Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tìm Hiểu: Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh

Tìm Hiểu: Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh

Những Mẫu Chuyện Về Con Bò Trong Kinh Thánh 

Tết năm nay là tết con trâu.  Trong chữ Hán, chữ trâu được viết là “ngưu” (牛). Người Trung Hoa dùng chữ ngưu để chỉ cả trâu lẫn bò. Người Trung Hoa đã gọi con trâu là “thủy ngưu” (水牛), tức là loài trâu bò thích sống dưới nước; còn con bò được gọi là “hoàng ngưu” (黃牛), theo màu da vàng của bò. 

Vì chữ “ngưu” có thể là trâu hay bò cho nên trong khi người Việt Nam mừng tết con trâu thì tại một số quốc gia Á châu khác từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật sẽ kỷ niệm tết con bò.  Khác biệt tương tự cũng xảy ra vào những năm khác như lúc Việt Nam mừng tết con mèo thì các quốc gia khác mừng tết con thỏ, và Việt Nam mừng tết con dê thì các quốc gia khác mừng tết con cừu.   

Do năm con trâu cũng có thể gọi là năm con bò, cho nên nhân dịp này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số mẩu chuyện về con bò trong Thánh Kinh.  Như đã nhắc đến trong một bài viết trước, trong khi con trâu chỉ được nhắc đến vài lần trong các bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt thì con bò được nhắc đến vài trăm lần trong Kinh Thánh. Vì vậy bài viết tìm hiểu những ý nghĩa về con bò trong Kinh Thánh sẽ được chia làm nhiều phần và sẽ được phổ biến thành nhiều kỳ khác nhau.

I. Khái Quát Về Con Bò Trong Kinh Thánh

Bò là một loài gia súc quen thuộc với các dân tộc sống trong vùng Trung Đông.  Chữ bò (וּבָקָר֙) đầu tiên được nhắc đến trong Kinh Thánh được ghi lại trong Sáng Thế Ký 12:16. Phân đoạn Kinh Thánh đó cho biết Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập, vì yêu mến Sa-ra cho nên ông đã tặng cho Áp-ram rất nhiều gia súc, trong số đó có những con bò, bởi vì vua Pha-ra-ôn tưởng rằng Áp-ram là anh của Sa-ra.  

1. Đặc tính

Bò là loài vật có sức lực.  Kinh Thánh mô tả tại vùng Ba-san của nước Do Thái có những con bò rất mạnh (Thi-thiên 22:12). Đặc biệt, bò rừng là loài rất mạnh, mạnh hơn rất nhiều so với loài bò đã được thuần hóa. Khi Đức Chúa Trời cứu dân Do Thái khỏi Ai Cập, Ngài hứa ban cho người Do Thái sức mạnh như bò rừng (Dân Số Ký 23:22; 24:8) để họ không phải khuất phục ai.   

Về trí khôn của loài bò, người Việt thường nói “ngu như bò”. Tuy nhiên Kinh Thánh cho biết bò là loài vật có khả năng nhận biết – ít nhất là biết chủ của mình.  Tiên tri Ê-sai đã viết: “ biết chủ mình, lừa biết máng của chủ; song Y-sơ-ra-ên chẳng hiểu biết, dân ta chẳng suy nghĩ.” (Ê-sai 1:3). Nếu câu thành ngữ “ngu như bò” của người Việt là đúng thì chúng ta có thể hiểu trình độ hiểu biết và suy nghĩ của những người Do Thái mà Tiên tri Ê-sai nói, đang ở mức độ nào. Trong Kinh Thánh, tác giả Thi Thiên 14:1 nhận định rằng những người không nhìn nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời không phải là những người khôn ngoan: “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc; chẳng có ai làm điều lành.” (Thi Thiên 14:1). 

