Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tìm Hiểu: Ngựa Trong Kinh Thánh 

Tìm Hiểu: Ngựa Trong Kinh Thánh 

Tìm Hiểu
Ngựa Trong Kinh Thánh
 

Tết năm nay là năm Bính Ngọ (2026). Nhân dịp nầy chúng ta cùng ôn lại vài ký thuật về ngựa cùng với vài ý nghĩa liên quan đến loài ngựa đã được ghi lại trong Kinh Thánh.

Đặc Điểm và Công Dụng

Theo Carl Linnaeus (1707-1778) – một nhà sinh vật học nổi tiếng, là một tín hữu Tin Lành, và cũng là người đã khai sáng của ngành phân loại học – ngựa là một loài động có vú và có móng.  Ngựa được xếp vào họ Equidae (họ Ngựa), thuộc bộ Perissodactyla (bộ có móng guốc lẻ). 

Trên thế giới, ngựa có nhiều giống khác nhau. Phần lớn các giống ngựa có bắp thịt lực lưỡng, chân khỏe mạnh, chúng có thể kéo vật nặng, chạy nhanh, hoặc nhảy cao. Vì vậy, từ xa xưa loài người đã biết thuần hóa ngựa để kéo cày, kéo xe, để cưỡi, để làm những công việc nặng nhọc, dùng cho việc di chuyển nhanh chóng từ nơi nầy sang nơi khác. 

Vóc dáng cao lớn, hùng dũng, sự nhanh nhẹn của ngựa, cùng tiếng hí vang đã khiến nhiều người gặp ngựa lần đầu tiên bị khiếp đảm.  Vì vậy từ nhiều ngàn năm trước, ngựa đã được dùng trong chiến trận. Các sử gia ghi nhận có rất nhiều vương quốc và cường quốc đã nổi lên nhờ có những đoàn kỵ binh và những đoàn xe chiến mã hùng hậu.  Dựa vào những khám phá khảo cổ, các nhà nhà nghiên cứu cho rằng loài ngựa hiện nay đã được thuần hóa tại vùng Cận Đông, tức là vùng Trung Á và Tây Á, vào khỏang 4000 năm T.C.

Theo các nhà nghiên cứu, sách Gióp có lẽ là sách được viết trước nhất trong Kinh Thánh.   Kinh Thánh cho biết Gióp là một nhân vật sống vào thời cổ đại tại vùng Cận Đông. Khi Gióp than phiền với Đức Chúa Trời rằng Ngài đã đối xử với ông một cách bất công, Đức Chúa Trời đã nói với Gióp rằng ông có thực sự có biết Ngài là ai hay không mà ông oán trách Ngài.   Để gợi ý cho Gióp biết Ngài là ai, Đức Chúa Trời đã nhắc đến một số công trình sáng tạo lớn lao mà Ngài đã tạo dựng: từ vũ trụ, các thiên thể, trái đất, đến đại dương, sông, nước, ánh sáng; rồi các sinh vật trên đất từ khủng long, đến loài vật phổ thông trên đất như loài chim trên trời, loài thú trên đất, trong đó có ngựa (Gióp 38-40).  Ký thuật về ngựa được ghi lại trong sách Gióp có nhắc đến vài đặc điểm và công dụng của ngựa như sau:

“Có phải ngươi ban sức mạnh cho ngựa, và khoác bờm lên cổ của nó hay không? Ngươi có thể khiến nó nhảy như cào cào, cất tiếng hí oai phong hùng dũng hay không? Nó nhịp chân trong thung lũng, hưng phấn vì sức lực của mình, nó xông vào đối diện với binh đao. Nó xem thường sự sợ hãi, không hề khiếp đảm, không bỏ chạy trước lưỡi gươm. Bên hông của nó, có bao đựng tên khua lách cách, giáo và gươm sáng lấp lánh. Nó hăng say phóng trên đất, không dừng lại khi có tiếng kèn. Khi nghe tiếng kèn, nó nói: A ha! Nó đánh mùi chiến trận từ xa, nghe tiếng hò hét gào thét của những bậc chỉ huy. (Gióp 39:19-25 – BDVN).

