Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Mục sư Lưu Văn Mão: Tâm Sự Của Bà Na-ô-mi và Nàng Ru-tơ

Mục sư Lưu Văn Mão: Tâm Sự Của Bà Na-ô-mi và Nàng Ru-tơ

Tâm Sự Của Bà Na-ô-mi và Nàng Ru-tơ 

(Theo sách Ru-tơ)

Lời Tác Giả:
Tâm sự Na-ô-mi và Ru-tơ được diễn tả theo Kinh Thánh.  Vậy, xin quý vị đọc kỹ sách Ru-tơ, rồi đọc tác phẩm này, chắc hẳn sẽ dồi dào ý nghĩa.

Xưa kia, tại nước Do-thái về thời Các Quan Xét, có một cơn đói kém xảy đến, nhân dân lấy làm khốn khổ.  Vì lẽ đó, nên bà Na-ô-mi với chồng là ông Ê-li-mê-léc, cùng hai con trai là Mạc-lôn và Ki-li-ôn đến kiều ngụ tại xứ Mô-áp.  Song tội nghiệp thay!  Chưa được bao lâu thì ông Ê-li-mê-léc từ trần! Kế đó, hai con trai cưới vợ người Mô-áp, chẳng nhớ đến quê hương, không nghĩ gì tổ quốc! Rồi, một sự bất ngờ: cả hai chàng đều tạ thế, để Na-ô-mi ở lại không chồng, không con; gian nan lắm nỗi, trầm bổng nhiều phen, đất khách, quê người, không nơi nương dựa.  Thảm trạng đó, khiến Na-ô-mi đau lòng xót dạ, quyết định hồi cư, để yên ủi tấm thân già yếu!  Nàng Ru-tơ vợ Mạc-lôn, là dâu trưởng, vì quá thương mẹ chồng, nên cũng từ giã quê hương cho trọn niềm mẫu tử.  Đoạn, thân già, thân gái tiến bước lên đường, xông pha cát bụi, chẳng quản gian lao, miễn tròn chung thủy! Bởi nghĩa cử cao đẹp của mẹ hiền, dâu thảo, nên ơn trên phù trợ, sự nghiệp huy hoàng.  Thánh sử vẻ vang, danh truyền vĩnh thế!

Mục sư Lưu Văn Mão (1970) 

Tâm Sự Của Bà Na-ô-mi và Nàng Ru-tơ

Trải qua một cuộc trên đời,
Lắm hồi lao khổ, lắm hồi gian nan!
Lòng tin kính giữ vẹn toàn,
Danh lưu mãi mãi, tiếng tràn xa xa.