Điều đáng tiếc là không phải chỉ có những người Do Thái sống vào thời của Tiên tri Ê-sai có thái độ như vậy nhưng đã có rất nhiều người thuộc nhiều thời đại khác nhau đã có những suy nghĩ như vậy.  Vua Nê-bu-cát-nết-sa (Nebuchadnezzar II; 605 – 562 TC), hoàng đế nổi tiếng của Babylon, là một trong những người đó.  Dưới thời cai trị của Nê-bu-cát-nết-sa, đế quốc Babylon đã phát triển rất mạnh, trải rộng từ Ấn Độ cho đến Ai Cập. Trước sự thành công của mình vua Nê-bu-cát-nết-sa đã trở nên kiêu ngạo, ỷ lại vào quyền năng và của cải của mình, nhưng không biết đó là những điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông.  Trong một giấc mơ Đức Chúa Trời đã cho Nê-bu-cát-nết-sa biết Ngài sẽ trừng phạt ông.  Sau đó, Tiên tri Đa-ni-ên đã đến báo cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết rằng ông sẽ bị bệnh và phải sống như bò, để ít nhất có thể học biết được điều mà loài bò có thể biết, đó là biết chủ của mình là ai. Tiên tri Đa-ni-ên đã nói: “Người ta sẽ đuổi vua ra khỏi giữa loài người, và chỗ ở vua sẽ ở giữa những thú vật trong đồng. Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, và sẽ được thấm nhuần sương móc trên trời; bảy kỳ sẽ trải qua trên vua, cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý.”  (Đa-ni-ên 4:25; 4:32-33; 5:18-21). 

Kinh Thánh cho biết sau đó mọi việc đã xảy ra đúng như lời Tiên tri Đa-ni-ên đã công bố.  Sau khi trải qua thời gian sống như súc vật, sức khỏe và trí khôn của vua Nê-bu-cát-nết-sa được phục hồi.  Và rồi vua Nê-bu-cát-nết-sa đã nhận định về Đức Chúa Trời như sau: “Đến cuối cùng những ngày đó, ta đây, Nê-bu-cát-nết-sa, ngước mắt lên trời, trí khôn đã phục hồi lại cho ta, và ta xưng tạ Đấng Rất Cao. Ta bèn ngợi khen và làm sáng danh Đấng sống đời đời, uy quyền Ngài là uy quyền còn mãi mãi, nước Ngài từ đời nọ đến đời kia. Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?” (Đa-ni-ên 4:34-35).  Trải nghiệm của vua Nê-bu-cát-nết-sa xác nhận ý nghĩa của câu Kinh Thánh: “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu của sự khôn ngoan. Sự nhìn-biết Đấng Thánh, đó là sự thông-sáng”  (Châm Ngôn 9:10).  

2. Công dụng

Con bò được nuôi vì nhiều công dụng khác nhau.

Công dụng đầu tiên của việc nuôi bò là để ăn thịt. Áp-ram là người đầu tiên được ghi lại trong Kinh Thánh đã giết một con bò tơ, rồi làm thịt để tiếp đãi những sứ giả của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 18:1-10).  Tấm lòng hiếu khách của Áp-ram đã được Đức Chúa Trời ghi nhận.  Đức Chúa Trời đã ban phước cho Áp-ram và Sa-ra điều mà họ đã mong ước từ lâu đó là Sa-ra sẽ sanh một một đứa con mặc dù lúc đó cả hai vợ chồng của Áp-ram đã già. Trong gia đình của người Trung Đông, bò được giết thịt để làm tiệc vào những dịp đặc biệt.  Người cha già trong câu chuyện Đức Chúa Jesus kể, đã ra lệnh cho gia nhân giết một bò con tơ để mừng đứa con trai út của ông đã đi hoang nhiều năm vừa trở về (Lu-ca 15:11-32).  Tại cơ quan công cộng, vào thời Nê-hê-mi làm quan tổng trấn tại Giu-đa, thực phẩm cung cấp mỗi ngày cho Nê-hê-mi và nội các của ông là một con bò, sáu con chiên, và rất nhiều gà vịt (Nê-hê-mi 5:18).      