Bên cạnh ký thuật trong sách Gióp, Xa-cha-ri đã mô tả sức mạnh của ngựa như sau: Những con ngựa mạnh mẽ đã kéo ra, nôn nóng tuần hành cả đất.”(Xa-cha-ri 6:7).

Ngựa cũng nổi tiếng về sự nhanh nhẹn. Tiên tri Ha-ba-cúc đã mô tả ngựa của người Canh-đê “nhanh hơn những con báo” (Ha-ba-cúc 1:8). Kinh Thánh cũng cho biết sau khi Mạc-đô-chê được phong chức tể tướng, ông đã nhân danh Vua A-suê-ru ban sắc lệnh cho phép người Do Thái được tự vệ, rồi ông sai lính trạm cỡi ngựa hăng và ngựa nòi, là giống ngựa nổi tiếng của Ba Tư, đem sắc lệnh từ Kinh đô Su-sơ đi đến mọi tỉnh trong cả đế quốc Ba Tư (Ê-xơ-tê 8:10-14).

Một Số Ý Nghĩa Của Ngựa Trong Kinh Thánh

Trong nguyên văn Hebrew và Greek, ngựa được nhắc đến 188 lần trong cả Kinh Thánh.

Ngựa được nhắc đến lần đầu tiên trong Kinh Thánh trong Sáng Thế Ký 47:17. Kinh Thánh cho biết khi Giô-sép làm tể tướng tại Ai Cập, ông đã tận dụng nạn đói tại Ai Cập để thu mua những gia súc của dân Ai Cập, trong đó có ngựa, cho triều đình của Pha-ra-ôn.

Phù điêu mô tả các xe chiến mã  của Ramse II, vua của Ai -Cập

Bên cạnh những ký thuật trong Kinh Thánh, các di tích khảo cổ tại vùng Trung Đông mô tả ngựa là biểu tượng về sức mạnh quân đội.

Người Ai Cập có rất nhiều ngựa và xe chiến mã. Đây là niềm kiêu hãnh của người Ai Cập. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời giáng tai họa hủy diệt súc vật của người Ai Cập, trong đó có tai họa cho loài ngựa (Xuất Ê-díp-tô Ký 9:1-3), Đức Chúa Trời đã cho Pha-ra-ôn một lời cảnh cáo: Ngài đang tước đi một phần sức mạnh của người Ai Cập.  Sau đó, Đức Chúa Trời đã triệt hạ sự kiêu hãnh và niềm vinh quang của Ai Cập khi Ngài nhận chìm các kỵ binh và xe chiến mã của quân đội Ai Cập dưới Biển Đỏ. Dân Do Thái đã sống tại Ai Cập hơn 400 năm cho nên họ hiểu rõ sức mạnh của kỵ binh và xe chiến mã của Ai Cập. Vì vậy, khi họ nhìn thấy Đức Chúa Trời hủy diệt những thế lực đó thật dễ dàng, lúc đó họ mới biết rõ hơn về quyền năng của Đức Chúa Trời của họ. Thật vậy, Đức Chúa Trời không chỉ có quyền trên bệnh tật, trên thiên nhiên, nhưng Ngài cũng có quyền hủy diệt các vương quốc nếu Ngài muốn. Sau sự kiện nầy, Kinh Thánh cho biết người Ai Cập cũng như rất nhiều dân tộc khác tại khu vực Trung Đông đã tôn kính Đức Chúa Trời của người Do Thái (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:8-31; Xuất 15:1-21; Giô-suê 2:8-13). Về phần người Do Thái, Kinh Thánh cũng cho biết Đức Chúa Trời muốn người Do Thái mỗi khi nhớ lại sự kiện nầy, họ cần phải vững tin nơi Ngài (Phục Truyền 20:1) và yêu mến Ngài (Phục Truyền 11:1-5).

Trong văn hóa của vùng Trung Đông, ngựa cũng biểu tượng cho sự tôn trọng.  Người cưỡi ngựa là người quyền quý cao trọng.

