Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Lịch Sử » Kỷ Niệm Giáng Sinh Trong Mùa Hè

Kỷ Niệm Giáng Sinh Trong Mùa Hè

Kỷ Niệm Giáng Sinh Trong Mùa Hè

Có bao giờ bạn nghe nói về một chương trình kỷ niệm Giáng Sinh được tổ chức vào tháng Tám, ngay giữa mùa hè hay không?  Các đây 59 năm, có một Hội Thánh tại Hoa Kỳ đã tổ chức một chương trình như vậy; và lý do của việc tổ chức chương trình này là để gây quỹ giúp xây một nhà thờ tại Việt Nam.

Tường Thuật Của Báo Chí

Việc một Hội Thánh tổ chức kỷ niệm lễ Giáng Sinh vào một thời điểm bất thường trong năm –  ngay giữa mùa hè – đã khiến báo chí địa phương chú ý.  Tờ The News của thị trấn Danville tại Pennsylvania đã đăng trong số báo Thứ Sáu, ngày 21/8/1959 một bản tin với tựa đề như sau: “Những Người Trong Hội Thánh Đã Tổ Chức Kỷ Niệm Giáng Sinh Trong Mùa Hè”.

Tờ báo cho biết mới đây Hội Thánh Christian and Missionary Alliance (CMA) tại Mahoning Manor đã kỷ niệm lễ Giáng  Sinh trong một Chúa Nhật ngay giữa mùa hè.  Cả Hội Thánh cùng với ban hát đã hát những ca khúc giáng sinh và nghe thuật lại những chuyện tích trong Kinh Thánh về việc Chúa giáng sinh.  Tờ báo cho biết mục đích của việc tổ chức chương trình Giáng Sinh vào mùa hè là để giúp cho các tín hữu tại Việt Nam.

Bài báo của tờ The News phát hành ngày 21/8/1959 

Tờ báo trích dẫn lời của một đại diện Hội Thánh tại Mahoning Manor cho biết khi Phúc Âm của Chúa được công bố thì sẽ có thêm nhiều người tin Chúa, và do đó cần có những nhà thờ lớn hơn và cần thêm những cơ sở để dạy Kinh Thánh.   Người đại diện của Hội Thánh Mahoning Manor cho biết Hội Thánh của họ có giúp một sinh viên Trường Kinh Thánh tại Việt Nam tên là Khoa. Sinh viên này đã lập gia đình và có nhiều con.  Sinh viên này đã làm rất nhiều điều cho cộng đồng của mình và đã đưa dẫn nhiều người đến với Chúa.  Hội Thánh tại đó muốn xây dựng nhà thờ và nhu cầu xây dựng ngôi nhà thờ nơi người này hầu việc Chúa đã cảm động lòng của các tín hữu tại Hội Thánh Mahoning Manor tại Pennsylvania. Hội Thánh Mahoning Manor đã gây quỹ được $31.69 để giúp cho việc xây nhà thờ tại Việt Nam.  Bên cạnh đó, những học viên các lớp Trường Chúa Nhật của Hội Thánh cũng quyết định trích một ít tiền để mua quà cho các con của sinh viên Trường Kinh Thánh này.

Tờ The News đã đăng hai tấm hình.  Bức hình đầu tiên chụp hình người đại diện Hội Thánh Mahoning Manor ngồi bên cạnh bích chương (poster) trong đó hình của các tín hữu Hội Thánh Thạch Bàn chụp trước ngôi nhà thờ làm bằng tranh, và bức ảnh cá nhân của một sinh viên Trường Kinh Thánh Đà Nẵng. 

Hình Hội Thánh Mahoning Manor gây quỹ giúp
Hội Thánh Thạch Bàn – Phú Yên 

Bức hình thứ hai chụp các bà trong Ban Phụ Nữ của Hội Thánh Mahoning Manor đang chuẩn bị quà giáng sinh cho các con của sinh viên Trường Kinh Thánh ở Việt Nam.

