Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Quanh Chuyện Loài Heo

Quanh Chuyện Loài Heo

Quanh Chuyện Loài Heo

 

Năm Tuất đã qua, năm Hợi sắp đến, nhân dịp xuân về chúng ta cùng ôn lại vài điều về heo, một con vật rất quen thuộc với người Việt Nam.

Heo Trong Cuộc Sống

Heo nhà có tên khoa học là Sus scrofa domesticus.  Theo các nhà sinh vật học, giống heo nhà được nuôi phổ biến hiện nay được thuần hóa từ hai loài heo rừng là Eurasian wild boar (Sus Scrofa) và East Indian Pig (Sus vittatus).  Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những di tích về heo rừng tại vùng Cận Đông cách đây khoảng 13.000 năm, và bằng chứng về việc thuần hóa heo rừng trở thành heo nhà cách đây khoảng 7000 năm.

Nói đến heo, chúng ta nghĩ ngay đến một con vật có thân hình mập mạp, một cái bụng phệ đầy mỡ.  Heo có bốn chân ngắn, mỗi chân có hai ngón.  Thật ra, chân heo có bốn ngón nhưng chỉ có hai ngón giữa phát triển và có móng, còn hai ngón sau nhỏ không chạm đến đất.  Heo có một cái mỏm dài, khi trưởng thành, tùy theo loại và lứa tuổi, heo có thể có từ 34 đến 44 cái răng.  Với hình dáng như vậy, heo được xem là con vật biểu tượng cho sự thô lỗ và xấu xí.  Trong nhiều nền văn hóa, không ai muốn người khác gọi mình “mập như heo”.  

Heo là một loài vật ăn tạp.  Heo có thể ăn nhiều thứ từ bắp, rau, khoai, cám, thân chuối, rễ cây, bã đậu, …. Khi đói, heo có thể cắn cả gà vịt.  Khi ăn, heo tỏ ra không mấy lịch sự vì vừa ăn, vừa táp, vừa ủi lẫn nhau, nếu trong chuồng có nhiều heo.  Cách ăn uống của heo như vậy đã đi vào tục ngữ và được dùng để diễn tả một thói xấu; do đó không ai muốn mình bị xem là “ăn uống như heo”

Do ăn tạp và ăn nhiều nên heo thường được nuôi phổ biến ở nông thôn bởi vì tại nông thôn có nhiều nông sản có thể làm thức ăn cho heo.  Hoa Kỳ là một trong những quốc gia trồng nhiều bắp nhất trên thế giới; và 20% sản lượng bắp tại Hoa Kỳ đã được dùng làm thức ăn cho heo. 

Đã từ lâu tại Việt Nam heo được xem là một loài gia súc trong nhà. Heo là một con vật được nhắc đến trong truyện thơ Lục Súc Tranh Công trong văn học Việt Nam.

Về công dụng, heo cung cấp thịt, xương, lông, da, và mỡ.  Thịt và mỡ dùng làm thức ăn, xương làm đông xương (jello), lông làm bàn chải. Da heo được dùng cho nhiều mục đích khác nhau: từ làm thức ăn cho đến chữa trị trong y học.  Kết quả nghiên cứu hệ thống di truyền của heo và người trong vài thập niên qua cho thấy bộ gen của heo và người có một số điểm tương đồng. Khám phá này đã thúc đẩy việc nghiên cứu sử dụng một số bộ phận của heo trong việc chữa trị cho người.  Da heo đã được dùng để thay da cho những người bị phỏng nặng, và mạch máu trong tim của heo đã được dùng để thay thế cho những mạch máu bị nghẽn trong tim của người.  

Ngoài công dụng chính cho ngành thực phẩm và y khoa, một ít heo được huấn luyện để diễn trong các gánh xiếc.  Tại Hoa Kỳ, heo còn được nuôi như là một loài vật thân cận trong nhà –  như chim, mèo và chó.  Những chú heo nuôi trong nhà được cho bú sữa và ngủ trong ổ nệm.   Phần lớn những chú heo được nuôi trong nhà được chọn từ giống heo có tên là Vietnamese Pig.  