Phù điêu mô tả các xe chiến mã  của người Babylon

Kinh Thánh cho biết khi Vua A-suê-ru muốn trả ơn cho Mạc-đô-chê là người đã cứu mạng sống của vua, Vua A-suê-ru đã hỏi Tể tướng Ha-man rằng vua cần làm gì cho một người mà vua muốn tôn trọng. Ha-man đã trả lời rằng: “Người nào vua muốn tôn trọng, hãy mang vương bào mà vua đã mặc, cưỡi ngựa mà vua đã cưỡi, cùng với vương miện đã đội trên đầu của vua, rồi hãy trao áo bào và ngựa vào tay của một triều thần tối cao của vua để mặc cho người mà vua muốn tôn trọng, rồi dẫn người đó trên lưng ngựa diễn hành qua quảng trường của thành phố, và hãy hô vang trước người đó rằng: Người mà vua muốn tôn trọng được đối đãi như vậy.” (Ê-xơ-tê 6:6-9 – BDVN).

Bên cạnh người cưỡi ngựa, những người được kỵ binh hộ tống cũng là những người quan trọng.

Sau khi cha của Giô-sép là Gia-cốp qua đời, Giô-sép đã đưa thi hài của Gia-cốp từ Ai Cập về xứ Ca-na-an.  Giô-sép đã cho các kỵ binh và những xe chiến mã đi theo hộ tống linh cữu của Gia-cốp để bày tỏ sự tôn trọng dành cho người cha mà ông tôn kính (Sáng Thế Ký 50:4-11). 

Kinh Thánh cho biết sau khi Sứ đồ Phao-lô bị bắt tại Giê-ru-sa-lem, ông đã được giải đến Sê-sa-rê.  Viên sĩ quan chỉ huy quân đội La-mã tại Giê-ru-sa-lem là Ly-sia đã cử 200 bộ binh, và 70 kỵ binh để giải Sứ đồ Phao-lô đến Sê-sa-rê. Số lượng lính, đặc biệt là số kỵ binh, không phải chỉ để bảo vệ Sứ đồ Phao-lô, nhưng còn bày tỏ tầm quan trọng của ông.  Thêm vào đó, ký thuật trong sách Công Vụ cho biết Ly-sia đã căn dặn các sĩ quan của mình phải chuẩn bị ngựa cho Sứ đồ Phao-lô cưỡi. Chi tiết này xác nhận sự kính trọng của Ly-sia dành cho Sứ đồ Phao-lô. Sau khi đến Sê-sa-rê, Sứ đồ Phao-lô đã không bị giam trong một nhà tù dành cho những tù nhân bình thường, nhưng ông được giữ tại dinh của Vua Hê-rốt (Công Vụ 23:23-34). Tổng đốc Phê-lít cũng dặn cho viên sĩ quan của mình dành sự dễ dãi hơn với Sứ đồ Phao-lô, và đừng ngăn cấm thân nhân của ông đến chăm sóc ông (Công Vụ 24:34).

Trong khi Gia-cốp và Sứ đồ Phao-lô được kỵ binh hộ tống thì Ê-xơ-ra, một nhân vật được vua của Ba-tư là Ạt-ta-xét-xe kính trọng, thêm vào đó Vua Ạt-ta-xét-xe cũng sẵn lòng ban cho ông những gì ông yêu cầu (Ê-xơ-ra 7:6, 7:21), tuy nhiên Ê-xơ-ra đã không được kỵ binh hộ tống. Lý do thật đơn giản đã được Ê-xơ-ra giải thích như sau: “Bởi vì tôi đã hổ thẹn, không xin vua một toán quân và kỵ binh để bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên những người tìm kiếm Ngài để ban điều tốt lành, nhưng quyền năng và thạnh nộ của Ngài chống lại những kẻ lìa bỏ Ngài.”” (Ê-xơ-ra 8:22 – BDVN).  Ê-xơ-ra đã không nhờ cậy vào sự hổ trợ của vua, nhưng ông nhờ cây nơi Đức Chúa Trời.  Ông và đoàn người cùng đi với ông đã kiêng ăn cầu nguyện, và Đức Chúa Trời đã không phụ lòng những người tin cậy Ngài (Ê-xơ-ra 8:23). Mặc dầu không có kỵ binh hộ tống nhưng đoàn người hồi hương sau bốn tháng vượt qua hàng ngàn dặm đường trên sa mạc hoang vu đã từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem cách bình an (Ê-xơ-ra 7:9).