Liên Kết Trong Đức Tin

Tờ The News đưa tin về chương trình Giáng Sinh tại Hội Thánh Mahoning Manor đã được tổ chức vào giữa mùa hè, tuy nhiên tờ báo không cho biết làm thế nào Hội Thánh Mahoning Manor lại biết về Hội Thánh Thạch Bàn và sinh viên Trường Kinh Thánh tại Việt Nam.  Nguồn gốc của câu chuyện bắt đầu trước đó hai năm.

Sau khi hoàn tất hai năm học đầu tiên tại Trường Kinh Thánh Đà Nẵng, năm 1957 sinh viên Đặng Đăng Khoa được bổ nhiệm đến thực tập hầu việc Chúa tại Hội Thánh Thạch Bàn, Phú Yên trong một thời gian là hai năm. Sau khi hoàn tất hai năm tập sự, sinh viên sẽ trở về Trường Kinh Thánh để học tiếp chương trình tốt nghiệp. Theo quy định của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vào lúc đó, những sinh viên đang hầu việc Chúa trong chức vụ Truyền Đạo nhưng chưa hoàn tất chương trình tốt nghiệp được gọi là Truyền Đạo Sinh (Student Preacher).

Trường Kinh Thánh Đà Nẵng – Niên Khóa 1956-1957
Truyền đạo Đặng Đăng Khoa là người thứ 5 trong hàng thứ 3 từ bên phải

Trường Kinh Thánh Đà Nẵng – Niên Khóa 1956-1957
Truyền đạo Đặng Đăng Khoa là người thứ 3 trong hàng thứ 2 từ bên trái

Cũng trong năm 1957, sinh viên Thomas Stebbins vừa tốt nghiệp tại Trường Kinh Thánh Nyack trở về Việt Nam để phục vụ trong chức vụ giáo sĩ. Nhiệm sở đầu tiên của Giáo sĩ Thomas Stebbins tại Việt Nam là tỉnh Phú Yên.  Tại Phú Yên, Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa, Giáo sĩ Thomas Stebbins, và các Truyền Đạo khác trong tỉnh Phú Yên đã được Mục sư Nguyễn Văn Thìn hướng dẫn. 

Hàng trước: Truyền Đạo Đặng Đăng Khoa, Mục sư Nguyễn Văn Thìn, Truyền Đạo Trương Đoan Dương, Truyền Đạo Nguyễn Kim Khánh
Hàng sau: Truyền đạo Ngô Tấn Phi, Giáo sĩ Thomas Stebbins 

Hàng trước: Truyền Đạo Nguyễn Kim Khánh,  Mục sư Nguyễn Văn Thìn, Truyền Đạo Đặng Đăng Khoa
Hàng sau: Giáo sĩ Thomas Stebbins, Truyền đạo Đinh Thống  

Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa và Giáo sĩ Thomas Stebbins đều là những sinh viên mới rời khỏi Trường Kinh Thánh, đang bắt đầu tập sự hầu việc Chúa; do đó hai người đã kết thân và cộng tác với nhau.  Từ Tuy Hòa, tỉnh lỵ của tỉnh Phú Yên, Giáo sĩ Thomas Stebbins thường đến thăm Hội Thánh Thạch Bàn, nơi Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa đang hầu việc Chúa.

Hội Thánh Thạch Bàn là một Hội Thánh nhỏ tại một vùng quê hẻo lánh thuộc phía tây của tỉnh Phú Yên.  Trong giai đoạn chiến tranh Việt Pháp diễn ra (1946-1954), Hội Thánh Thạch Bàn không có người quản nhiệm, bởi vì trước đó Mục sư Trần Trọng Giao và Truyền Đạo Nguyễn Kim Khánh khi được cử đến hầu việc Chúa tại Thạch Bàn đã bị Việt Minh bắt.  Sau khi Hiệp Định Geneve được ký kết, Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa là người đầu tiên được bổ nhiệm về Thạch Bàn để gây dựng lại Hội Thánh.