Vietnamese Pig là giống heo mọi được nuôi phổ biến ở vùng cao nguyên và một số vùng đồng bằng tại Việt Nam.  Heo mọi nhỏ con, da màu đen, thỉnh thoảng có đốm trắng.  Khi lớn, heo mọi ít khi nặng hơn 30 Kg và cao chưa tới đầu gối của người lớn.  Ở Việt Nam, heo mọi được nuôi như gà vịt, là một loài gia súc nhỏ khi cần thì giết thịt để ăn trong gia đình chứ không phải để xẻ thịt bán.  Mặc dù hình dáng của heo mọi cục mịch, nhưng những người sành ăn cho rằng thịt heo mọi thơm và ngon hơn thịt của loài heo nhà thông thường.

Theo thống kê của tổ chức Lương Nông Thế Giới của Liên Hiệp Quốc (FAO), vào năm 1992 trên thế giới có khoảng 840 triệu heo được nuôi trong các nông trại.  Năm 2014, con số này đã lên đến 986 triệu.  Trong đó Trung Hoa dẫn đầu với 474 triệu, Hoa Kỳ hạng nhì với 67 triệu, và Việt Nam đứng hạng thứ sáu với 27 triệu.

Tại Hoa Kỳ, thịt heo được chế biến thành ham, bacon, sausage và hot dog.  Do người Mỹ ăn nhiều thịt heo nên trong văn học thiếu nhi Mỹ có một câu chuyện nổi tiếng tên là Charlotte’s Web – dường như được viết nhằm vận động dân Mỹ bớt ăn thịt heo.  Chuyện kể về một chú heo con được sinh ra trong một nông trại. Lẽ ra chú heo con bị chủ giết từ nhỏ bởi vì chú là heo út mà heo mẹ không có đủ vú cho cả bầy bú.  Cô bé gái con ông trại chủ, vì thương con heo, đã xin cha mình đừng giết con heo đẹt đó nhưng cho phép cô nuôi.  Được thoát chết từ lúc nhỏ nhưng khi lớn lên, con heo vẫn lo sợ mình sẽ bị giết để bán thịt như các đồng loại của mình.  May sao, có một con nhện trong nông trại biết nỗi lo buồn đó; con nhện tìm cách giúp đỡ bằng cách đan một màng nhện trước chuồng heo, trên màng nhện có những dòng chữ ca ngợi con heo.  Trước chuyện kỳ lạ đó, dân chúng đổ xô đến xem; chú heo trở nên nổi tiếng và đã không bị giết.  Câu chuyện cảm động đã được quay thành phim hoạt họa và được trẻ em tại Hoa Kỳ yêu thích.

Theo thống kê, người Đan Mạch ăn thịt heo nhiều nhất, trung bình mỗi người Đan Mạch ăn 47 Kg thịt heo một năm.  Người Hungary đứng hạng nhì với 45 Kg và người Đức đứng hạng ba với 43 Kg.  Tuy nhiên, các quốc gia tiêu thụ thịt heo nhiều nhất là các quốc gia tại vùng Đông Á, dẫn đầu là Trung Hoa. 

Trong khi đa số các quốc gia trên thế giới ăn thịt heo, người Do Thái và Hồi giáo không ăn thịt heo. Theo một truyền thuyết của Hồi giáo, khi Thượng Đế (Allah) tạo ra thân xác của người đầu tiên trên trái đất là Nabi Adam. Trong lúc Adam nhưng chưa được Thượng Đế ban cho linh hồn,   ma quỷ vì lo lắng khi Adam có linh hồn sẽ làm chúng mất hết uy quyền, cho nên lúc Adam còn đang ngủ, ma quỷ đã rủ nhau đến phóng uế trên người Adam khiến Adam bị dơ bẩn, nhục nhã, và xấu hổ.  Thượng Đế thương xót Adam đã sai thiên thần mang nước xuống rảy trên thân thể của Adam.  Adam được sạch, nhưng những chất dơ rơi xuống tụ tập lại, và biến thành một con chó và một con heo.  Adam tuyên bố: “Chó và heo là kẻ thù của dòng dõi ta”.  Do đó, người Hồi giáo không ăn thịt heo, và tất cả những điều gì liên quan đến heo đều là điều cấm kỵ.  Người Hồi giáo không được phép nuôi heo và không được chuyên chở heo.  

