Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Phan Thanh Bình: Dòng Đời – Bất An

Mục sư Phan Thanh Bình: Dòng Đời – Bất An

BẤT-AN

Cuộc đời khốn-khổ, thăng-trầm là vậy, nhưng mấy ai chịu an-phận trong khốn-khổ, thăng-trầm, nhưng tìm cách tạo an vui cho cuộc đời, nhưng an-vui không thấy mà chỉ thấy bất-an.

 Hai điều làm đời bất-an là lo và sợ.

Lo – là chuyện bình-thường, có người lo nhiều, có người lo ít. Người không lo là người bất bình-thường.

Người không lo là người vô-tâm, người không lo thì không thích làm tròn bổn-phận, trách-nhiệm của mình. Không lo, khi gặp may-mắn thì lơ-đễn, dễ-ngươi; khi gặp bất-trách thì buông xuôi hoạc làm ẩu, làm càng. Không lo thì người giỏi cũng hóa ra dở, người cương-trực lần hồi cũng thành liệt-nhược, người đạo-đức mà lúc nào cũng “nhàn cư” thì thế nào cũng “Vi bất thiện”.

Ca-dao ta có bài LO như vầy:

Ông cả ngồi trên sập vàng.
Cả ăn, cả mặc, cả càng thêm lo
Ông bếp ngồi trong xó tro,
Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

 Tiếng Việt mình hay khi ghép: Lo-âu, Lo-sợ, lo-lắng ở thế tiêu-cực.

Lo-âu, lo-sợ là lo-lắng. “Lo” làm tâm-hồn “lắng” xuống. Theo tâm-lý học, lo-lắng làm: (1) Phân tán cảm-xúc, khiến cảm-xúc bị chao-đảo; (2) Phân-tán sự hiểu-biết, khiến suy-đoán nông-cạn và hay thay-đổi; (3) Phân-tán khả-năng nhận-thức, khiến nhận-định thiếu-sót và nhầm-lẫn; (4) Phân-tán phán-xét, khiến bày-tỏ thái-độ hay quyết-định sai-lầm.

Tiếng Việt mình hay khi ghép: Lo-nghĩ, lo-tính, lo-toán, lo-liệu ở thế tích-cực.

Người lo là người biết suy-nghĩ, tính-toán, định liệu công-việc của mình. Chấp-nhận những ẩn-số trong phương-trình, tìm phương-thức giải. Biết tiên-liệu để chuẩn-bị ứng-phó kịp thời. Vận-dụng trí-óc, để khai-triển ý-tưởng; vận-dụng khả-năng để ý-tưởng được thực-hiện. Người lo có cặp mắt viễn-vọng, có tinh-thần tự tin và hăng say làm việc để đạt đến mục-đích. Đây là cái lo chính-đáng phải có.

Người ta đã ví nỗi lo như những tảng đá chất trên đời người. Đời người càng lo, càng nặng-nề hơn. Đời đầy chông-gai, trắc-trở, nhưng hoàn-cảnh mỗi chúng ta không phải hoàn-toàn xấu. Thật-sự hoàn-cảnh không nảy sanh lo. Sự lo của chúng ta phát xuất từ ý-nghĩ của chùng ta hơn là hoàn-cảnh chúng ta gặp.

Đời người, mỗi thời có cái “lo” khác nhau. Trẻ có cái “lo” của trẻ, những năm dài trước mặt trong một thế-giới đầy hỗn-loạn (topsy-turvy world) hỏi sao không “lo”. Đến tuổi lập gia-đình thì “lo” tìm người yêu để lập gia-đình. Khi gặp người yêu lại “lo” người này có thể là vợ, là chồng mình không? Khi lập gia-đình lại “lo” làm sao cho “trong ấm ngoài êm”. Đến khi có con-cái lại “lo” làm cha, làm mẹ để con-cái “nên người”. Tôi biết nổi “lo” của quý vị nên đã viết và xuất bản sách Xây-Dựng Gia-Đình Hạnh-Phúc.

Khi tôi bước vào tuổi 60 là biết mình già, nên phải “lo” sống sao ở tuổi cuối đời cho an vui. Bởi “lo” mà suy-nghĩ, tìm tòi, học hỏi suốt mấy năm  trời mới viết và xuất bản cuốn Tình … Già (Learn To Be Old) vào tháng 3  năm 2005.

Nhiều vị cao niên, suốt đời “lo” quá nhiều, nên tự nhủ “Lo chi cho mệt một đời”. Nên tính “quẳng gánh lo đi và vui sống”, nhưng nào có “quẳng” được. Ít nhất cũng phải “lo” “hậu-sự”. 