Vì thường đến thăm Hội Thánh Thạch Bàn, Giáo sĩ Thomas Stebbins hiểu rõ những khó khăn của Hội Thánh tại đây – đặc biệt khi một Hội Thánh nhỏ, nghèo, tại một vùng hẻo lánh quyết định lấy đức tin xây dựng một nhà thờ. 

Trong những năm chiến tranh, Hội Thánh Thạch Bàn có một căn nhà thờ nhỏ làm bằng lá tranh, nằm trong một khu đất thấp, ở giữa ruộng, xa cách với các lối đi trong làng. Năm 1958, Hội Thánh Thạch Bàn có thêm nhiều người tin Chúa và Hội Thánh cần một nơi tốt hơn để thờ phượng Chúa.  Các tín hữu trong Hội Thánh đã dâng tiền và mua được một miếng đất gần bến xe trong thị trấn Thạch Bàn. Dựa theo Lời Chúa trong Ma-thi-ơ 5:14 “Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”, Hội Thánh Thạch Bàn ước mong xây dựng một ngôi nhà thờ khang trang hơn để làm nơi thờ phượng Chúa, và tại một nơi mà nhiều người có thể thấy được để qua đó họ biết đến Chúa.

Sau khi mua đất xong, các tín hữu trong Hội Thánh Thạch Bàn đã dâng tiền để xây nhà thờ.  Vì các tín hữu trong Hội Thánh nghèo, số tiền dâng không có nhiều, Hội Thánh đã dùng tiền dâng để mua vật liệu và trả công những thợ chuyên môn, còn các công việc phụ khác, các tín hữu trong Hội Thánh đã đóng góp công sức để cùng làm. Tuy nhiên, vì tài chánh rất giới hạn, công việc xây dựng nhà thờ vẫn chưa xong.

 

Truyền đạo Đặng Đăng Khoa, Giáo sĩ Thomas Stebbins và Hội Thánh Thạch Bàn (1958)

Bốn mươi ba năm sau, Giáo sĩ Thomas Stebbins đã viết về Hội Thánh Thạch Bàn và Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa, người bạn cùng hầu việc với mình trong thời gian đó, trong sách Truyền Giáo Theo Thánh Kinh, trang 58-59, ấn bản Việt Ngữ xuất bản vào năm 2001, như sau:

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Khoa khi thầy đem gia đình mình về làng Thạch Bàn để phục vụ với chức vụ truyền đạo sinh, trong một chi hội Tin Lành nhỏ của những người nông dân làm lụng vất vả. Ngay sau khi tới đó, thầy mời tôi hiệp tác để tổ chức một cuộc truyền giảng tại nhà thờ Thạch Bàn.  Nhờ đó có nhiều người mới thêm vào Hội Thánh Thạch Bàn.  Thầy Khoa làm việc rất kham khổ, hết lòng đi thăm tất cả các tín hữu, chuẩn bị những lễ thờ phượng vào Chúa Nhật.  Thầy Khoa hăng hái tiếp tục phát triển công việc Chúa một cách sống động.

Tín đồ trong Hội Thánh tại đây quyết định xây cất một nhà thờ lớn hơn, đủ tiện nghi cho tất cả con cái Chúa thờ phượng Chúa.  Là những nông dân nghèo, họ không có tài chánh cho một công trình lớn như vậy.  Không có ngân hàng để cho mượn tiền.  Họ phải làm gì đây?  Họ cổ động đủ tiền để mua xi măng, rồi chuyển cát bằng tay từ con sông gần đó để đúc gạch xi-măng.  Họ phải đốn cây trong rừng và mang tới công trường để làm gỗ sàn nhà, cửa ra vô và cửa sổ.

Là một truyền đạo sinh, thầy Khoa có thể chỉ đứng bên ngoài và quan sát dự án.  Nhưng thầy là một người làm việc hăng say.  Một hôm tôi đến công trường xây cất mà không nói trước.  Tại đó tôi thấy thầy Khoa mặc bộ quần áo đen, đi chân không, đầu đội nón lá, cũng giống như những nông dân tại đó.  Thầy đang gánh hai thúng cát bằng một cái đòn gánh trên vai.  Càng ngạc nhiên hơn nữa là thầy đã làm việc suốt đêm, dưới ánh trăng!