Mặc dầu Mạc-đô-chê, Phao-lô, và Gia-cốp được tôn trọng, và ngựa được ban cho họ sử dụng là những giống ngựa danh tiếng, tuy nhiên chúng chỉ là những con ngựa ở trên trần gian nầy. Tuy nhiên Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự tôn trọng dành cho những đầy tớ trung tín của Ngài bằng cách sai ngựa lửa và xe chiến mã bằng lửa từ trời đến để phục vụ các đầy tớ của Chúa. Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời đã sai xe chiến mã bằng lửa và ngựa lửa đến rước Tiên tri Ê-li về trời (II Các Vua 2:11).   Đức Chúa Trời cũng sai ngựa lửa và xe chiến mã bằng lửa đến bảo vệ người kế nhiệm Tiên tri Ê-li, là Tiên tri Ê-li-sê (II Các Vua 6:14-17) khi thị trấn nơi Tiên tri Ê-li-sê đang sống bị quân đội Sy-ri bao vây.

Trong Kinh Thánh, ngựa được dùng để mô tả sức mạnh của con người.

Như đã nói ở trên, loài người đã biết tận dụng sức mạnh của ngựa và dùng ngựa để tạo sức mạnh cho mình. Vì vậy, có một số người đã ỷ lại vào sức lực của mình, sinh lòng kiêu ngạo không còn tin cậy Chúa nữa (Thi Thiên 20:7), cho nên Đức Chúa Trời đã căn dặn những vị  vua của người Do Thái không nên đi theo con đường đó.  Ngay từ ban đầu khi quốc gia Do Thái đang hình thành, Đức Chúa Trời đã căn dặn các vị vua Do Thái trong tương lai không nên có nhiều ngựa, không nên có nhiều vợ, nhưng phải ghi chép Lời Chúa cho riêng mình để học hiểu và làm theo sự dạy dỗ của Chúa (Phục Truyền 17:14-20).

Di tích khảo cổ các chuồng ngựa của Vua Salomon tại Tel Megiddo
Photo credit: Megiddo Expedition (1920)

Tuy nhiên, Sa-lô-môn, vị vua khôn ngoan nhất của người Do Thái, đã làm ngược lại tất cả những điều Chúa căn dặn.  Sau khi Chúa ban cho Vua Sa-lô-môn sự cường thạnh, ông đã sai người đi đến nhiều quốc gia trong khu vực để mua ngựa (I Các Vua 10:28-29; II Sử-ký 1:16). Kinh Thánh cho biết Sa-lô-môn đã có một ngàn bốn trăm xe chiến mã, bốn chục ngàn tàu ngựa (I Các Vua 4:26; II Sử-ký 9:25).  Thêm vào đó ông cũng có mười hai ngàn kỵ binh (I Các Vua 4:26, 10:26). Vua Sa-lô-môn đã lập ra 12 vị thống đốc, mà một trong những trách nhiệm của những vị nầy là phải luân phiên mỗi tháng  cung cấp lương thực cho vài chục ngàn con ngựa của Vua Sa-lô-môn (I Các Vua 4:27-28).  Ngoài việc không nghe lời Chúa trong việc không nên có nhiều ngựa, bên cạnh công chúa của Ai Cập, Vua Sa-lô-môn cũng lập cho mình một hậu cung có 700 hoàng hậu và 300 cung phi. Những người nầy đã cám dỗ ông xa cách Chúa (I Các Vua 11:1-3). Thay vì sao chép một bản luật pháp của Chúa để đọc cho chính mình và làm theo lời của Chúa, ông lại cho phép những người vợ của ông lập những nơi thờ cúng tà thần tại những khu vực quanh Giê-ru-sa-lem và ngay cả trong Đền Thờ (I Các Vua 11:4-8).  Vì vậy, Chúa đã phạt Vua Sa-lô-môn (I Các Vua 11:9-39). Chỉ trong một thời gian rất ngắn sau khi Sa-lô-môn băng hà, hơn 80% những gì ông xây dựng cho vương quốc của ông đã bị mất. Mười trong mười hai chi tộc của người Do Thái đã tách ra để thành lập nước Y-sơ-ra-ên. Chỉ còn hai chi tộc Giu-đa và Bên-gia-min thuộc về vương quốc Giu-đa (I Các Vua 12:1-23). 

