Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Thời Sự » Giáo Hoàng Ủng Hộ Hôn Nhân Đồng Tính

Giáo Hoàng Ủng Hộ Hôn Nhân Đồng Tính

 

Giáo Hoàng Ủng Hộ Hôn Nhân Đồng Tính

Rome:

Theo tin từ Rome, Giáo hoàng Francis đã chính thức công bố ủng hộ hôn nhân đồng tính.  Lời phát biểu này được ghi lại trong cuốn phim tài liệu về cuộc đời của Giáo hoàng Francis mang tên “Francesco” vừa được trình chiếu tại Rome vào ngày 21/10/2020 vừa qua. Khi trả lời phỏng vấn về vấn đề hôn nhân đồng tính, Giáo hoàng Francis đã nói rằng những người đồng tính là con của Đức Chúa Trời và họ có quyền lập gia đình. Không ai bị loại trừ hay phải đau khổ vì chuyện này. 

Lời phát biểu của Giáo hoàng đã tạo nên chấn động trong cộng đồng Công giáo khắp thế giới, bởi vì lời công bố của Giáo hoàng trái ngược với tín lý của người Công giáo.

Theo Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo (Catechism of Catholic Church), hôn nhân là một trong bảy thánh lễ (bí tích) của người Công giáo (Điều 1113).  Giáo lý Công giáo định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ (Điều 2235).  Giáo lý Công giáo cũng định nghĩa: Gia đình là cấu trúc được hình thành từ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ; và thành phần trong gia đình là hai vợ chồng cùng các con của họ (Điều 2202).  Về vấn đề tình dục đồng tính, Giáo lý Công giáo dạy rằng đây là một hành động sa đọa, rối loạn, và trái với tự nhiên (Điều 2357). Giáo lý Công giáo kêu gọi những người đồng tính hãy tiết dục (Điều 2359).  Do đó lời phát biểu của Giáo hoàng Francis mới đây thể hiện một quan điểm trái ngược với những giáo lý nói trên.     

Trả lời phỏng vấn của NBC về lời phát biểu của Giáo hoàng, Giám mục Bishop Thomas Tobin của Giáo phận Providence, Rhode Island nói rằng: “Lời phát biểu của Giáo hoàng trái ngược với quan điểm của giáo hội về vấn đề đồng tính.  Giáo hội không thể chấp nhận những mối quan hệ vô đạo đức như vậy”.

Tương tự Brian Burch, chủ tịch của CatholicVote, đã nói với AP rằng Giáo hội Công giáo định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ.  Giáo hoàng Francis không có thẩm quyền để thay đổi sự dạy dỗ về hôn nhân đã được xác định rõ ràng như vậy.  

Giám mục Arturo Bastes của Phillipine nói rằng: “Đây là một tuyên bố chấn động từ Giáo hoàng. Tôi rất nghi ngờ về sự đúng đắn trong vấn đề đạo đức của việc này. Tôi sẽ bị tai tiếng nếu ủng hộ quan điểm của Giáo hoàng về vấn đề hôn nhân đồng tính bởi vì nó sẽ dẫn đến những hành động vô đạo đức.”

Theo Kinh Thánh, vấn đề đồng tính luyến ái đã có từ xưa. Thánh Kinh Cựu Ước cho  biết đồng tính luyến ái phổ biến tại hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ.  Khi Đức Chúa Trời truyền cho các thiên sứ đến hủy diệt thành phố Sô-đôm, dân chúng thành này đã tìm cách cưỡng bức khách lạ để thỏa mãn tình dục đồng tính (Sáng Thế Ký 19:4-11).  Điều này vẫn còn tồn tại tại chi phái Bên-gia-min sau khi người Do Thái vào Đất Hứa (Các Quan Xét 19:22).  Trong sách Lê-vi- Ký, luật pháp của Chúa không cho phép hai người nam giao hiệp với nhau như giao hiệp với phụ nữ (Lê-vi Ký 19:22). Luật pháp của Chúa dạy rằng những người nào vi phạm sẽ bị xử tử (Lê-vi Ký 20:13).   Tuy nhiên, hàng ngàn năm sau khi luật pháp Môi-se được ban hành, nhiều người Do Thái đã bị cám dỗ theo thói tục bên ngoài đã phạm tội như vậy (Ê-sai 1). Tiên tri Ê-sai nói rằng thành phố Jerusalem đã trở thành một ổ điếm (Ê-sai 1:21), nếp sống của dân Chúa đã bị pha trộn theo thói tục của bên ngoài (Ê-sai 1:22), và các nhà lãnh đạo của Jerusalem bị so sánh với các lãnh đạo của hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Ê-sai 1:10).  Trong Ê-xê-chi-ên đoạn 16, Tiên tri Ê-xê-chi-ên nhắc lại tội lỗi của Sô-đôm và nói rằng Sô-đôm chỉ là đàn em so với Jerusalem trong vấn đề phạm tội (Ê-xê-chi-ên 16:46-48).       