Khi thấy các tín hữu Hội Thánh Thạch Bàn đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không đủ khả năng để hoàn tất việc xây cho xong nhà thờ, Giáo sĩ Thomas Stebbins đã liên lạc với những người quen và bạn bè kêu gọi họ giúp đỡ.  Một trong những người bạn đó là Mục sư Ronald Julian, quản nhiệm Hội Thánh Mahoning Manor tại Pennsylvania.

Mục sư Ronald Julian và vợ vốn là bạn học với Giáo sĩ Thomas và Donna Stebbins tại Trường Kinh Thánh Nyack.  Mục sư Ronald Julian cũng mới tốt nghiệp Trường Kinh Thánh không lâu và đang đảm nhận một Hội Thánh nhỏ. Khi nhận được thư của người bạn mình đang làm giáo sĩ tại Việt Nam trong đó có bức hình của Hội Thánh Thạch Bàn chụp trước ngôi nhà thờ làm bằng lá tranh, Mục sư Ronald Julian và Hội Thánh Mahoning Manor được cảm động sâu xa.  Phía sau bức hình của Hội Thánh Thạch Bàn, Giáo sĩ Thomas Stebbins đã ghi những dòng nhữ sau:

“Đây là nhóm tín hữu tại Hội Thánh Thạch Bàn.  Hội Thánh đã tăng thêm rất nhiều so với khi chụp bức hình này.  Hiện nay họ đang nỗ lực gây quỹ để xây một nhà thờ mới bởi vì ngôi nhà thờ bằng tranh đã quá chật.”


Chú thích của Giáo sĩ Thomas Stebbins về Hội Thánh Thạch Bàn

Khi biết Hội Thánh Thạch Bàn đã tăng trưởng và các tín hữu trong Hội Thánh tại đây đã làm hết sức mình để xây dựng một nhà thờ mới, nhưng chưa làm xong được, vì thiếu tài chính, Hội Thánh Mahoning Manor, mặc dầu là một Hội Thánh nhỏ – không đủ khả năng trả phụ cấp cho Mục sư – nhưng dựa theo lời Kinh Thánh “lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin” (Ga-la-ti 6:10), Hội Thánh Mahoning Manor đã tổ chức một chương trình Giáng Sinh đặc biệt vào mùa hè và kêu gọi những người tham dự dâng hiến để giúp Hội Thánh tại Thạch Bàn.  Mặc dù số tiền quyên góp được không nhiều, chỉ có $31.69, nhưng tấm lòng của các tín hữu tại Hội Thánh Mahoning Manor dành cho công việc Chúa tại Việt Nam là rất lớn.

Tháng 10 năm 1959, số tiền quyên cho việc xây nhà thờ Thạch Bàn và những món quà của Hội Thánh dành cho các con của sinh viên Trường Kinh Thánh đã được gởi sang cho Giáo sĩ Thomas Stebbins tại Việt Nam.  Giáo sĩ Thomas Stebbins đã mang tiền dâng và quà đến trao cho Hội Thánh và gia đình Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa (I Phi-e-rơ 4:10).  Sau khi trao quà, Giáo sĩ Thomas Stebbins đã cẩn thận chụp một bức hình cho thấy các món quà đã được trao đến cho từng người nhận.  Bức hình sau đó đã được gởi sang Hoa Kỳ cho Hội Thánh Mahoning Manor.

Quà Giáng Sinh từ Hội Thánh Mahoning Manor (1959)

Đầu năm 1960, với sự dâng hiến của Hội Thánh Thạch Bàn, cùng với sự giúp đỡ của các Hội Thánh tại Việt Nam và nhiều nơi khác, ngôi nhà thờ mới của Hội Thánh Thạch Bàn đã được hoàn tất.