Lo-nghĩ – Chúng ta không thể lo-nghĩ khi “lo-âu”, “lo-sợ”.

Trước hết chúng ta phải biết trong nỗi “lo” của chúng ta có:

92% điều chúng ta “lo”: Một số không bao giờ xảy đến – “lo trời sập”; một số có “lo” cũng chẳng thay-đổi được gì – Ở Ca-li thì “lo” động đất, có “lo” cũng như không; và một số không “lo” cũng chẳng sao – Danh, lợi, quyền là 3 điều nhiều người “lo”, nhưng chúng ta không “lo” cũng chẳng sao.

Tôi xin đơn cử 92% điều chúng ta hay “lo”:

Lo lỗi-lầm mình đã phạm.
Lo không thành công trong công-việc.
Lo thiên-tai địa chấn.
Lo lỡ cơ-hội.
Lo chết.
Lo vào hỏa-ngục.
Lo đau-yếu
Lo tiền-bạc
Lo thất-vọng.
Lo việc xảy đến thiếu báo trước
Lo bị từ-chối.
Lo tiếng thị-phi.
Lo quá-khứ.
Lo tương-lại

V.v. và V.v.

Những “lo” này, tiếng thời-đại ngày nay là “căng-thẳng thần-kinh” (stress) hay bị bệnh “trầm-cảm” (depression), có những triệu-chứng “lo” (anxiety symptoms):

Bất thần nổi giận (outbursts of anger)
Quá ưu-tư (intense worry)
Lú-lẫn (confusion)
Ăn-uống thất-thường (eating issues)
Lên cơn sợ-hãi (panic episodes)
Ưu-tư ám-ảnh (obsessive worry)
Sợ (phobias)
Lo về sức-khỏe (health worries)
Vấn-đề tình-dục (sexual issues)
Bứt tóc (hair pulling)
Ngủ quá nhiều hay quá ít (sleep problems)
Kém tập-trung tư-tưởng (decreased concentration)
Khó chịu ở ngực (chest discomfort)
Ác mộng (nightmares)
Thình-lình bật khóc (increased crying)
Nhịp tim nhanh (rapid heartbeat)
Đổ mồ-hôi (sweating)
Run-rẩy (trembling)
Khó thở (shortness of breath)
Cơn đau thắt ngực (angins attacks)
Đau bụng bất thường (Irritable bowel syndrome)
Chứng bất-lực (impotence)
Rối-loạn kinh-nguyệt (menstrual disorders)
Giật bắp thịt mặt do sợ-sệt (nersous tics)
Nổi cơn xuyễn (asthma attacks)
Đi tiểu thường-xuyên (frequent urination)
Bộc phát bịnh ngoài da (outbreaks of problems)
Rụng tóc (hair loss)
Già trước tuổi (appearing older than ages)
Dễ bị nhiễm-trùng (increased infection)
Cao huyết áp (high blood pressure)
Bịnh động mạch vành tim (coromary heart disease)
Quá cẩn-trọng (hypervigilance),.

Vậy “lo chi cho mệt một đời”.

Cụ Nguyễn-hiến-Lê đã dịch cuốn How To Stop Worry And Start Livng của Dale Carnegie với tựa đề: Quẳng Gánh Lo Đi và Vui Sống. Tác-giả giúp chúng ta “Quẳng” 92% “lo” mà chẳng được gì trong đời người để an-vui.

Chỉ còn 8% là phải “lo”, không “lo” không được. Trong 8% này thì 4% “lo” về thể-xác; 3% “lo” về tâm hồn, 1% “lo” về tâm-linh.

4% “lo” về thể-xác chính-đáng là “lo ăn gì? uống gì? mặc gì?” (Ma-thi-ơ 6:31). “Lo” ăn là ưu-tiên. Công-việc đầu tiên của con người là “mưu sinh”. “Lo” ăn là phải lẽ. Ngày nay, hơn một nửa dân số trên thế-giới lâm vào cảnh thiếu ăn. Một nửa còn lại thì 1/3 đủ ăn và 2/3 ăn dư-dật. Trong 2/3 dư-dật thức ăn phải nói dân ở Mỹ là số một.

