Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Tìm Hiểu: Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh – Phần 4

Tìm Hiểu: Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh – Phần 4

Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh

4. Làm sinh tế

Tuy nhiên công dụng của bò được nhắc đến nhiều lần nhất trong Kinh Thánh đó là được dùng để làm sinh tế. Sinh tế là một sinh vật được dâng làm vật tế lễ trong nghi lễ thờ phượng của người Do Thái.  Người Do Thái dâng bò trong nhiều nghi lễ khác nhau. 

Bên cạnh việc dâng bò làm sinh tế theo quy định được ghi lại trong Ngũ Kinh, người Do Thái cũng dâng rất nhiều bò đặc biệt vào những dịp lễ lớn đánh dấu sự phấn hưng của dân tộc Do Thái.

a. Lễ khánh thành Đền Thờ

Lịch sử Do Thái ghi nhận bò được dâng rất nhiều vào dịp khánh thành Đền Thờ. Kinh Thánh cho biết trong lễ khánh thành Đền Thờ đầu tiên, Vua Sa-lô-môn đã dâng 22.000 con bò đực làm lễ vật tạ ơn nhân dịp khánh thành Đền Thờ đã được xây dựng để tôn vinh Đức Chúa Trời (1 Các Vua 8:63;  II Sử Ký 7:5). Trước đó vài ngày, người Do Thái đã tổ chức lễ rước Hòm Giao Ước vào Đền Thờ mới. Trong dịp này, Vua Sa-lô-môn và dân chúng đã đem rất nhiều bò và chiên đến để dâng hiến.  Kinh Thánh cho biết số lượng súc vật, trong đó có bò, rất nhiều đến nỗi không thể đếm được (II Sử Ký 5:6).

Trong lễ khánh thành Đền Thờ được xây dựng lần thứ hai, người Do Thái dưới thời Ê-xơ-ra chỉ có thể dâng 100 con bò đực (E-xơ-ra 6:17).  Lúc đó người Do Thái vừa hồi hương không được bao lâu.  Họ không có nhiều gia súc để dâng vào dịp này như dưới thời của Vua Sa-lô-môn.

b. Lễ Vượt Qua

Lễ Vượt Qua là lễ kỷ niệm Đức Chúa Trời giải cứu người Do Thái khỏi Ai Cập sau hơn bốn thế kỷ họ bị làm nô lệ tại quốc gia nầy. Lễ Vượt Qua cũng là dịp để người Do Thái cảm tạ Đức Chúa Trời đã gìn giữ các con trai đầu lòng của họ khỏi bị giết trước khi họ rời khỏi Ai Cập.

Mặc dù trong lễ Vượt Qua đầu tiên Đức Chúa Trời chỉ truyền cho người Do Thái dùng chiên hoặc dê trong lễ kỷ niệm (Xuất Ê-díp-tô 12:3-11).  Tuy nhiên về sau Đức Chúa Trời đã truyền  cho người Do Thái hãy dùng chiên và bò để dâng trong lễ Vượt Qua (Phục Truyền 16:2).

Khi Vua A-cha lên ngôi cầm quyền tại vương quốc Giu-đa, ông đã thờ tà thần Ba-anh và không thờ phượng Đức Chúa Trời.  Dưới thời Vua A-cha trị vì, người Do Thái không giữ lễ Vượt Qua trong suốt 16 năm (II Sử Ký 28).  Đến khi Vua Ê-xê-chia lên ngôi, ông đã cho sửa sang lại Đền Thờ của Đức Chúa Trời và tái lập lại sự thờ phượng Chúa.  Vua Ê-xê-chia cũng cho tái lập việc kỷ niệm lễ Vượt Qua. Để đánh dấu sự kiện quan trọng đưa cả một dân tộc trở lại sự thờ phượng Chúa, Vua Ê-xê-chia đã dâng 1000 con bò để tổ chức lễ Vượt Qua.  Các viên chức của ông cũng dâng thêm 1000 con bò, rồi họ mời cả dân chúng trong một số chi phái thuộc vương quốc Y-sơ-ra-ên ở phía bắc, cùng đến để dự lễ Vượt Qua với dân chúng thuộc vương quốc Giu-đa ở phía nam (II Sử Ký 30).