Giáo sĩ Thomas và Donna Stebbins, Truyền đạo và bà Đặng Đăng Khoa, cùng các tín hữu chụp hình trước ngôi nhà thờ mới của Hội Thánh Thạch Bàn (1960)

Mặc dầu Giáo sĩ Thomas Stebbins biết việc Hội Thánh Mahoning Manor đã gởi tiền dâng giúp Hội Thánh Thạch Bàn và đã gởi quà Giáng Sinh cho các con của sinh viên Trường Kinh Thánh, nhưng Hội Thánh Thạch Bàn và Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa không biết điều đó.  Họ chỉ biết có một Hội Thánh từ bên Mỹ giúp đỡ mà thôi. 

Vài tháng sau khi nhà thờ Thạch Bàn xây xong, Truyền Đạo Sinh Đặng Đăng Khoa rời Hội Thánh Thạch Bàn trở về học chương trình tốt nghiệp. Giáo sĩ Thomas Stebbins sau đó cũng rời Phú Yên, thuyên chuyển ra Huế. 

Câu chuyện xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ dường như đã đi vào quên lãng; tuy nhiên cách đây hai năm, theo sự sắp đặt kỳ diệu của Chúa, câu chuyện đã được nhắc trở lại. 

Họp Mặt

Tại Dayton, Ohio có một nhóm tín hữu Việt Nam thường xuyên thờ phượng Chúa hằng tuần tại một nhà thờ của Hội Thánh Tin Lành Giám Lý. Vì tại Dayton không có mục sư Việt Nam, Chúa Nhật ngày 7/8/2016 nhóm tín hữu này đã mời một mục sư người Mỹ về hưu đến giảng và cử hành lễ Tiệc Thánh.  Trong khi chia sẻ Lời Chúa, vị mục sư này cho biết đây không phải là lần đầu tiên ông giúp một Hội Thánh Việt Nam.  Cách đây hơn 50 năm ông và Hội Thánh của ông có giúp một Hội Thánh nhỏ tại Việt Nam. Vị mục sư về hưu đó chính là Mục sư  Ronald Julian.

Thứ Sáu ngày 12/8/2016, anh Phạm Khiêm, con trai Mục sư Phạm Văn Năm, là người đại diện Hội Thánh Việt Nam tại Dayton, đã mời Mục sư  Ronald Julian đi ăn trưa để cảm ơn Mục sư đã đến giảng cho Hội Thánh.  Trong bữa ăn trưa đó, Mục sư  Ronald Julian đã đưa cho anh Khiêm xem những bức hình mà ông đã giữ suốt 57 năm qua.  Mục sư Ronald Julian hỏi anh Khiêm có biết những người trong những bức hình đó hay không, bây giờ họ ở đâu, và hoàn cảnh họ thế nào?

Anh Khiêm trả lời không những anh biết vị truyền đạo trong những bức hình này, mà còn biết rất rõ nữa; bởi vì từ lúc còn nhỏ anh đã theo ba anh đến thăm nhà thờ nơi vị truyền đạo này hầu việc Chúa.  Vị truyền đạo đó chính là Mục sư Đặng Đăng Khoa.  Các con của Mục sư Khoa là bạn của anh.  Thêm vào đó, con gái út của của Mục sư Đặng Đăng Khoa là Mục sư Esther Đặng, chính là cựu quản nhiệm của Hội Thánh Việt Nam tại Dayton, Ohio.  

Sau đó, anh Phạm Khiêm đã xin phép Mục sư Ronald Julian chụp lại những tấm hình và bài báo của tờ The News, và đã gởi đến cho gia đình của Mục sư Đặng Đăng Khoa.

Khi biết được điều này, gia đình Mục sư Đặng Đăng Khoa đã mời Mục sư Ronald Julian và bà đến thăm California; tuy nhiên vì tuổi già và sức khỏe yếu nên Mục sư Ronald Julian đã từ chối. 

Tháng 9 năm 2018 vừa qua, nhân dịp sinh nhật lần thứ 90 của bà Mục sư Đặng Đăng Khoa, gia đình Mục sư Đặng Đăng Khoa đã ngỏ lời mời một lần nữa, và lần này ông bà Mục sư Ronald Julian đã nhận lời đến dự. Trong dịp này ông bà đã thuật lại câu chuyện mà chúng ta đã đọc ở trên.