Nhớ xưa, trong xứ Giu-đa,
Đương đời Quan-xét, thật là thảm thương.
Có cơn đói kém lạ thường,
Dân cư khổ sở biết nương nơi nào!
Tình hình nguy ngập biết bao,
Trông vào hoa lợi mà nào thấy chi!
Có người tên gọi Ô-mi, (1)
Cùng chồng sanh được nam nhi hai người.
Cũng là dòng giống thờ Trời,
Sớm khuya khẩn nguyện ở nơi đền thờ.
Gặp cơn tai biến chẳng ngờ,
Xót thay, cũng bị sa cơ nữa chừng!
Tháng ngày vất vả tấm thân,
Mà trong gia quyến khôn phần ấm no!
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co,
Tìm phương, kiếm thế sống cho qua ngày.
Ở đây, cực khổ lắm thay,
Kìa, bên Mô-áp hiện nay an nhàn.
Chúng ta hãy tạm dời sang,
Hết cơn đói kém lại toan trở về.
Nghĩ rồi, không tiện nhiều bề,
Khi đi tính vậy, lúc về ra sao?
Chàng ngày tuổi lại càng cao,
Tấm thân già yếu, khác nào cỏ cây!
Cùng nhau, bàn luận canh chầy,
Đường xa, nghĩ nỗi sau nầy mà kinh!
No cơm, ấm áo đã đành,
Cái thân phù thế, tử sanh khôn lường!
Chi bằng ở chốn quê hương,
Đói no hẩm hút, giáo đường tiện nơi.
Than ôi, chẳng được như lời,
Bởi chưng ách nước, tai trời dây dưa!
Đói lòng khó nỗi lọc lừa,
Cũng liều nhắm mắt, chân đưa cho rồi.
Vợ chồng con cái bốn người,
Sửa sang hành lý, tiện nơi lên đường.
Từ đây, cách biệt quê hương,
Đêm trông, ngày nhớ, thảm thương dường nào.
Dứt tình, trong dạ như bào,
Bụi hồng muôn dặm, non cao mấy từng.
Bước đi một bước, một dừng,
Quay nhìn Điện Thánh, rưng rưng lụy hồng.
Hết đèo, rồi lại đến sông,
Đường xa muôn dặm, não nùng tấm thân!
Tới nơi bỡ ngỡ muôn phần,
Tìm đâu cho thấy cố nhân chốn nầy!
Quê người, đất khách đắng cay,
Cũng cam nấn ná, tháng ngày cho qua.
Nào ngờ: tai nạn xảy ra,
Ê-li-mê-léc, hồn xa cõi trần!
Nỗi buồn biết lấy chi can,
Nén gan lụy nhỏ, phân trần lòng đau!
Cơ trời nào có biết đâu,
Chưa vui sum hiệp, dã sầu chia phôi!
Năm canh dạ những bồi hồi,
Với hai con dại, mồ côi lạnh lùng!
Nói ra lắm nỗi não nùng,
Đau lòng không biết than cùng với ai?
Đoản, trường hai chữ vắn dài,
Hỡi người dưới chốn dạ đài thấu cho!
Nỗi buồn, kế tiếp nỗi lo,
Tấm thân ngày một: ốm-o gầy mòn!
Ấy là vì cớ hai con,
Yêu người Mô-áp, chẳng còn ngăn can.
Chẳng lo đến nỗi cơ hàn,
Chẳng lo kiếm cách, tìm phương trở về.
Càng ngày càng quá say mê,
Trời cao, đất rộng, bốn bề thung-dung!
Gió đâu một trận lạ lùng,
Mạc-lôn con cả, mạng chung nửa chừng!
Ki-li-ôn, cũng từ trần,
Một cơn tai biến, muôn phần đắng cay!
Thân già như tỉnh, như say,
Như chim tan tác, như cây gãy cành!
Nói sao cho hết sự tình,
Hiểu sao cho thấu tử sanh đôi đàng!
Người âm phủ, kẻ dương gian,
Biết đâu, ở chốn ngoại bang nương nhờ.