Trong Tân Ước, Sứ đồ Phao-lô nói rõ rằng những người đồng tính không được vào nước Đức Chúa Trời   Chớ tự dối mình: phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chưởi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu. Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi” (I Cô-rinh-tô 6:10-11).  Điều đáng mừng đó là trước kia tại Hội Thánh Cô-rinh-tô có một số người như vậy, nhưng họ đã nhận được sự tha thứ và được thánh hóa bởi Chúa và không còn sống theo nếp sống  cũ nữa.   Trong những câu Kinh Thánh này, Sứ đồ Phao-lô đã lưu ý rằng nếp sống xấu xa trước khi tin Chúa – kể cả vấn đề đồng tính – có thể thay đổi được nhờ quyền năng của Chúa. Trong bức thư gởi cho Ti-mô-thê, Sứ đồ Phao-lô nhắc vị mục sư trẻ rằng đồng tính luyến ái là một trong những điều trái với Phúc Âm của Chúa (I Ti-mô-thê 1:10). Trong thư viết cho các tín hữu tại Rô-ma, nơi vấn đề đồng tính phổ biến và nhiều lần được ghi lại trong lịch sử của người La Mã, Sứ đồ Phao-lô nói rằng một số người đã được Chúa giải bày chân lý của Ngài, nhưng họ cho họ là khôn ngoan và họ đã làm theo điều mình muốn (Rô-ma 1:21-25), vì vậy Đức Chúa Trời đã phó mặc cho họ sống trong dục vọng phản tự nhiên của họ: “Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình “ (Rô-ma 1:26-27)

Trong những thập niên vừa qua, những người ủng hộ đồng tính đã dùng đủ mọi cách len lõi vào Hội Thánh, vận động những người có ảnh hưởng, để làm thay đổi quan điểm của Kinh Thánh đã dạy về vấn đề đồng tính trong cộng đồng những người tin Chúa.  Một trong những lý do họ đã dùng để thuyết phục đó là Đức Chúa Trời yêu thương tất cả mọi người.  Những người này đã trích dẫn Giăng 3:16 chép rằng “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian“. Thế gian có những người đồng tính, do đó Hội Thánh cần chấp nhận cả những người đồng tính.  Tuy nhiên, những người vận động ủng hộ đồng tính chỉ trích dẫn lời Chúa cách phiến diện để ủng hộ quan điểm của họ. Những người đó cố tình bỏ qua những điều Chúa dạy trong những câu Kinh Thánh kế tiếp trong Giăng đoạn 3: “Sự sáng đã đến thế gian mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa. Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng. Nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng, hầu cho các việc của mình được bày tỏ ra, vì đã làm trong Đức Chúa Trời.”  (Giăng 3:19-21).  Thêm vào đó, những người nhân danh tình thương của Chúa vận động cho người đồng tính đã quên rằng Đức Chúa Trời yêu thương tội nhân nhưng Ngài không hề yêu thương tội lỗi. Đức Chúa Trời muốn cứu mọi người nhưng Ngài không muốn con người tiếp tục sống trong tội lỗi. Một trong những ví dụ về điều này được ghi lại trong Phúc Âm Giăng 8:1-11.  Đức Chúa Jesus tha thứ cho người phụ nữ phạm tội tà dâm, nhưng Ngài dặn người này đừng phạm tội nữa.  