Mục sư Ronald Julian cho biết Hội Thánh Mahoning Manor lúc đó cũng là một Hội Thánh nhỏ. Họ cũng thiếu thốn.  Trong những năm đầu ông bà hầu việc Chúa tại đây, Hội Thánh không đủ khả năng phụ cấp cho Mục sư. Dầu vậy, tình yêu thương những người cùng đức tin đang gặp khó khăn đã thúc đẩy họ hành động; và tình yêu đó là giá trị đích thực của những gì mà họ trao tặng (I Cô-rinh-tô 13:3). Mục sư Ronald Julian cho biết đối với ông: niềm vui của người tặng quà còn nhiều hơn là niềm vui của người được nhận quà tặng.  Mục sư Ronald Julian cũng cho biết ông đã hầu việc Chúa với Giáo hội CMA trong suốt nhiều năm, đã từng làm Giáo Hạt Trưởng, và bây giờ ông đã về hưu.  Ông bà cũng có con làm giáo sĩ tại Phi Châu.

Sau đó, Mục sư và bà Ronald Julian đã chụp hình kỷ niệm với những người mà ông bà và Hội Thánh Mahoning Manor đã giúp 59 năm trước.

Mục sư và bà Ronald Julian cùng
bà Mục sư Đặng Đăng Khoa và năm người con đã nhận quà vào năm 1959

Có một chi tiết đáng lưu ý trong bài viết của tờ The News là khi vị đại diện Hội Thánh Mahoning Manor giới thiệu gia đình của sinh viên Trường Kinh Thánh tại Việt Nam với tờ The News, ông cho biết sinh viên này đã có năm đứa con (five children); tuy nhiên phóng viên của tờ The News cho rằng có lẽ mình đã nghe lầm vì làm thế nào một người đang còn học Trường Kinh Thánh mà đã có “năm đứa con” (five children), nên bài báo đã sửa lại là sinh viên này có “những đứa con xinh đẹp” (fine children). 

Phóng viên của tờ The News có lẽ không biết là trước khi theo học Trường Kinh Thánh, Truyền Đạo Đặng Đăng Khoa đã lập gia đình và là hiệu trưởng một trường tiểu học ở địa phương.  Sau khi được Chúa kêu gọi, ông đã quyết định từ bỏ nghề nghiệp để đi hầu việc Chúa.  Lúc đó, ông đã có bốn con.  Người con thứ năm đã được sanh tại Hội Thánh Thạch Bàn.

Năm đứa trẻ đã nhận quà đó bây giờ ra sao?

Cậu con trai lớn nhất – cậu bé quỳ dưới đất trong bức hình chụp năm 1959 – là Mục sư Đặng Ngọc Báu.  Ông đã hầu việc Chúa với Hội Thánh Christian and Missionary Alliance (CMA) của Giáo Hạt Việt Nam tại Hoa Kỳ, làm  quản nhiệm các Hội Thánh Long Beach (CMA), Hội Thánh Hawthorne (CMA), và Hội Thánh Los Angeles (CMA), đồng thời làm Đoàn Trưởng Thanh Niên, và Đoàn Trưởng Nam Giới Giáo Hạt Tin Lành Việt Nam; và sau đó làm Mục Sư và Giáo Hạt Trưởng của Hội Thánh Giám Lý Hoa Kỳ (United Methodist Church); và cũng là dịch giả của Bản Dịch Kinh Thánh 2011 phát hành vào dịp kỷ niệm 100 năm các giáo sĩ CMA đến Việt Nam.

Cậu con trai kế – cậu bé ôm chiếc xe chửa lữa trong bức hình chụp năm 1959 – là Đặng Ngọc Quý, một kỹ sư đã về hưu.  Ông đã từng phục vụ trong Hội Đồng Quản Trị của Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam trong thập niên 1990.