Một công dụng khác của việc nuôi bò là để lấy sữa (Phục Truyền 32:14).  Uống sữa bò là một trong những phước hạnh mà Đức Chúa Trời hứa ban cho những người vâng lời Ngài.  Phước hạnh này được ghi lại trong Phục Truyền 32:13-14.  Vùng đất mà Đức Chúa Trời hứa ban cho người Do Thái được gọi là vùng đất đượm sữa và mật (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:8, 3:17; 13:5).  Thành ngữ này ám chỉ Đất Hứa là một vùng đất trù phú tốt đẹp.  Trong lần tiếp đãi các sứ giả của Chúa được ghi lại trong Sáng Thế Ký 18:1-10. Áp-ram đã dùng sữa và mỡ sữa (phô-mai) tiếp đãi họ (Sáng Thế Ký 18:8). 

Sữa bò còn được người Trung Đông dùng để làm bánh. Lúc còn trẻ, Đa-vít đã được cha của ông sai mang những bánh làm bằng sữa đến để tiếp tế cho những người đang tham gia chiến trận (I Sa-mu-ên 17:28). Khi đã làm vua, lúc Đa-vít và các cận thần của ông chạy tỵ nạn khi Đa-vít bị con trai của ông là Áp-sa-lôn làm phản, một số người trung thành với Đa-vít đã đem lương thực tiếp tế cho ông.  Trong số những lương thực đó, có bánh làm bằng sữa bò (II Sa-mu-ên 17:27-29). 

Các nhà nghiên cứu ngày nay cho biết uống sữa tươi có thể làm buồn ngủ.  Cách đây hơn 3000 năm, Gia-ên, một phụ nữ được ghi lại trong Kinh Thánh, đã biết công dụng đó.  Si-sê-ra là một viên tướng của người Ca-na-an đã đàn áp dân Do Thái trong suốt 20 năm. Đức Chúa Trời đã truyền cho Đê-bô-ra, một phụ nữ đang lãnh đạo dân Do Thái vào lúc đó, hướng dẫn Ba-rác, một vị tướng của Do Thái, nổi lên chống lại Si-sê-ra.  Khi Si-sê-ra bị thua trận, chạy trốn đến được nhà của Gia-ên, Si-sê-ra đã xin Gia-ên nước để uống, nhưng bà đã cho ông uống sữa.  Si-sê-ra đã uống sữa, rồi ngủ say. Gia-ên đã dùng cơ hội đó để giết Si-sê-ra, rồi báo cho Ba-rác (Các Quan Xét 4:17-22).  Gia-ên tiêu biểu cho một người khôn ngoan biết áp dụng những điều mình hiểu biết đúng thời điểm để đem lại ích lợi cho cộng đồng của mình. Hành động khôn ngoan và dũng cảm của Gia-ên đã được Đê-bô-ra ghi lại trong bài khải hoàn ca của người Do Thái được chép trong Các Quan Xét 5:24-27. 

Một những công dụng đáng ngạc nhiên của bò đó là người ta nuôi bò để sản xuất than chụm lửa.  Vùng Trung Đông là vùng ít có cây cối, vì vậy gỗ rất quý. Do không thể dùng thân cây để làm củi, người xưa đã dùng nhiều thứ khác mà họ có được để làm nhiên liệu.  Một trong những thứ đó là phân bò.  Bò là loài nhai lại, ăn nhiều cỏ, phân bò có nhiều chất xơ và chứa nhiều methane (CH4) sản xuất từ dạ dày của bò.  Methane là một chất hữu cơ tỏa ra nhiều nhiệt năng. Trong lịch sử của ngành hóa học, Alessandro Volta là người đầu tiên đã tìm ra methane.  Alessandro Volta là một nhà vật lý nổi tiếng người Ý mà tên của ông đã được đặt cho đơn vị đo lường volt để đo điện thế. Alessandro Volta đã đọc một bài viết của Benjamin Franklin, một chính trị gia và cũng là một khoa học gia của Hoa Kỳ, mô tả đặc điểm của một chất khí có thể cháy. Sau đó, Alessandro Volta quyết định nghiên cứu về chất khí này. Năm 1776, Alessandro Volta bắt đầu thu thập khí methane tại hồ Maggiore nằm giữa Ý và Thụy Sĩ.  Đến năm 1778 thì Alessandro Volta tinh chế được methane. Hiện nay, methane đã được dùng để chế ra loại xăng chứa methanol được bán rộng rãi tại Hoa Kỳ.  Do công dụng tỏa nhiệt từ methane trong phân bò, Kinh Thánh cho biết trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã cho phép Tiên tri Ê-xê-chi-ên dùng phân bò phơi khô làm than để nấu ăn (Ê-xê-chi-ên 4:15).       