Trường hợp tương tự cũng xảy ra vào thời Vua Giô-si-a. Vua Giô-si-a là cháu cố của Vua Ê-xê-chia.  Sau khi Vua Ê-xê-chia qua đời, con trai của ông là Ma-na-se nối ngôi. Vua Ma-na-se đã cai trị vương quốc Giu-đa 55 năm.  Ông thờ lạy thần tượng và dạy cho dân Giu-đa thờ lạy thần tượng còn hơn những dân tộc không tin Chúa (II Sử Ký 33:1-9).  Sau khi Vua Ma-na-se chết, con trai ông là Vua A-môn lên ngôi cai trị hai năm và cũng làm giống như cha của mình trong sự thờ lạy tà thần (II Sử Ký 33:21-25).  Sau đó, Giô-si-a lên ngôi lúc mới 8 tuổi. Tám năm sau, khi đến tuổi thiếu niên, Vua Giô-si-a đã tìm kiếm Chúa và thờ phượng Đức Chúa Trời. Đến năm Vua Giô-si-a được 20 tuổi, ông cho dẹp sạch tượng các tà thần mà ông nội và cha của vua đã lập.  Năm 26 tuổi, Vua Giô-si-a cho tu sửa lại Đền Thờ của Đức Chúa Trời (II Sử Ký 34). Sau đó, Vua Giô-si-a đã tổ chức kỷ niệm lễ Vượt Qua.  Vua đã cấp 3000 con bò, những viên chức của vua cũng giúp thêm 800 con bò nữa, cho dân chúng kỷ niệm lễ Vượt Qua đánh dấu vương quốc Giu-đa trở lại cùng Đức Chúa Trời (II Sử Ký 35:5-7).   Các sử gia Do Thái cho biết từ thời của Tiên tri Sa-mu-ên cho đến lúc đó, nghĩa là từ lúc nước Do Thái thiết lập thể chế quân chủ cho đến khi đó, chưa bao giờ nước Do Thái tổ chức lễ Vượt Qua long trọng như vậy (II Sử Ký 35:17-19).

Trong sinh hoạt tôn giáo của người Do Thái, lễ Vượt Qua rất quan trọng. Hơn 3000 năm đã trôi qua, dầu vậy hằng năm người Do Thái khắp nơi trên thế giới vẫn kỷ niệm lễ này.  Tuy nhiên lễ Vượt Qua cũng mang ý nghĩa rất quan trọng với chúng ta là những người tin Chúa.  Con vật được dùng làm sinh tế trong lễ Vượt Qua biểu tượng về Đức Chúa Jesus. Chính Đức Chúa Jesus cũng đã hy sinh vào dịp lễ Vượt Qua.  Lễ Vượt Qua đánh dấu sự giải thoát người Do Thái khỏi kiếp nô lệ tại Ai Cập, sự hy sinh của Đức Chúa Jesus đã mở ra một giai đoạn tươi mới cho nhân loại khi quyền lực của tội lỗi không thể áp đặt trên những người đã tin nhận Chúa nữa.  Rời khỏi Ai Cập, người Do Thái bắt đầu hành trình đi về Đất Hứa. Thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, người tin Chúa đang bước đi trong sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh trên hành trình về thiên quốc.