Chân trời, mặt đất bơ vơ,
Vết thương đau đớn, bao giờ cho phai?
Từ khi lưu lạc quê người,
Hồi tâm tính lại đã mười năm dư,
Ngày ngày luống những sầu tư,
Suy đi nghĩ lại, bây chừ làm sao?
Trông về mây trắng, trời cao,
Non xanh, đá dựng, xiết bao gập ghềnh!
Vì xưa, tâm chí vững bền,
Ở yên cố quận, chẳng nên nỗi nầy.
Đêm trông một khắc, một chầy,
Bâng khuâng như tỉnh, như say một mình.
Thân nhân ai có rõ tình
Với nhau an lạc, mà mình một nơi!
Si-ôn, một giải bên trời,
Trông về Điện Thánh, ngậm ngùi xót xa,
Nhớ ngày khi bước chân ra,
Chồng con sum hiệp một nhà vui thay!
Bây giờ rẽ cách, chia tay,
Mối sầu dằng dặc biết ngày nào nguôi!
Buồn trông phong cảnh quê người,
Thương thân, tủi phận, lệ rơi hai hàng.
Biết ai bày tỏ tâm-can,
Quay về Tổ quốc, cho an phận già.
Cúi đầu khẩn nguyện Chúa Cha,
Thương con tóc bạc, tuổi già đơn cô!
Nghe tin ở chốn Thành-Đô,
Ơn trên Chúa đã ban cho mọi người.
Dẫn con về đến tận nơi,
Trước là thờ Chúa, sau thời an thân.
Xót thương! ba nấm mộ phần,
Ôi chồng, con hỡi, an thân nơi nầy!
Giã từ Mô-áp ra đi,
Ru-tơ nàng cũng, lâm li lụy hồng!
Mẹ ôi! Con quyết theo cùng,
Sớm hôm với mẹ, thủy chung với chồng!
Thương dâu, trong dạ não nồng,
Con ôi, trở lại  theo cùng làm chi.
Mẹ già bao nỗi sầu bi,
Tấm thân nầy có còn gì mà mong.
Khuyên con, hãy tạm yên lòng,
Ở nơi sanh quán, cho xong một bề.
Mẹ đi cách trở sơn khê,
Trải bao gian khổ, mới về cố hương.
Xót thay, hằng chục năm trường,
Bây giờ mẹ chẳng còn phương cách nào?
Thân già biết liệu làm sao,
Nhỡ khi mưa, nắng, trông vào những ai?
Ru-tơ giọt ngắn, giọt dài,
Mẹ ơi, xin mẹ chớ nài chia phôi!
Riêng con, đã quyết định rồi,
Dẫu trăm nguy hiểm, dám rời mẹ đâu!
Cùng chung một tấm lòng đau,
Con đi với mẹ, có nhau tháng ngày.
Rồi đây cảnh vật đổi thay,
Quốc dân của mẹ, hẳn rày của con.
Nguyện lòng tin kính mẹ còn,
Chúa Trời của mẹ, thì con tôn sùng.
Mai sau mẹ có lâm chung,
Rồi con cũng thác, chôn cùng một nơi.
Ngoài ra sự chết trên đời,
Thì con quyết giữ mọi lời đinh ninh!
Ô-mi thấu rõ sự tình,
Mẹ con sửa soạn lộ trình xông pha!
Thân già, thân gái xót xa,
Quan san ngàn dặm, thật là gian lao!
Mịt mù dặm cát, đồi cao,
Nhựt tà, nguyệt xế biết bao nhiêu lần.
Ơn Trời độ kẻ cô thân,
Bết-lê-hem, đã đến gần tận nơi.
Cả thành trông thấy lụy rơi,
Quá thương, nên mới ngỏ lời hỏi han.
Ô-mi giọt lệ chứa chan,
Rằng: tôi nếm trải muôn ngàn đắng cay!
Xưa kia mọi sự dẫy đầy,
Giờ đây chỉ có tay nầy mà thôi!
Chồng, con tôi đã chết rồi
Bỏ xương đất khách quê người thảm thay!
Bèo trôi, sóng vỗ, gió lay,
Thân này còn biết có rày nữa sao?