Tôi đã luận về “Ăn để sống hay sống để ăn”. Nhiều người tỏ ra mình cao-thượng, coi “ăn” là tầm-thường nên chỉ “ăn để sống” chớ chẳng thèm “sống để ăn”. Thức ăn có tên “món ăn” thì người ăn là “sống để ăn”. “Ăn gì?” là cái “lo” đáng kể của con người. Ở xứ Mỹ này thức ăn dư-dật, nhưng “ăn gì?” vẫn là quan-trọng cho những ai biết lưu-tâm đến sức-khỏe và “thỏa các vật ngon” (Thi-Thiên 103:5). Nhiều Hội-Thánh mời tôi đến thuyết-trình hay giảng-luận đều lưu-ý đến việc ăn-uống của tôi. Họ thường hỏi tôi ăn-uống thế nào, có kiêng-cữ món gì không để họ lo-liệu. Tôi thường đáp: Tôi kiêng-cữ hai món, đó là “yến sào” và “súp bào-ngư”.

“Uống gì?” cũng “lo” không ít. Vào nhà hàng có thực-đơn món “ăn” và thực-đơn món “uống”. Chính món “uống” bày-tỏ vị-thế và tư-cách người “uống” đồng thời giúp người “uống” đạt đến “đã”.

“Mặc gì?” cũng là mối “lo” khi được mời dự nơi công-cộng quan-trọng. Thân-thể con người khi Đức Chúa Trời dựng nên, có sự vinh-hiển của Chúa bao phủ, không cần quần-áo. Nhưng khi loài người phạm tội, thì “mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23). Chính Chúa đã lấy da thú may áo mặc cho A-đam và Ê-va để che sự “lõa-lồ” của thân-thể (Sáng-thế ký 3:21). Từ đó quần áo làm “vinh-hiển” thân-xác con người. Vì cái “lo” này mà thời-trang phát-triển cách mạnh-mẽ.

3% “lo” cho tâm-hồn sao cho được yêu-thương, vui-mừng và bình-an.

Chính “lo” “ăn gì?, uống gì?, mặc gì?” chẳng những cho thể-xác mà cả cho tâm-hồn. Nhưng ba yếu-tố quan-trọng phải “lo” cho tâm-hồn là: 1% Yêu-thương,1% vui-mừng và 1% bình-an.

Tiếng Việt mình hay Yêu-thương – “Yêu” phát xuất từ con tim, “thương” phát-xuất từ lý-trí.

Tiếng Việt mình hay Vui-mừng – “Vui” do ngoại cảnh đưa tới, “mừng” phát-xuất từ nội tâm.

Tiếng Việt mình hay Bình-an – “Bình” hình thức “hòa bình”, “an” cảm-nhận trong lòng – “an-tâm”.

1% “lo” tâm-linh. Chẳng mấy ai lưu-tâm đến tâm-linh, nói chi đến “lo”. Khi đau yếu, gặp hoạn-nạn khó khăn, hay sắp qua đời mới nghĩ đến tâm-linh và nhờ người khác “lo” tâm linh cho mình.

Phương-thức “lo” 8% này tùy thuộc vào tri-thức và khả-năng mỗi người.

Lo-tính – ghi nhớ “sai một ly đi một dặm”.

Lo-liệu – ghi nhớ “liệu cơm gắp mắm, liệu sức làm quan”.

Người Việt “lo” quá nhiều:

Năm canh chỉ ngủ có ba
Hai canh lo-lắng để mà làm ăn.

Thời-gian của đêm được chia thành 5 canh (10 tiếng – ngủ có “ba canh” – 6 tiếng, còn “hai canh” – 4 tiếng nằm không ngủ mà “lo”.  Thành ra 6 tiếng “ngủ nghỉ”, 4 tiếng “ngủ nghĩ”.

8% cái “lo” chính đáng của người cao-niên, Tôi đề-nghị:

2% “lo” “ăn gì? uống gì? mặc gì?”

3% “lo” “yêu-thương, vui-mừng, bình-an” (Ga-la-ti 5:22)

3% “lo”  – 1% “lo” “hậu-sự” – Thể-xác mồ yên mả đẹp 2% “lo” “qua đời” – Linh-hồn đi về đâu- Ước mong Quý Vị biết chắc mình sẽ “đi ở với Đấng Christ” (Phi-líp 1:23).

Người Cơ-đốc chân-chính có cái “lo” mà an-vui. Cứu Chúa Jêsus của chúng tôi rất “lo”. Ngài “lo” khi Ngài mới mười hai tuổi. Ngài đã nhắc-nhở mẹ Ngài theo phần xác và cha nuôi Ngài là Ma-ri và Giô-sép: “Cha-mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi lo việc Cha tôi sao?” (Lu-ca 2:48-49). Ngài tâm sự với các môn-đồ về sự “lo” của Ngài: “Ta còn có nhiều chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi” (Giăng 10:16). Ngài cũng “lo” công-việc cho kịp lúc, đúng thì. Ngài minh-định: “Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn nhưng việc của Đấng sai ta đến. Tối lại không làm được” (Giăng 9:4).