c. Một số tế lễ quy định

Khi người Do Thái vào Đất Hứa, Đức Chúa Trời truyền cho họ hãy dẹp sạch những đền thờ tà thần (Phục Truyền 12:1-3) và đừng thờ phượng Đức Chúa Trời theo thói tục của những tôn giáo đó (Phục Truyền 12:4).  Và rồi khi nào Đức Chúa Trời chọn một nơi để lập làm nơi thờ phượng Ngài, nếu người Do Thái nào muốn dâng những lễ vật theo quy định, trong đó có những con đầu lòng của con bò, hoặc dâng hiến những vật mà họ biệt riêng ra cho Chúa, họ phải mang những lễ vật mà họ dâng đến Đền Thờ của Đức Chúa Trời, dâng hiến cho Chúa tại đó, và rồi cùng vui hưởng với những người thân yêu trong gia đình của mình tại nơi thờ phượng Chúa (Phục Truyền 12:6-8, 12:17-18; 14:22-23).  Tuy nhiên, nếu việc di chuyển súc vật bất tiện vì chỗ ở của họ quá xa Đền Thờ, người Do Thái được phép bán súc vật đó lấy tiền, mang tiền đó đến Đền Thờ, rồi mua lại một con vật khác để dâng cho Chúa, và rồi họ cùng gia đình vui hưởng lễ vật được dâng tại Đền Thờ của Chúa (Phục Truyền 14:24-26).

Luật pháp Môi-se truyền cho người Do Thái phải biệt riêng những con vật đầu lòng ra để dâng cho Đức Chúa Trời, trong đó có bò (Phục Truyền 15:19).   Có lẽ trong quá khứ nhiều người Do Thái không thực hiện mạng lệnh này, cho nên Nê-hê-mi khi lãnh đạo những người Do Thái hồi hương, ông đã cùng dân chúng tái lập giao ước với Chúa và cam kết sẽ thực hiện mạng lệnh này (Nê-hê-mi 10:36).

Kinh Thánh cũng cho biết nếu người ta tìm thấy thi thể một nạn nhân bị giết ở giữa cánh đồng mà không ai biết ai là thủ phạm, thì dân chúng tại địa phương gần nhất từ nơi thi thể được phát hiện phải dâng một con bò cái tơ để xin Chúa tha thứ những người sống tại địa phương đó (Phục Truyền 21:1-11).  Những nhà lãnh đạo tại địa phương đó sẽ rửa tay trên con bò bị giết rồi nói rằng “Tay của chúng tôi đã không làm đổ máu người nầy” (Phục Truyền 21:6-7).  Phi-lát, viên Tổng trấn người La Mã cai trị vùng Giu-đê trong thời Tân Ước, cũng hiểu luật lệ này cho nên ông đã rửa tay trước mặt người Do Thái và nói rằng “Ta vô tội về huyết của người nầy”, khi ông chìu theo ý của người Do Thái ban quyết định hành quyết Đức Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 27:24).  Dĩ nhiên, những thầy tế lễ, các lãnh đạo và cả dân chúng Do Thái rất rành về luật lệ Cựu Ước;  họ hiểu được ý nghĩa của cử chỉ mà Phi-lát đã làm. Tuy nhiên, vì mù quáng và quyết tâm giết Đức Chúa Jesus, cho nên họ đã trả lời: “Xin huyết của người lại đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi!” (Ma-thi-ơ 27:25).  Vì lời cam kết chịu trách nhiệm về việc giết Đức Chúa Jesus như vậy, theo một số nhà nghiên cứu, có lẽ đây là lý do khiến người Do Thái đã bị mất nước, thủ đô Jerusalem bị chiếm đóng, Đền Thờ bị phá hủy; họ phải sống tản lạc khắp nơi trên thế giới và bị bách hại suốt 19 thế kỷ,  từ năm 70 cho đến năm 1948, họ mới được lập quốc trở lại.  

d. Lễ Thiêu

Lễ Thiêu là một nghi lễ mà trong đó sinh tế được thiêu hoàn toàn trên bàn thờ.  Một số nghi lễ khác cũng thiêu những sinh tế trên bàn thờ, nhưng chỉ có một vài phần của sinh tế được thiêu trên bàn thờ, những phần còn lại được dùng để nấu làm thức ăn cho những người tham dự.  Da của con vật được dâng làm sinh tế cho lễ Thiêu sẽ không bị thiêu, nhưng được cấp cho những thầy tế lễ.