Ru-tơ, nàng ấy dâu tôi,
Quê sinh Mô-áp, vốn người thủy chung.
Tuổi thơ sớm chịu lạnh lùng,
Giữ lòng trinh thuận, quyết cùng ly hương.
Bao nhiêu nỗi khổ, tình thương,
Ngày đêm luống những vấn vương bên lòng.
Cảnh đời nước đục, bụi trong,
Éo le lắm nỗi, đau lòng nhiều phen.
Thân sao mãi chịu bất bằng,
Người sao rặt những khó khăn bấy chầy!
May đâu Chúa dẫn về đây,
Hay là khổ tận, đến ngày cam lai.
Muôn nghìn cảm tạ ơn Ngài,
Ngày xưa lưu lạc, ngày mai huy hoàng!
Ấy nhờ Thánh Chúa cao sang,
Mẹ hiền, dâu thảo chu toàn cả hai.
Núi cao, đất rộng, sông dài,
Thánh đường đẹp đẽ, lâu đài nguy nga.
Quê người, đất khách đã qua,
Từ đây an lạc quê nhà phước thay!
Nhằm đầu mùa gặt vui vầy,
Nhân dân nô nức đông tây khắp đồng.
Ru-tơ thưa với mẹ chồng:
Để con mót lúa đỡ lòng hôm mai.
Ngoài con, mẹ chẳng có ai,
Con lo nuôi mẹ, chẳng nài gian lao!
Miệng con đã hứa thể nào,
Lòng con giữ vẹn, trước sau chẳng dời.
Kính yêu bày tỏ hết lời,
Ô-mi chấp thuận, nàng dời chân đi.
Ruộng kia thẳng tới tức thì,
Theo sau con gặt, quản gì nắng mưa.
Buổi chiều, buổi sớm, ban trưa,
Lượm bông lúa sót, cũng vừa ấm no.
May thay, gặp ruộng Bô-ô,
Là người chuộc lại cơ đồ khi sau.
Vốn người quyền thế, sang giàu,
Họ hàng thân thuộc gần nhau như chồng.
Bỗng đâu người đến cánh đồng,
Viếng thăm con gặt, tỏ lòng hoan hân.
Nguyện cùng Thánh Chúa Chí nhân,
Ngày đêm Ngài cứ ở gần các ngươi.
Đồng thanh ai nấy đáp lời:
Chúc ông hưởng được phước trời càng hơn.
Kìa, người thiếu nữ cô đơn,
Bô-ô muốn biết nguồn cơn thể nào?
Tánh danh, quê quán nơi nao,
Làm sao nàng lại lạc vào nơi đây?
Thưa rằng: dâu của Ô-mi,
Quê sinh Mô-áp, tên là Ru-tơ.
Chồng nàng tạ thế bất ngờ,
Tấm son vẫn giữ đến giờ đinh ninh!
Nói sao cho hết sự tình,
Xót xa thân gái một mình tha hương.
Trải qua muôn dặm đường trường,
Đắng cay chẳng quản, vì thương mẹ chồng.
Bô-ô xúc động lạ lùng,
Bình tâm người mới ngỏ cùng Ru-tơ,
Biển trần lai láng không bờ,
Xót thân bồ liễu bơ vơ chân trời!
Khuyên nàng yên trí nghe lời,
Ở đây mót lúa, theo người gặt ta.
Tan sương cho đến chiều tà,
Chớ đi ruộng khác, đừng xa chỗ này.
Nước thì sẵn có nơi đây,
Xin nàng hãy lấy uống đi mát lòng.
Ru-tơ vừa mới nghe xong,
Cúi đầu xuống đất tỏ lòng tri ân.
Vì đâu ông mở lòng nhân,
Vì đâu đoái đến tấm thân lạc loài.
Vì đâu không kể trong ngoài…
Vì đâu thống cảm con người ngoại bang.
Bô-ô liền đáp rõ ràng,
Có người đã thuật chuyện nàng ta nghe.
Chồng nàng theo gió chơi mây,
Cõi trần nào biết những ngày nắng mưa.
Nàng ôm lấy mối tình xưa,
Mẹ chồng phụng dưỡng sớm trưa một mình.
Giã từ đất tổ, quê sinh,