Heo Trong Kinh Thánh

Đối với người Do Thái, Lời Chúa trong Kinh Thánh cho chúng ta biết heo là một loài vật không thanh sạch. Chúa cấm người Do Thái ăn thịt heo và đụng đến xác chết của heo (Lê-vi Ký 11:7; Phục Truyền 14:8).

Trước khi người Do Thái vào xứ Ca-na-an, dân bản xứ tại Ca-na-an đã biết nuôi heo và ăn thịt heo.  Các nhà khảo cổ đã tìm thấy di tích rất nhiều xương heo tại Ca-na-an trước thời người Do Thái đến sống tại đây. 

Sau khi Đức Chúa Trời cứu người Do Thái khỏi Ai-cập, Ngài đem họ về Ca-na-an. Đức Chúa Trời muốn người Do Thái trở thành một dân tộc thánh cho Ngài.  Đức Chúa Trời phán: “Vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi phải nên thánh, vì ta là thánh.” (Lê-vi 11:45).  Để giữ cho người Do Thái được thánh sạch, Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se và A-rôn hãy căn dặn người Do Thái không được ăn những loài vật ô uế (Lê-vi 11).  Heo là một trong những loài thú được liệt kê vào danh sách những loài vật ô uế, do đó người Do Thái không được ăn thịt heo hay đụng đến xác chết của heo.  Tại một số quốc gia vào thời đó, heo được dùng trong những nghi lễ thờ phượng  các tà thần.  Đây có lẽ là một trong những lý do khiến Đức Chúa Trời không cho phép người Do Thái ăn thịt heo hay đụng đến xác chết của heo, bởi vì người Do Thái có thể bị cám dỗ thờ phượng tà thần của các dân tộc lân cận.

Mặc dầu người Do Thái đã được Đức Chúa Trời căn dặn từ trước khi lập quốc, họ vẫn không tuân theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời.  Tiên tri Ê-sai mô tả tình trạng của người Do Thái khi họ sắp sửa bị mất nước lần đầu tiên như sau:

“Suốt ngày chúng công khai phỉ báng Ta ngay trước mặt Ta; tế lễ cho các thần tượng trong vườn, đốt tượng cho các tà linh trên tường gạch.  Ban đêm, chúng ra ngồi tĩnh tâm ngoài nghĩa địa, hành hương đến các hang động, tháp miễu để thờ lạy quỷ dữ, ăn thịt heo tế thần và nấu các món ăn ô uế trong nồi.” (Ê-sai 65:3-4 – Bản Dịch Thánh Kinh Hiện Đại). 

“Những kẻ dọn mình cho sạch sẽ để thờ phượng những thần tượng giấu kín sau cây cổ thụ trong vườn, những kẻ ăn thịt theo, thịt chuột và các loài thịt ô uế, sẽ đến ngày tận số kinh hoàng, Chúa Hằng Hữu phán vậy” (Ê-sai 66:17 – Bản Dịch Thánh Kinh Hiện Đại).    

Ngoài dân bản địa tại Ca-na-an, người Hy Lạp cũng ăn thịt heo, và người Hy Lạp dâng heo để cúng thần Aphrodite và Venus của họ.  Hơn 400 năm sau những ký thuật nói trên của tiên tri Ê-sai, vào thế kỷ thứ 3 T.C., các môn đệ của trường phái Epicureanism– tức là những người theo chủ nghĩa khoái lạc – đã chọn con heo làm biểu tượng chính thức của trường phái này.  Epicurus (341–270 TC) là một triết gia Hy-lạp. Ông chủ trương rằng chết là hết, và do đó con người nên tận hưởng những lạc thú trong cuộc đời này.  Các môn đệ của Epicurus được gọi là Epicurean.  Sứ đồ Phi-e-rơ đã mô tả đặc tính của những người Epicurean như sau: “Những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Họ cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ, dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa. Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình. Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em; cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả. ….. Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc; chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.” (II Phi-e-rơ 2:10-19).   Khi Sứ đồ Phao-lô đến A-thên, ông cảm thấy khó chịu vì triết lý sống của người dân tại đây. Sứ đồ Phao-lô đã giảng cho họ về Chúa, và một số người Epicurean đã đến tranh luận với Sứ đồ Phao-lô vào lúc đó (Công Vụ 17:16-34).