Hai cô con gái đứng giữa tấm hình chụp vào năm 1959 là Đặng Thanh Bình và Đặng Thúy Anh. Mười sáu năm sau khi chụp bức hình này, hai cô đã vào Trường Kinh Thánh Nha Trang, học khóa cuối cùng của Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang (1975-1976) trước khi Thần Học Viện bị nhà cầm quyền cộng sản chiếm giữ. 

Cô Đặng Thanh Bình, người đứng bên cạnh cha, về sau trở thành vợ của Mục sư Lê Văn Thanh, đã cùng chồng hầu việc Chúa tại Châu Khánh (Sóc Trăng), Thuận Mỹ (Long An), Phước Bình (Thủ Đức), Linda Vista (San Diego), và Pomona (Los Angeles).  Mục sư Lê Văn Thanh và vợ vừa về hưu vào tháng 6/2018.  

Cô Đặng Thúy Anh, người đứng trước trong tấm hình, về sau trở thành vợ của Mục sư Nguyễn Mạnh Cường. Cô đã cùng chồng hầu việc Chúa tại Linda Vista (San Diego), Grand Rapids (Michigan), Lansing (Michigan), và Wesley United Methodist Church (San Diego) – là nơi tổ chức cuộc họp mặt với Mục sư và bà Ronald Julian.

Cậu bé được mẹ bồng trên tay là Đặng Ngọc Quốc, một kỹ sư về hưu, và cũng là một nhạc sĩ đã sáng tác nhiều ca khúc. Một số sáng tác của anh Đặng Ngọc Quốc đã được chọn làm thánh ca.  Anh Đặng Ngọc Quốc đã tốt nghiệp cao học tại Fuller Seminary, California, và đang chờ để được thụ phong mục sư.

Người phụ nữ trong tấm hình là vợ của Mục sư Đặng Đăng Khoa. Bà vừa kỷ niệm sinh nhật 90 tuổi.  Bà đã sinh cho Mục sư Đặng Đăng Khoa 13 người con, hiện còn 11 người; trong đó có 3 người con và 4 người rể làm mục sư.

Chồng của bà là Mục sư Đặng Đăng Khoa, đã hầu việc Chúa bốn mươi bốn năm tại Việt Nam.  Năm 1989, khi đã đến tuổi về hưu, Mục sư Đặng Đăng Khoa đã di trú và sang định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi đến Hoa Kỳ, Mục sư Đặng Đăng Khoa đã hầu việc Chúa với Giáo hội Southern Baptist bốn  năm tại Linda Vista, San Diego.

Mục sư Đặng Đăng Khoa đã về với Chúa vào tháng 10/2010. Tổng cộng gia đình của Mục sư Đặng Đăng Khoa hiện nay là 62 người, bao gồm các con, dâu, rể, cháu, và chắt.   

Câu chuyện trên ghi lại gương đức tin, hành động xuất phát từ tình yêu, và tấm lòng đầu phục Chúa của các tín hữu và những người hầu việc Chúa trong thế hệ trước.   Tuy nhiên trên những điều đó, câu chuyện này nhắc chúng ta về tình yêu, sự thành tín, lòng nhân từ và ân điển của Đức Chúa Trời dành cho những người kính mến Ngài.   Những người gieo trong nước mắt, sẽ gặt cách vui mừng. Người nào vừa đi vừa khóc mang giống ra gieo, chắc chắn sẽ trở về với niềm vui và mang những bó lúa với mình.” (Thi Thiên 126:5-6). Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta rằng, dầu người hầu việc Chúa ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Đức Chúa Trời biết hoàn cảnh của người đó, và Ngài sẽ chăm sóc lo lắng cho những người hầu việc Ngài.  

Phước Nguyên
Tháng 10/2019

Tham Khảo:

  • The News, “Church People Hold Yuletide in Summer”, 21/8/1958, Danville, Pennsylvania.
  • Thomas Stebbins, “Truyền Giáo Theo Thánh Kinh”, Christian Publication, Camp Hill, Pennsylvania, 2001.
  • Đặng Đăng Khoa, “Những Tháng Năm Theo Chúa”, San Diego, California, 2011.

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top