Đến nơi xa lạ, dân tình chưa quen.
Nghiêng mình núp bóng Toàn Năng,
Bể dâu, dâu bể mấy phen đổi dời.
Nguyền xin Thánh Chúa trên trời,
Xét soi, ban thưởng cho người thủy chung.
Nàng rằng nghĩa cử anh hùng,
Những lời an ủi giục lòng biết bao!
Phận hèn đáng giá chi đâu,
Ngửa trông lượng cả, ơn sâu thấm nhuần.
Bô-ô tâm chí vui mừng,
Bày ra một bữa ăn chung với nàng.
Người trao bánh, hột mạch rang,
Nàng cùng con gặt hân hoan sum vầy.
Ngậm ngùi nàng nhớ Ô-mi,
Một phần dành lại để khi chiều tà.
Bô-ô truyền bảo quản gia,
Với nàng cũng kể như là người thân.
Con người có nghĩa, có nhân,
Các ngươi cũng phải lấy ân đáp lời.
Hoàng hôn kia đã đến rồi,
Ru-tơ thu dọn phản hồi thành trung.
Ô-mi mừng rỡ vô cùng,
Mẹ con bày tỏ nỗi lòng thiết tha!
Rồi nàng lấy bánh đem ra,
Thành tâm dâng mẹ món quà của con.
Mẹ ăn một chút đỡ lòng,
Buổi trưa con đã giữ phần lại đây.
Mẹ rằng: hiếu thảo lắm thay,
Vậy, con mót lúa ngày nay nơi nào?
Nguyện cùng Thánh Chúa chí cao,
Đoái xem, ban phước người nào tiếp con
Nàng rằng: Con đến cánh đồng,
Ruộng kia của một phú ông nhân từ.
Bô-ô chính thật tên người,
Nói năng cư xử vui tươi mặn mà.
Ô-mi vừa mới nghe qua,
Quả rằng: Người ấy vốn là đồng thân.
Chúa Trời không dứt thi ân,
Kẻ còn, người chết có phần cả hai.
Mênh mông bể rộng, sông dài,
Lòng yêu của Chúa láng lai vô cùng.
Quan san cách trở ngàn trùng,
Ngài cho con được tương phùng hôm nay!
Người kia, cũng có quyền nầy,
Chuộc về sản nghiệp ta đây rõ ràng.
Đó là một sự vẻ vang,
Từ đây, con cứ theo sang ruộng người,
Đừng đi ruộng khác con ơi,
Lưu tâm giữ lấy những lời mẹ khuyên.
Ru-tơ đứng dậy thưa liền,
Phú ông, người cũng đã truyền dạy qua.
Ở đây với tớ gái ta,
Gặt xong lúa mạch, kế qua lúa mì.
Mỗi ngày buổi sáng con đi,
Con về với mẹ, mỗi khi chiều tà.
Mẹ con sum hiệp một nhà,
Ngọn đèn đạo đức chói lòa nơi nơi!
Ơn Trời được buổi thảnh thơi,
Ô-mi bày tỏ những lời gần xa.
Con ơi, mẹ đã tuổi già,
Mẹ lo con có nơi mà an thân.
Bấy nay, trải lắm phong trần,
Gia đình hạnh phước rất cần cho con.
Danh còn, sự nghiệp cũng còn,
Sử xanh ghi để nước non sau nầy.
Nghe lời mẹ dặn con đây,
Hoàng Thiên thấu rõ việc nầy của con.
Ước mong man được vuông tròn,
Quốc dân kính nể mẹ còn thêm vui!
Bô-ô vốn thật là người,
Được quyền tái lập cuộc đời của con.
Ơn người vì tợ nghìn non,
Chính người cũng đã biết con rõ ràng.
Đêm nay người sẽ lên đàng,
Đến gié lúa mạch, nơi sân lúa mình.
Sửa sang quần áo tốt xinh,
Rồi con cũng phải thượng trình ngay đi.
Miễn sao đến đó kịp thì,
Chớ cho người ấy biết gì đến con.
Gắn ghi lời mẹ bên lòng,
Hãy xem cho rõ người nằm nơi nao.