Vào thời Đức Chúa Jesus, nghề nuôi heo đã phát triển mạnh tại xứ Ca-na-an.  Kinh Thánh cho biết chỉ có một bầy heo đã có tới hai ngàn con (Mác 5:11-13).  Có lẽ số heo này được nuôi để cung cấp thịt cho những người Hy Lạp và những sắc dân khác đang sống tại khu vực bao gồm mười thành phố (Decapolis – Deca: mười; polis: thành phố) gần hồ Ga-li-lê.  Đây là khu vực có nhiều người gốc Hy Lạp sinh sống.  Đức Chúa Jesus đã vài lần đến để truyền giảng cho các dân tộc ngoại quốc tại vùng Decapolis.  Phúc Âm Mác 5:1-10 và Lu-ca 8:26-39 ghi lại việc Đức Chúa Jesus chữa lành cho một người bị quỷ ám tại Ghê-ra-sê-nê (Gerasa), và khi ma quỷ lìa khỏi người bệnh, ma quỷ đã nhập vào bầy heo gần đó. Phúc Âm Ma-thi-ơ 8:28-34 thuật lại một câu chuyện tương tự nhưng  Đức Chúa Jesus đã chữa cho hai người bị quỷ ám và câu chuyện này xảy ra tại Ga-đa-rê-nê (Gadara).  Gerasa và Gadara là hai thành phố trong khu vực mười thành phố; và hai thành phố này nằm về phía đông nam của hồ Ga-li-lê.  Thánh Kinh Tân Ước cho biết đã có rất nhiều người từ khu vực Decapolis đã gia nhập vào đám đông đi theo Đức Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 4:23-25).

Ngày nay, các nhà dịch tể học cho rằng Đức Chúa Trời là Đấng khôn ngoan và yêu thương cho nên Ngài đã cấm người Do Thái ăn thịt heo và một số loài vật khác vào lúc đó.  Theo các chuyên viên y tế, nếu Chúa cho phép ăn thịt heo, người Do Thái sẽ nuôi heo.  Điều kiện vệ sinh và thời tiết khắc nghiệt của cuộc hành trình về Đất Hứa sẽ dễ gây ra dịch bịnh, và điều này có thể khiến dân Do Thái có thể bị hủy diệt hoặc suy yếu, bởi vì cơ thể heo mang ký sinh trùng “sán sơ-mít” có thể truyền sang cho người, và bệnh cúm heo (swine influenza – H1N1, H1N2, H2N1,  H3N1,  H3N2, H2N3) cũng thường lây từ heo sang người khiến nhiều người bị chết.  Không phải chỉ có heo, nhưng những loài vật khác mà Chúa cấm người Do Thái ăn cũng mang một số bệnh dịch nguy hiểm.  Tuy nhiên, đến thời Tân Ước, Đức Chúa Trời đã truyền cho Sứ đồ Phi-e-rơ rằng ông có thể ăn những sinh vật mà Chúa đã tạo dựng và không phải xem những loài thú đó là ô uế nữa (Công Vụ 10:9-16). 

Do không ăn thịt heo và coi heo là một loài ô uế cho nên người Do Thái xem nghề chăn heo là một nghề thấp kém – không một người Do Thái nào muốn làm nghề này.  Hình ảnh người con trai hoang đàng đi chăn heo, mà Đức Chúa Jesus kể trong Lu-ca 15:15-16, diễn tả một hoàn cảnh thật tệ hại.  Người Do Thái thời xưa vốn xem thường người ngoại quốc cho nên việc một người Do Thái phải đi làm thuê cho một người ngoại quốc là điều tệ hại. Làm công việc gì cho người ngoại quốc còn tạm được nhưng chăn heo cho người ngoại quốc lại là điều tệ hại hơn.  Đi chăn heo cho người ngoại quốc mà đói đến nỗi muốn ăn thức ăn của heo nhưng cũng không được phép ăn là điều tệ hại vô cùng. Những người Do Thái, nghe Đức Chúa Jesus kể câu chuyện này, hiểu rõ chàng thanh niên trong câu chuyện này đã sa xuống chỗ thấp nhất trong nấc thang của xã hội Do Thái, và họ hiểu điều Đức Chúa Jesus dạy đó là đối với một số người, khi phải đối diện với những kinh nghiệm buồn đau nhất trong cuộc đời, đó cũng chính là lúc giúp họ thức tỉnh để nhận biết được tình yêu của Chúa dành cho mình.          