Do bò là loài có sức lực cho nên người ta nuôi bò để kéo cày (Phục Truyền 22:10; Ê-sai 30:24).

Một số nhân vật trong Kinh Thánh trước khi được Chúa kêu gọi vào chức vụ hầu việc Chúa là những nông dân đã từng đi cày:

Ghê-đê-ôn được Chúa truyền hãy dùng hai con bò của gia đình ông để giật sập đền thờ của tà thần Ba-anh, rồi lập một bàn thờ mới cho Đức Chúa Trời và dâng một con bò trên bàn thờ đó (Các Quan Xét 6:25-30). Sau khi Ghê-đê-ôn vâng lời Đức Chúa Trời làm những điều đó, Đức Chúa Trời đã truyền cho Ghê-đê-ôn lãnh đạo cuộc chiến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Ma-đi-an (Các Quan Xét 7:1-25).

Sau-lơ trước khi trở thành vị vua đầu tiên của dân Do Thái cũng là một nông dân. Khi Sau-lơ vừa đi cày trở về, nghe tin người Am-môn sỉ nhục dân thành Gia-be của người Do Thái, Sau-lơ được Thánh Linh của Chúa cảm động, ông đã giết cặp bò của mình, rồi gởi những mảnh thịt đó làm một sứ điệp cho dân Do Thái. Ông kêu gọi họ hãy hiệp tác với ông để chống lại dân Am-môn (I Sa-mu-ên 11:5-7). Cuộc khởi nghĩa thành công, sau đó Sau-lơ trở thành vua của người Do Thái. 

Tiên tri Ê-li-sê trước khi trở thành người hầu việc Đức Chúa Trời cũng là một nông dân.  Khi được Tiên tri Ê-li kêu gọi, Ê-li-sê đang cày ruộng bằng mười hai đôi bò (I Các Vua 19:19).  Số lượng bò cày ruộng cho thấy Tiên tri Ê-li-sê xuất thân từ một gia đình khá giả.  Kinh Thánh cho biết: Sau đó Tiên tri Ê-li-sê đã giết cặp bò, lấy cày làm củi, nấu thịt đãi tiệc chia tay với gia đình và tôi tớ của mình rồi bước vào chức vụ hầu việc Chúa (I Các Vua 19:19-21). 

Trong thời đại ngày nay, Hội Thánh thường kêu gọi những người trẻ bước vào chức vụ hầu việc Chúa; tuy nhiên những ký thuật nêu trên cho thấy Đức Chúa Trời cũng kêu gọi và dùng những người đã thành công trong sự nghiệp, để bước vào chức vụ hầu việc Ngài.  Tiên tri Ê-li-sê có lẽ là một người đã đứng tuổi. Kinh Thánh cho biết khi Tiên tri Ê-li-sê hầu việc Chúa thì đầu của ông không còn tóc (II Các Vua 2:23). Hành động giết bò và chẻ cày của những nhân vật nói trên thể hiện quyết tâm bước vào chức vụ mà Chúa đã chuẩn bị cho họ.  Trong Tân Ước, Đức Chúa Jesus dùng hình ảnh người cầm cày để mô tả những người theo Chúa. Đức Chúa Jesus phán: “Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời” (Lu-ca 9:62).

Phước Nguyên

(Phần 2)

Thư Viện Tin Lành (2021)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top