Canh khuya ai biết đâu nào,
Dở mền người ấy đắp vào thân con,
Chính người dạy bảo con làm,
Đúng theo luật nước, chu toàn lễ nghi.
Nàng rằng: ý nghĩa tinh vi,
Con xin vâng giữ, mẹ thì an tâm.
Dứt lời chải tóc, cài trâm,
Ngắm sân đạp lúa, dời chân mấy hồi.
Bô-ô ăn uống xong rồi,
Lòng người hớn hở mừng vui đi nằm.
Ngay khi giấc điệp đương nồng,
Gót sen nhè nhẹ bước lần tận nơi.
Ghé thân nằm dưới chân người,
Dở mền người đắp như lời mẹ khuyên.
Mắt trong, nàng vẫn nằm yên,
Chờ xem cho biết sự duyên thể nào?
Bô-ô kinh hãi biết bao,
Giựt mình chẳng hiểu người nào ở đây?
Canh khuya vắng vẻ thế này,
Làm sao người nữ nằm ngay chân mình.
Cất lời gạn hỏi phân minh,
Phải cho ta biết, rằng mình là ai?
Thưa rằng: Tôi chính Ru-tơ,
Tấm thân lạnh lẽo, nương nhờ nơi ông.
Bấy nay tôi vẫn đợi trông,
Chuộc về sản nghiệp, riêng ông trọn quyền.
Từ ngày dứt mối tơ duyên,
Theo chân từ mẫu, đến miền xa xăm.
Cúi xin gởi trọn tấm lòng,
“Danh người khuất mặt” muôn năm vẫn còn.
Bô-ô thấu rõ ngọn nguồn,
Cầu Trời giáng phước cho nàng hôm nay!
Việc nàng vừa mới làm đây,
Lại còn quan trọng hơn ngày trước kia.
Thanh niên đúng lứa, vừa thì,
Nàng không lưu ý, bất kỳ một ai.
Vẹn niềm sau trước không sai,
Nắng mưa dào dạt bao nài gian nan.
Bây giờ việc đã rõ ràng,
Ta xin làm trọn lời nàng nói ra.
Bởi dân trong cả thành ta,
Ai ai cũng biết nàng là hiền nhân.
Xét trong, còn có “người thân”,
Ngày mai ta sẽ phân trần xem sao?
Người kia, giải đáp thế nào?
Hễ người đẹp ý: Kết giao tâm hồn!
Bằng không, nguyện Đấng Chí Tôn,
Ta đem sản nghiệp Mạc-lôn (2) lại nàng.
Đêm nay, xin hãy bình an,
Rạng đông nàng phải lo toan vào thành.
Ru-tơ về với mẹ mình,
Kẻ răng, chân tóc rành rành kể ra.
Ô-mi nghe hết gần xa,
Khuyên con chờ đợi, biết qua tin lành.
Quả nhiên: đúng tại cửa thành,
Kìa, “người thân” ấy du hành đến nơi.
Bô-ô hớn hở chào người,
Xin anh ngồi lại gần tôi nơi nầy.
Mời ban trưởng lão đến đây,
Chúng ta tổ chức họp ngay hội đồng.
Chờ khi ai nấy ngồi xong,
Bô-ô nói với “người thân” mấy lời:
Ô-mi nay đã về rồi,
Bán luôn sở ruộng của người khi xưa.
Ưu tiên anh có quyền mua,
Anh nên quyết định cho vừa thời gian.
Bằng không, xin nói rõ ràng,
Để tôi sớm liệu, chu toàn ngày mai.
Trước anh quyền ấy chẳng ai,
Sau anh, chắc hẳn không ngoài quyền tôi.
Khi mua sở ruộng xong rồi,
Phải lo đến vợ của người cửu nguyên (3)
Đặng cho nối dõi lưu truyền,
“Danh người khuất mặt”, niên niên trường tồn!
“Người thân” thấu rõ tâm hồn,
Biết mình không thể làm tròn được đâu.
Vậy nên, khẩn thiết yêu cầu,
Bô-ô, anh tính cách nào đẹp yên.