Heo dùng mũi ủi mọi thứ, cho nên không ai đem vòng vàng đeo nơi mũi heo, bởi vì hành động đó thật hoang phí và thiếu khôn ngoan.  Tác giả sách Châm Ngôn cho rằng một phụ nữ xinh đẹp mà sống phóng túng, thiếu dè dặt cũng như vậy (Châm Ngôn 11:22).  Heo không nhận biết những vật giá trị được trao cho mình.  Đức Chúa Jesus dạy rằng: “Đừng quăng hột trai trước mặt heo” (Ma-thi-ơ 7:6).

Nếu không bị giết để lấy thịt, heo có thể sống từ 9 đến 15 năm.  Khi đó các răng nanh sẽ mọc ra, và tùy theo loài, heo có thể có 2 hoặc 4 răng nanh.  Đối với heo rừng, răng nanh là vũ khí.  Heo rừng dùng mõm và răng nanh ủi đất để ăn các rễ cây.  Thói quen này dẫn đến việc phá hoại mùa màng.  Thi Thiên 80:13 mô tả tác hại của việc bị “heo rừng cắn phá”.  Tác giả Thi Thiên 80 mô tả dân Do Thái là tuyển dân của Đức Chúa Trời giống như một gốc nho đã được Ngài đem từ Ai Cập về trồng tại Ca-na-an.  Gốc và rễ nho mọc mạnh, chồi lan tỏa thật xum xuê nhờ sự che chở của Chúa.  Nhưng bởi vì người Do Thái phạm tội chống nghịch cùng Đức Chúa Trời cho nên Ngài không còn chăm sóc họ nữa, và do đó người Do Thái (cây nho) đã bị các dân tộc ngoại bang (heo rừng) hủy phá.

Theo học giả William T. Ahlschwede trong World Book Encyclopedia, heo ở sạch hơn các loài gia súc khác, nhưng khi thời tiết nóng heo thích lăn trong vũng bùn cho mát.  Tuy nhiên, những người nuôi heo đều biết rằng dù heo mới được tắm mát, nếu được tự do heo vẫn thích lăn vào vũng bùn.  Đó chính là điều Sứ đồ Phi-e-rơ đã ghi nhận từ một tục ngữ vào thời của ông:“Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn” (II Phi-e-rơ 2:22).  Sứ đồ Phi-e-rơ dùng hình ảnh này để mô tả một người đã biết Chúa, đã được tha thứ (thanh tẩy), nhưng vẫn quay về nếp sống cũ.  Cho dù heo chỉ vì cần mát mẻ sẵn sàng lăn vào vũng bùn dơ, một người có nhận thức – đã được Chúa cứu và làm cho thanh sạch – không thể hành động theo bản năng để thỏa mãn nhu cầu thể xác của mình được.  Điều đáng tiếc là Hội Thánh từ thời Sứ đồ Phi-e-rơ – và có lẽ cho đến ngày nay – vẫn có một số người hành động như vậy.    

Xuân về, ôn lại vài phân đoạn Kinh Thánh liên quan đến loài heo, Lời Chúa nhắc chúng ta rằng Chúa muốn con cái Ngài phải có đời sống thánh khiết.  Trong cuộc sống theo Chúa, có một số điều Chúa dạy trong Kinh Thánh, đôi khi chúng ta chưa hiểu rõ tại sao, nhưng hãy vâng theo bởi vì đó là ý định tốt lành của Chúa dành cho chúng ta. Những câu Kinh Thánh liên quan đến loài heo cũng nhắc chúng ta đừng mắc sai lầm của người Do Thái cũng như một số tín hữu thuộc Hội Thánh vào thời ban đầu, là những đã được Chúa  cứu nhưng vẫn quay lại con đường cũ phạm tội với Ngài. Tuy nhiên, Đức Chúa Jesus đã nhấn mạnh rằng nếu có ai lỡ lầm phạm tội cùng Đức Chúa Trời, hãy tỉnh ngộ, ăn năn, và trở về với Ngài, bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương và tha thứ cho người có lỗi biết ăn năn. “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (II Cô-rinh-tô 5:17).  

Phước Nguyên
Tháng 1/1995

Nguyệt San Linh Lực (1/2/1995)
Thư Viện Tin Lành – Hiệu đính 2019
www.thuvientinlanh.org

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top