Tưởng cũng nên nhắc lại, Giáo hội Công giáo coi Sứ đồ Phi-e-rơ là vị giáo hoàng đầu tiên.  Lúc Hội Thánh mới thành lập, khi đối diện với những thế lực chống đối Hội Thánh,  Sứ đồ Phi-e-rơ đầy dẫy Đức Thánh Linh, cùng với các sứ đồ khác, đã nói với những lãnh đạo Do Thái chống đối đạo Chúa rằng: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta “ (Công Vụ 5:29). Trước sự kiên định vâng lời Đức Chúa Trời của các lãnh đạo Hội Thánh ban đầu, Hội Thánh được đứng vững và phát triển.   Tuy nhiên, cũng chính vị Sứ đồ Phi-e-rơ đó, khi bị áp lực bởi con người, ông đã coi trọng nhận xét của con người hơn ý của Chúa, Sứ đồ Phi-e-rơ đã cư xử không đúng với tư cách của một người lãnh đạo.  Hành động đó của Sứ đồ Phi-e-rơ đã gây chia rẻ và làm vấp phạm cho nhiều người trong Hội Thánh (Ga-la-ti 2:8-14).  Sứ đồ Phao-lô phải nhắc nhở Sứ đồ Phi-e-rơ về hành động sai trái này.

Lịch sử Hội Thánh trong hai ngàn năm qua cho thấy khi nào quan điểm cá nhân, hay những tư tưởng từ bên ngoài, được đề cao hơn sự dạy dỗ của Kinh Thánh – và thậm chí được đặt thành tín lý – điều đó sẽ dẫn đến tà giáo và tạo nên những nguy hại lâu dài cho Hội Thánh.  

Truyền thống của Giáo hội Công giáo tin rằng Giáo hoàng vô ngộ, nghĩa là không hề sai lầm.  Tuy nhiên, lần này nhiều người Công giáo tin rằng Giáo hoàng không đúng.  Giám mục Athanasius Schneider của Kazakhstan đã dùng lời của Đức Chúa Jesus trong Ma-thi-ơ 16:26-27  nhắc nhở Giáo hoàng Francis về việc Giáo hoàng đã chiều theo xu hướng của xã hội bên ngoài ủng hộ hôn nhân đồng tính: “Nếu một người được cả thế giới mà mất linh hồn mình thì có ích gì? Người ấy sẽ lấy chi để đổi linh hồn mình lại? Vì rồi đây Con Người sẽ ngự đến trong vinh hiển của Cha mình, với các thiên sứ của mình, và sẽ ban thưởng cho mỗi người tùy theo những việc họ làm.”  Thêm vào đó, Giám mục Athanasius Schneider đã trích dẫn lời Đức Chúa Jesus nói với Sứ đồ Phi-e-rơ: “Nhưng Ta đã cầu nguyện cho ngươi, để ngươi không mất đức tin. Phần ngươi, sau khi ngươi quay lại, hãy làm vững mạnh anh chị em ngươi.” (Lu-ca 22:32 )

Đức Chúa Jesus đã so sánh ảnh hưởng của người tin Chúa với thế giới giống như là muối của đất là ánh sáng của thế gian: “Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân. Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được “ (Ma-thi-ơ 5:13-14). Chúa muốn người tin Chúa hãy đem những phẩm chất tốt đẹp của Chúa vào đời, chứ không phải đem những nhơ bẩn tối tăm ngoài đời vào trong Hội Thánh.  Nếu Hội Thánh mất bản chất của Chúa, Hội Thánh sẽ trở thành giống như bụi đất ngoài đường, sẽ bị người ta xem thường và giày đạp dưới chân.

Xin cầu nguyện cho Hội Thánh khắp nơi, từ những người lãnh đạo Hội Thánh đến các tín hữu, giữa những áp lực và cám dỗ từ thế gian vẫn đứng vững trong lời của Chúa.  

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org     

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top