Người đầu tiên trong Kinh Thánh đã dâng thú vật làm sinh tế là A-bên (Sáng Thế Ký 4:4).  Tuy nhiên người đầu tiên mà Kinh Thánh ghi rõ đã dâng sinh tế trong một lễ Thiêu đó là Nô-ê (Sáng Thế Ký 8:20).  Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se hãy thiết lập lễ Thiêu và lễ Thù Ân, và có thể dâng chiên hoặc bò để làm sinh tế (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:24). Sau khi Đền Thờ được xây dựng, mỗi ngày hai lần, các thầy tế lễ người Do Thái dâng tế lễ Thiêu vào buổi sáng và chiều tối (Dân Số Ký 28:3-4).    

Kinh Thánh cho biết, khi dâng lễ Thiêu hằng ngày, người Do Thái chỉ dâng chiên làm vật sinh tế (Dân Số Ký 28:3-4).  Tuy nhiên, vào những dịp đặc biệt, người Do Thái cũng dâng bò làm sinh tế.  Khi Vua Ê-xê-chia đã kêu gọi dân chúng hãy dâng lễ vật để cảm tạ Chúa; sau đó cùng với những súc vật khác, dân chúng đã dâng bảy mươi con bò làm của lễ Thiêu (II Sử-ký 29:32).    Dưới thời của Vua Giô-si-a, bò cũng được dâng làm sinh tế cho lễ Thiêu (II Sử-ký 35:12). Tiên tri Ê-xê-chi-ên được Đức Chúa Trời truyền lệnh căn dặn những vị vua phải dâng một con bò đực làm sinh tế cho lễ Thiêu vào mỗi ngày trăng mới (Ê-xê-chi-ên 46:4-6).  Khi Vua Đa-ri-út cho Ê-xơ-ra trở về Do Thái để xây dựng lại Đền Thờ, vua đã cho phép Ê-xơ-ra sử dụng tiền thuế để mua các sinh tế là bò và chiên để dâng làm tế lễ Thiêu cho Đức Chúa Trời, để Ngài đoái thương và ban phước cho vua và hoàng tộc (E-xơ-ra 6:8-10).  Ê-xơ-ra đã thực hiện theo chỉ thị đó.  Ông đã dâng mười hai con bò làm của lễ Thiêu.  Thêm vào đó, Ê-xơ-ra cũng dâng những con thú khác làm lễ Chuộc Tội, và được dâng dưới hình thức lễ Thiêu (E-xơ-ra 8:35).   

e. Lễ Chuộc Tội

Lễ Chuộc Tội là một nghi lễ được cử hành để chuộc tội cho một cá nhân hay một tập thể phạm tội với Chúa. Trong nguyên văn Hebrew, tế lễ dùng trong lễ Chuộc Tội được viết là קָרְבַּן חַטָּאת, có nghĩa là “của lễ của sự thanh tẩy”. 

Hướng dẫn về thực hiện lễ Chuộc Tội được lại trong ghi Lê-vi Ký 4:1-35 và Dân Số Ký 15:22-31.  Theo hướng dẫn được ghi lại trong Lê-vi Ký 4:1-35, lễ Chuộc Tội sẽ được cử hành cho một thầy tế lễ, cho cả dân chúng, cho những người lãnh đạo, hoặc cho một người dân khi họ vô tình, không có cố ý, phạm tội với Chúa.  Lễ vật để chuộc tội cho một thầy tế lễ, hay cho cả đoàn dân, là một con bò (Lê-vi Ký 4:1-21).  Trong khi đó  lễ vật để chuộc tội cho một lãnh đạo là một con dê đực (Lê-vi Ký 4:22-26); còn lễ vật để chuộc tội cho một người dân là một con dê cái (Lê-vi Ký 4:27-35).