Sứ-đồ Phao-lô, người hầu-việc Chúa trung-kiên cũng “lo”. Phao-lô tâm-sự: “Mỗi ngày tôi phải lo-lắng về hết thảy hội-thánh. Nào có ai yếu-đuối mà tôi chẳng yếu-đuối ư? Nào có ai vấp-ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư?” (II Cô-rinh-tô 11:28-29.

Cơ-đốc nhân chân-chính, ngoài có “lo” bình-thường trong cuộc sống. Người Cơ-đốc còn có cái “lo” của Chúa Jêsus, của sứ-đồ Phao-lô “lo” làm sao để “ý Cha được nên ở đất như trời” (Ma-thi-ơ 6:10). “Lo” “tìm và cứu kẻ bị hư-mất” (Lu-ca 19:10). “Lo” “nhắm mục-đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu-gọi trên trời trong Đức Chúa Jêsus-Christ” (Phi-líp 3:14).

Người Cơ-đốc “lo” mà không “bất an” vì làm theo lời Kinh-Thánh dạy: “Hãy trao mọi điều lo-lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn-sóc anh em” (I Phi-e-rơ 5:7). “Trao” như vầy: “Chớ lo-phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu-nguyện, nài xin, và sự tạ-ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho
Đức Chúa Trời. Sự bình-an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu-biết sẽ gìn-giữ lòng và ý-tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus-Christ”
(Phi-líp 4:6-7).

Cơ-đốc nhân chân-chính “lo” nhiều mà vẫn “an-vui”.

Sợ

Lo-sợ đi chung với nhau. Các nhà tâm-lý học cho chúng ta biết sợ sanh:

Áy-náy (anxiety)
Lo-lắng (worry)
Nghi-ngờ (dpibts)
Sút-kém (inferiority)
Nhút-nhát (timidity)
Khiếp-nhược (cowardice)
Do-dự (indecision)
Ngờ-vực (suspicion)
Mê-tín (superstition)
Ngập-ngừng (hesitancy)
Rút-lui (withdrawal)
Phiền-muộn (depression)
Cô-đơn (loneliness)
Ngạo-mạn (haughtiness)
Công-kích mạnh (overaggression)
Bẽn-lẽn (social shyness)

Sợ là “bất an”. Đứng trước nghịch cảnh là thấy lòng mình nao-núng rung-động “bất-an”. Ngước nhìn núi cao hùng-vĩ, ngó xuống vực thẳm hun-hút, chân tuy đứng trên vầng đá vững-chắc bên cạnh vực-thẳm mà không yên tâm – sợ đấy. Tiếp chuyện với người hơn hẳn mình về tài-năng, chức-vị, quyền-hành, thì gân-cốt như nhão ra, cặp mắt thiếu linh-động, lời nói lắp-bắp. Một tiếng động nhẹ giữa đêm trường tĩnh-mịch nơi hoang-vắng đủ làm cho lạnh xương sống, nỗi da gà. Một tiếng nổ như sét đánh bên tai giữa đô-thị, đủ khiến ta đứng sững như trời trồng hoặc cuốn-cuồng tránh-né. Tại sao có hiện-tượng ấy, chỉ vì lúc ấy, ý-tưởng nguy-hiểm ám-ảnh làm ta bất-an, khiến tim đập mạnh và nhanh, mồ-hôi toát ra, tinh-thần rối-loạn và trí phán-đoán của ta lu-mờ, lệch-lạc. Thế là sợ.

Ngược dòng lịch-sử loài người, Kinh-Thánh ký-thuật A-đam và Ê-va tổ-phụ loài người đã trái mạng-lịnh Đức Chúa Trời, ăn trái cấm Đức Chúa Trời cấm không được ăn. Sau khi phạm tội, sự tương-giao giữa Đức Chúa Trời và con người bị ngăm trờ, sự bình-an giữa Đức Chúa Trời và con người bị phá vỡ. Và sự sợ-hãi bắt đầu xuất hiện nơi con người. Kinh-Thánh ghi: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam và phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu? A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lỏa-lồ, nên đi ẩn mình” (Sáng-Thế ký 3:9-10).