Vài biểu tượng trong văn học

Có rất nhiều thành ngữ trong Thánh Kinh liên quan đến ngựa, và về sau đã được sử dụng rộng rãi trong văn học của nhiều quốc gia.

Gia-cốp, là tổ phụ của người Do Thái, trước khi qua đời, Gia-cốp đã chúc phước cho một con trai của ông là Đan như sau: “Đan sẽ là một con rắn ở bên đường, như một con rắn độc trên lối đi, nó cắn gót chân của ngựa, khiến người cưỡi phải té bật ngửa ra phía sau.” (Sáng Thế Ký 49:17). Như đã nói ở trên, ngựa là loài vật có sức mạnh và có thể chạy nhanh.  Tuy nhiên, tất cả sức lực của ngựa được đặt trên bốn chân của ngựa. Gót chân của ngựa khá nhỏ so với thân thể của ngựa nhưng nó không được bảo vệ; vì vậy khi gót chân của ngựa bị chấn thương, ngựa sẽ bị mất thăng bằng, bị ngã quỵ, và ngựa trở thành vô dụng. Trong văn học, thành ngữ “cắn vào gót chân của ngựa” mô tả một phương cách tấn công trí hiểm làm cho kẻ thù bị gục ngã.

Có một thành ngữ khác liên hệ đến ý tưởng nầy đó là “cắt nhượng ngựa”. Khi Giô-suê vâng lệnh Chúa tiến vào để chiếm xứ Ca-na-an, các vua tại Ca-na-an đã liên minh với nhau thành một đoàn quân rất đông với rất nhiều “ngựa và xe” chiến mã. Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va đã phán với Giô-suê rằng: “Đừng sợ chúng nó! Bởi vì ngày mai vào giờ nầy, Ta sẽ trao tất cả chúng nó để bị giết trước mặt Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ cắt nhượng ngựa của chúng nó và phóng hỏa đốt các xe chiến mã của chúng nó.” (Giô-suê 11:6). Thật vậy, đúng như lời Đức Chúa Trời đã phán, Giô-suê và quân đội của ông đã bất thần tấn công các vua Ca-na-an. Họ đã tiêu diệt cả đạo quân của các vua Ca-na-an. Sau đó, Giô-suê đã “cắt nhượng ngựa” và phóng hỏa đốt những xe chiến mã của chúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán (Giô-suê 11:7-9). Tương tự, trong II Sa-mu-ên 8:3-4, Đa-vít cũng cắt nhượng của những con ngựa kéo xe chiến mã của Ha-đa-đê-xe, là vua của Xô-ba. Nhượng ngựa là gân chân của ngựa. Trong văn học, thành ngữ “cắt nhượng ngựa” có nghĩa là làm tê liệt sức mạnh của quân thù.

Trong câu chuyện của Giô-suê, có một thành ngữ khác liên quan đến ngựa, đó là “ngựa và xe”.  Nhiều “ngựa và xe” nghĩa là có sức mạnh quân sự hùng hậu (Giô-suê 11:4; I Các Vua 4:26, 10:26, 20:1). “Giết ngựa và xe” có nghĩa là hủy diệt sức mạnh. “Sắm ngựa và xe” có nghĩa là phô trương thanh thế. Áp-sa-lôm, con trai của Đa-vít, khi muốn chiếm ngôi vua, đã mua ngựa và xe, có năm mươi người lính đi trước, để gây thanh thế và tìm kiếm sự tôn trọng của dân chúng (2 Sa-mu-ên 15:1).