Đúng theo tục lệ cổ truyền…,
Tôi xin cam kết: nhường quyền lại anh.
Trước ban trưởng lão hiện hành,
Toàn dân hội hiệp cửa thành hôm nay.
Bô-ô chơn thật tỏ bày,
Xin chư quý vị, chứng ngay việc nầy:
Tôi mua nơi chính Ô-mi,
Bao nhiêu sản nghiệp Ê-li… (4) hiện còn.
Ru-tơ vợ của Mạc-lôn,
Tôi xin cưới lấy, bảo tồn pháp gia!
“Nối danh kẻ chết chúng ta,
Để trang thanh sử, nước nhà đẹp xinh!
Toàn dân ai cũng hoan nghinh,
Cả ban trưởng lão đồng thinh tán thành!
Chúng tôi tất cả chứng minh:
Nguyện cầu Thượng Đế giúp anh chu toàn.
Chúc cho người nữ khôn ngoan,
Dựng nên cơ nghiệp, vững an sau nầy.
Giống chư liệt nữ trước đây,
Dắt đưa dân tộc đến ngày vinh quang!
Chúc cho con cháu huy hoàng,
“Bết-lê-hem”, vẫn vẻ vang muôn đời!
Bô-ô, cưới hỏi xong rồi,
Chúa ban sanh được một người con trai.
Khắp trong phụ nữ ai ai,
Mừng Ô-mi, lại hát bài thi ca!
Ngợi khen Đức Giê-hô-va,
Bởi lòng thành tín, cho bà nàng dâu!
Bảy trai há dễ sanh đâu,
Hiếu, trinh trọn vẹn, trước sau mấy người.
Ô-mi hớn hở tươi cười,
Ẵm bồng đứa trẻ, mừng vui khôn cùng!
Mới hay ý Chúa lạ lùng,
Dẫu rằng cao thẳm ngàn trùng có xa!
Bao nhiêu cay đắng đã qua,
“Ngọt ngào” đem lại tuổi già phước thay!
Trăm năm mới có một ngày,
Chị em phụ nữ sum vầy chia vui!
Chia vui đứa trẻ chào đời,
Đặt tên “Ô-bết” người người mến thương!
Phước thay, dân tộc phú cường,
Non sông tươi đẹp, bốn phương thái hòa.
Thời gian thấm thoát trôi qua,
Trẻ thơ Ô-bết, nay đà thành nhân.
Cậy ơn cha mẹ lập thân,
“Y-sai” sanh hạ muôn phần vẻ vang!
Yêu người, kính Chúa vẹn toàn,
Thấm nhuần đạo đức, khôn ngoan ở đời.
Ngợi khen Thánh Chúa trên trời,
Vẫn lưu tâm đến con người thủy chung.
Y-sai được phước vô cùng,
Hạ sanh “Đa-vít”, lạ lùng biết bao!
Ơn Trời ngự chốn ngôi cao,
Minh quân, Thánh-đế vua nào sánh ngang?
Sử xanh ghi chép rõ ràng,
Danh lưu thế giới, tiếng vang địa cầu.
Đến đời hăm tám (5) kế sau,
Đúng trong Gia phổ nối nhau rành rành.
Giê-xu Cứu Chúa giáng sanh,
Đưa người về chốn Thiên thành yên vui!
Gẫm xem muôn sự bởi Trời,
Bày ra mới biết con người thủy chng.
Ô-mi quyết nắm chữ “Trung”,
Ru-tơ theo trọn chữ “Tùng” đến nơi.
Hiến thân thờ Chúa suốt đời,
Hết cơn gian khổ, đến hồi hiển vinh!
Gìn lòng, giữ dạ đinh ninh,
Nghìn thu ghi để Thánh Kinh lưu truyền.

Viết xong mùa thu năm Canh Tuất 1970
Nam-sơn, Mục sư Lưu-Văn-Mão

Thư Viện Tin Lành 
www.thuvientinlanh.org

(1) Na-ô-mi
(2) Chồng quá cố của Ru-tơ, Ru-to 4:10
(3) Âm phủ
(4) Ê-li-mê-léc, Mạc-lôn và Ki-li-ôn
(5) Từ vua Đa-vít đến Đức Chúa Jêsus có 28 đời. Ma-thi-ơ 1:17.

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top