Sợ có nhiều đẳng cấp và nhiều phương-diện. Tên trộm trờ thành thên sát nhân chỉ vì quá sợ khi bị vây bắt, nên đã hoảng-hốt giết người để đào-thoát. Vụ tàn-sát lớn lao và khủng-khiếp trong lịch-sử nước Pháp, thường gọi là Massacre De Septembre năm 1792. Há chẳng phải lo sự khiếp-sợ của dân chúng Pháp trước nạn ngoại xâm. Sự tàn-sát thảm-khốc của Tần-Thủy-Hoàng, phải chăng là do sự quá sợ của một bạo chúa độc tài. Các cuộc tắm máu tại xứ Chùa Tháp, các trại “cải-tạo” mọc lên như nấm ở dãy đất hình S, đủ nói lên sự sợ-hãi của đảng Việt-Cộng cầm-quyền thiếu sự ủng-hộ của toàn dân. Các cường quốc trên thế-giới đang thi-đua võ-trang ráo-riết, chung quy cũng tại “sợ” mà ra cả. Một nhà văn Pháp đã gọi thế-kỷ này là thế-kỷ của cái sợ (Le siècle de la peur).

Ngoại trừ những kẻ “điếc không sợ súng”, chúng ta ai ai cũng đều sợ cả. Nhưng phải nhận thức cái đáng sợ, chớ không thể “trượt vỏ dưa, thấy vỏ dừa cũng sợ”.  Nội cái sợ chính-đáng cũng đủ hành-hạ con người, huống chi quơ thêm một số “sợ bóng, sợ gió” nữa thì cuộc đời “bất-an” lại thêm “bất-hạnh”.

Không biết Quý-Vị đã tìm ra hoặc học biết cách nào để trấn-áp sự sợ-hãi, lấy lại sự bình-tĩnh, hưởng được an-vui trong một hoàn-cảnh đáng sợ chưa? Riêng Cơ-đốc nhân chúng tôi có được điều này. Chúng tôi tin chắc rằng Cứu Chúa Jêsus đang sống và hiện đang sống trong Cơ-đốc nhân như lời Ngài phán: “Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đên tận-thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Ngài đủ uy-lực phán với Cơ-đốc nhân rằng: “Đừng sợ chi, Ta là Đấng Trước Hết, và là Đấng Sau-Cùng, là Đấng Sống, Ta đã chết, kìa hiện nay ta sống đời-đời” (Khải-huyền 1:17-18).

Vua Đa-vít có kinh-nghiệm không sợ khi có Chúa bên cạnh. “Dầu tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai-họa nào; vì Chúa ở cùng tôi” (Thi-Thiên 23:4).

Một cậu bé 5 tuổi vừa thức giấc trong một đêm bão-tố. Cậu mở mắt – cảnh vật tối-tăm. Cậu lắng nghe – tiếng hú của gió rú lên từng cơn. Bốn bề xao-động. Cậu sợ-hãi, hốt hoảng gọi: Cha ơi! Cha ơi! con sợ quá!

– Cha đây, cha đây. Cậu nghe tiếng cha đáp vọng.

– Cha đâu, con không thấy cha, con sợ quá. Câu giơ tay ra phía trước quờ quạng.

– Cha đây, cha đây. Người cha bước tới, ngồi xuống bên cậu. Cậu ôm lấy cha, áp đầu vào ngực cha, người cha đỡ cậu nằm xuống, vỗ-về nhè-nhẹ. Đứa nhỏ nắm lấy tay cha đi vào giấc ngủ an lành. Bên ngoài mưa bão vẫn còn, màn đêm vẫn dày-đặc, nhưng sự sợ hãi trong lòng cậu không còn. Ôi kỳ-diệu thay!

Cơ-đốc nhân trong đêm-trường tăm-tối giữa trần-thế, trong hiểm-họa của dòng đồi. Cơ-đốc nhân lấy đức-tin mà nắm lấy Chúa. Đấng chăn chiên hiền-lành, chỉ vậy thôi, không cần làm gì hơn nữa. Cơ-đốc nhân sẽ chiêm nghiệm được lời Chúa Jesus phán: “Ta để sự bình-an lại cho các ngươi, ta ban sự bình-an cho các ngươi; ta cho các người sự bình-an chẳng phải như thế -gian cho. Lòng các ngươi chớ hề bối-rối và đừng sợ-hãi” (Giăng 14:27). Thế là an-vui.

Mục sư Phan Thanh Bình
660 S. Third St. 
El Cajon, CA 92019
Phone: 619 444-1106

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top