Ngựa là loài có móng cứng cho nên ngựa không thể chạy trên những vầng đá, bởi vì ngựa sẽ bị trượt ngã. Người nào cưỡi ngựa trên vầng đá là thực hiện một hành động vô lý, trái ngược với kiến thức căn bản, thiếu khôn ngoan, sẽ  đem lại tai hại cho chính mình. Tiên tri A-mốt đã dùng hình ảnh đó để mô tả cách cư xử vô lý của người Do Thái: “Ngựa có chạy trên những vầng đá hay sao? Người ta có đem bò cày ở đó hay không? Nhưng các ngươi đã đổi công lý thành sự oán hận, và trái của sự công chính thành cay đắng” (A-mốt 6:12).

Trong văn hóa của người Trung Đông, ngựa cũng được dùng để mô tả dục tính buông tuồng.  Tiên tri Giê-rê-mi đã viết về tình trạng đạo đức sa đọa của những nhân vật quyền lực trong xã hội Do Thái vào thời mà đất nước của họ sắp bị Chúa trừng phạt như sau: “Chúng nó cũng như con ngựa mập chạy lung, mỗi một người theo sau vợ của kẻ lân cận mình mà hí.” (Giê-rê-mi 5:8). Tiên tri Ê-xê-chi-ên nói thêm: “Nó phải lòng những kẻ yêu mình, những kẻ ấy thịt như thịt lừa, dâm quá như ngựa.” (Ê-xê-chi-ên 23:20).

Vì ngựa là loài rất mạnh và nhanh nhẹn cho nên khó có thể kiểm soát. Tác giả Thư Gia-cơ cho biết người ta phải tra hàm thiếc vào miệng ngựa, thì nó mới chịu khuất phục và mới có thể sai khiến nó được (Gia-cơ 3:3). Tác giả Thư Gia-cơ nói rằng cái lưỡi của con người mặc dầu rất nhỏ nhưng nó cũng mạnh giống như một con ngựa, và cần phải được kiểm soát và kiềm chế (Gia-cơ 3:2-5).

Biểu tượng về quyền năng của Đấng Cứu Thế

Trong Thánh Kinh Cựu Ước, Tiên tri Xa-cha-ri cho biết Đấng Cứu Thế sẽ đến với con người lần đầu tiên trong hình ảnh một nhân vật hiền hòa khiêm nhu.  Ngài sẽ cỡi trên lưng của một con lừa con (Xa-cha-ri 9:9-10). Ký thuật trong Tân Ước cho biết Đức Chúa Jesus đã vào thành Giê-ru-sa-lem trong một hình ảnh như vậy (Ma-thi-ơ 21:5-7; Mác 11:1-7; Lu-ca 19:30-35).

Tuy nhiên, những lời tiên tri trong sách Khải Huyền cho biết, Đấng Christ sẽ trở lại thế giới trong vị thế khác hẳn lần đầu. Đức Chúa Jesus sẽ trở lại thế giới trong vị thế của một Đấng Chinh Phục.  Đức Chúa Jesus sẽ cỡi một con ngựa trắng cùng với một đoàn quân cỡi ngựa trắng đi theo Ngài.  Ngài sẽ chinh phục và phán xét thế gian: “Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng.  Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.” (Khải Huyền 19:11-16 – BDVN).

Tóm Lược

Trong nguyên văn Kinh Thánh, ngựa được nhắc đến 188 lần. Ngựa thường được dùng để mô tả sức mạnh, quyền lực và địa vị cao trọng.  Thêm vào đó, đặc tính của ngựa còn được dùng để mô tả một số ý nghĩa khác. Kinh Thánh đã dùng hình ảnh của ngựa để nhắc nhở người tin Chúa đừng ỷ lại hay nương dựa vào sức lực của con người, nhưng chúng ta cần nương dựa nơi sự tể trị và quyền năng của Chúa. Kinh Thánh cho biết trong thời cuối cùng Đức Chúa Jesus sẽ cỡi ngựa bạch trở lại thế giới như một vị vua để chinh phục và phán xét thế gian.

Trong năm Bính Ngọ, cầu xin Chúa ban cho chúng ta năng lực từ nơi Ngài để hầu việc Chúa một cách hăng say không mệt mỏi (Ê-sai 40:31).

Phước Nguyên

Đọc thêm:


Thư Viện Tin Lành (2026)
www.thuvientinlanh.org

https://x.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/thuvientinlanh
https://www.facebook.com/bientaptvtl

©2012-2023 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top