Lúc cử hành lễ, con thú được mang đến bàn thờ để làm sinh tế. Người phạm tội phải đặt tay lên đầu con vật làm sinh tế (Lê-vi Ký 4:29) như là một sự nhìn nhận rằng sinh tế sẽ chết thay cho tội của mình.  Sau đó, con vật làm sinh tế sẽ bị giết.  Thầy tế lễ sẽ lấy một ít huyết của sinh tế bôi lên các sừng ở bốn góc bàn thờ (Lê-vi Ký 4:30).  Tùy theo trường hợp, có lúc huyết của sinh tế sẽ được rảy trong Đền Tạm (Lê-vi Ký 4:6; 4:17).  Phần còn lại của huyết sẽ được đổ dưới bàn thờ (Lê-vi Ký 4:34).  Mỡ của sinh tế sẽ được lấy ra và thiêu trên bàn thờ.  Trong một số trường hợp khác, phần thân thể của sinh tế sẽ được thiêu ngoài doanh trại của dân Do Thái  (Lê-vi Ký 4:12).  Qua những nghi thức mang tính biểu tượng như vậy, thầy tế lễ hoàn tất nghi thức chuộc tội cho người đã phạm tội, và người đó sẽ được tha (Lê-vi Ký 4:12).

Ký thuật trong II Sử Ký 29:21 cho biết Vua Ê-xê-chia đã dâng bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con, và bảy con dê đực để làm của lễ Chuộc Tội cho cả nước, cho Đền Thánh, và cho dân Giu-đa. 

Tiên tri Ê-xê-chi-ên đã được Đức Chúa Trời cho thấy một khải tượng về một Đền Thờ mới. Đức Chúa Trời dặn Tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng trước khi các tế lễ thiêu và lễ thù ân sẽ được dâng lên bàn thờ, Đức Chúa Trời truyền phải cấp cho các thầy tế lễ một con bò để làm lễ Chuộc Tội (Ê-xê-chi-ên 43:19). Sau đó hãy dùng một con dê đực để làm lễ Chuộc Tội (thanh tẩy) cho bàn thờ (Ê-xê-chi-ên 43:22).  Và rồi trong bảy ngày liên tiếp, hãy dâng mỗi ngày một con bò đực và một chiên đực để làm lễ Chuộc Tội cho bàn thờ trước khi đưa bàn thờ vào sự phục vụ Chúa (Ê-xê-chi-ên 43:25-27). Đức Chúa Trời cũng dặn rằng trong ngày đầu tiên của lễ Vượt Qua, người lãnh đạo trong đất nước là vị vua, phải dâng một con bò làm lễ Chuộc Tội cho chính mình và cho toàn dân trong đất nước của mình.  Sau đó, trong bảy ngày liên tiếp, mỗi ngày vua phải dâng một con chiên đực để làm lễ Chuộc Tội (Ê-xê-chi-ên 45:21-23). 

Lễ Chuộc Tội là một biểu tượng sống động về sự hy sinh của Đức Chúa Jesus cho tội lỗi của cả nhân loại. Kinh Thánh Tân Ước cho biết Đức Chúa Jesus là một sinh tế toàn vẹn không tì vết  (I Phi-e-rơ 1:19; Lê-vi Ký 4:32), và huyết thánh của Ngài đã đổ ra vì tội của nhân loại (Giăng 1:7).  Đức Chúa Jesus đã bị đóng đinh bên ngoài thành Jerusalem, tương tự như sinh tế đã bị thiêu bên ngoài trại của người Do Thái (Hê-bơ-rơ 13:12;  Lê-vi Ký 4:12).  Giống như huyết của sinh tế đã đổ ra để chuộc tội cho người biết hối lỗi trong Cựu Ước, huyết của Đức Chúa Jesus đã đổ ra để đền tội cho những người biết ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài Trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài” (Ê-phê-sô 1:7).  Tác giả thư Hê-bơ-rơ nhấn mạnh rằng: “Theo luật pháp, hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được thanh tẩy; không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9:22). Vì yêu thương loài người và muốn cứu chuộc loài người, Đức Chúa Trời đã thực hiện một giải pháp tuyệt vời, thể hiện những bản chất tốt đẹp của Ngài trong đó có tình yêu thương và sự công chính.  Kinh Thánh cho biết: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).  Đức Chúa Jesus đã chết để chuộc tội cho chúng ta.  Sứ đồ Giăng nhấn mạnh rằng nhờ sự hy sinh của Đức Chúa Jesus mà chúng ta được tha thứ: Huyết của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.” (Giăng 1:7).

Kinh Thánh cũng cho biết không phải chỉ có con vật được dùng làm sinh tế là biểu tượng về Đức Chúa Jesus, nhưng thầy tế lễ là người dâng sinh tế cũng là một biểu tượng về Đức Chúa Jesus.  Tuy nhiên tác giả thư Hê-bơ-rơ giải thích rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa một thầy tế lễ Do Thái trong thời Cựu Ước với Đức Chúa Jesus (Hê-bơ-rơ 8:1-2).

Trước khi vào Đền Thờ phục vụ Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ Do Thái phải làm lễ chuộc tội cho chính mình, trong khi đó Đức Chúa Jesus là Đấng Vô Tội, Ngài không cần phải thực hiện tế lễ Chuộc Tội cho chính Ngài (Hê-bơ-rơ 7:26-27). Trong khi các thầy tế lễ Do Thái thuộc dòng A-rôn chỉ có thể thực hiện trách nhiệm của mình tối đa vài chục năm theo một số năm trong cuộc đời của họ (Hê-bơ-rơ 7:23), Đức Chúa Jesus là Thầy Tế Lễ tồn tại đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc (Hê-bơ-rơ 5:5-6; 6:20; 7:23-24).  Trong khi mỗi ngày các thầy tế lễ phải dâng sinh tế hai lần để chuộc tội cho dân chúng, Đức Chúa Jesus chỉ dâng sinh tế, là chính sinh mạng của Ngài, một lần là đủ cả cho mọi người, trong mọi thời đại (Hê-bơ-rơ 7:27; 9:25-26; 10:12). Các thầy tế lễ Do Thái cần phải sống tách biệt, giữ mình thánh sạch để có thể hầu việc Chúa, vì vậy họ không thể hiểu hết những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày của con dân Chúa; trong khi đó Đức Chúa Jesus là một Thầy Tế Lễ thánh khiết, nhưng Ngài thấu hiểu mọi sự, Ngài cảm thông với những khó khăn, những cám dỗ trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta (Hê-bơ-rơ 4:15; 2:18). Các thầy tế lễ Do Thái phục vụ Chúa tại Đền Thờ, là nơi làm biểu tượng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên đất này, trong khi đó Đức Chúa Jesus đã vào chính trong nơi chí thánh ở trên trời để thực hiện trách nhiệm của Ngài (Hê-bơ-rơ 9:24).  Hơn nữa, không phải mỗi năm Đức Chúa Jesus phải vào nơi chí thánh một lần như các thầy tế lễ ở dưới đất, nhưng Ngài luôn luôn ngồi bên cạnh Đức Chúa Trời để cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 10:12; 7:25). Vì vậy Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Jesus là một Thầy Tế Lễ toàn hảo (Hê-bơ-rơ 7:26), và do đó Ngài có thể làm trọn chức vụ tế lễ cho một giao ước tốt hơn rất nhiều so với giao ước mà các thầy tế lễ trong Cựu Ước đã phục vụ (Hê-bơ-rơ 7:20-22).

Mặc dù các bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt đã dùng chữ “chuộc tội” để mô tả tất cả những nghi lễ được ghi lại trong Lê-vi Ký từ đoạn 4 đến đoạn 7, tuy nhiên trong nguyên văn Hebrew, người Do Thái phân biệt lễ Chuộc Tội (קָרְבַּן חַטָּאת – sin offering) là nghi lễ để chuộc lại tội lỗi đã phạm với Đức Chúa Trời như đã được hướng dẫn trong Lê-vi Ký đoạn 4, khác với lễ Chuộc Lỗi (אשם – guilt offereing) là lễ để chuộc lại những sai phạm đối với con người và với luật pháp – được ghi lại trong Lê-vi Ký đoạn 5 cho đến đoạn 7.

Phước Nguyên

(Phần 3) – (Phần 5)

Thư Viện Tin Lành (2021)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top