Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Cùng Học Kinh Thánh: Lu-ca 3:21-38

Cùng Học Kinh Thánh: Lu-ca 3:21-38

Cùng Học Kinh Thánh
Lu-ca 3:21-38

Câu Hỏi Thảo Luận

  1. Tại sao Chúa Giê-xu chịu báp-tem cùng một lúc với những người khác?  Ba sự kiện đặc biệt xảy ra trong lễ báp-tem của Chúa là gì (câu 3:21-22)? Xin cho biết ý nghĩa và tầm quan trọng của những sự kiện đó?
  2. Xin so sánh ký thuật của Lu-ca về lễ báp-tem của Chúa Giê-xu với ba tường thuật khác trong Ma-thi-ơ 3:13-17, Mác 1:9-11 và Giăng 1:32-34.
  3. Gia phổ của Chúa trong Ma-thi-ơ bắt đầu từ Áp-ra-ham (Ma-thi-ơ 1:1-17); Lu-ca muốn nói gì khi truy gốc tích của Chúa đến thời A-đam (câu 38)? A-đam và Chúa Giê-xu có gì giống nhau? Vì những lý do nào khác mà Lu-ca đã ghi lại gia phổ nầy (1:27, 32, 69)?
  4. Trong gia phổ nầy, những tên nào bạn thấy nổi bậc? Bạn nhớ gì về họ? Bạn có thể kết luận điều gì về “tổ tiên trên đất” của Chúa Giê-xu từ những gì bạn biết về họ?

Câu Hỏi Suy Gẫm

  1. Điều gì có ý nghĩa nhất trong lễ báp-tem của bạn?  Thời điểm nào trong cuộc đời bạn,  bạn cảm thấy được sự thăm viếng đặc biệt của Chúa? Mục vụ mới nào đang đã mở ra cho bạn?
  2. Chúa Giê-xu được so sánh là một A-đam mới, điều này giúp bạn như thế nào trong việc khởi đầu lại cuộc đời của mình? Chúa Giê-xu là “Con Yêu Dấu” của Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời nhận xét về bạn như thế nào qua mối thông công của bạn với Chúa Giê-xu?
  3. Bạn muốn được ghi nhớ trong gia tộc của mình như thế nào? Bạn đang làm gì để đảm bảo sự ghi nhớ đó?

Thánh Kinh Tham Khảo: Lu-ca 3:21-38

Chúa Chịu Báp-têm

21. Bấy giờ khi mọi người đến chịu báp-têm, Ðức Chúa Jesus cũng đến chịu báp-têm. Trong khi Ngài cầu nguyện, trời mở ra, 22. Ðức Thánh Linh ngự xuống trên Ngài trong hình dạng giống như một chim bồ câu, và có tiếng từ trời phán rằng, “Con là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn.”

Gia Phả của Ðức Chúa Jesus

23. Ðức Chúa Jesus được chừng ba mươi tuổi khi Ngài bắt đầu thi hành chức vụ. Người ta vẫn nghĩ Ngài là con của Giô-sép, Giô-sép con Hê-li, 24. Hê-li con Ma-thát, Ma-thát con Lê-vi, Lê-vi con Mên-khi, Mên-khi con Gia-nai, Gia-nai con Giô-sép, 25. Giô-sép con Ma-ta-thi-a, Ma-ta-thi-a con A-mốt, A-mốt con Na-hum, Na-hum con Ê-xơ-li, Ê-xơ-li con Nát-gai, 26. Nát-gai con Ma-át, Ma-át con Ma-ta-thi-a, Ma-ta-thi-a con Sê-mê-in, Sê-mê-in con Giô-sếch, Giô-sếch con Giô-đa, 27. Giô-đa con Giô-a-nan, Giô-a-nan con Rê-sa, Rê-sa con Xê-ru-ba-bên, Xê-ru-ba-bên con Sa-la-thi-ên, Sa-la-thi-ên con Nê-ri, 28. Nê-ri con Mên-khi, Mên-khi con A-đi, A-đi con Cô-sam, Cô-sam con Ên-ma-đam, Ên-ma-đam con Ê-rơ, 29. Ê-rơ con Giô-sua, Giô-sua con Ê-li-ê-xe, Ê-li-ê-xe con Giô-rim, Giô-rim con Ma-thát, Ma-thát con Lê-vi, 30. Lê-vi con Si-mê-ôn, Si-mê-ôn con Giu-đa, Giu-đa con Giô-sép, Giô-sép con Giô-nam, Giô-nam con Ê-li-a-kim, Ê-li-a-kim con Mê-lê-a, 31. Mê-lê-a con Mên-na, Mên-na con Ma-ta-tha, Ma-ta-tha con Na-than, Na-than con Ða-vít, 32. Ða-vít con Giê-se, Giê-se con Ô-bết, Ô-bết con Bô-a, Bô-a con Sa-la, Sa-la con Nát-sôn, Nát-sôn con A-mi-na-đáp, 33. A-mi-na-đáp con Át-min, Át-min con A-rơ-ni, A-rơ-ni con Hê-rôn, Hê-rôn con Pa-rê, Pa-rê con Giu-đa, 34. Giu-đa con Gia-cốp, Gia-cốp con I-sác, I-sác con Áp-ra-ham, Áp-ra-ham con Tê-ra, Tê-ra con Na-hô, 35. Na-hô con Sê-rúc, Sê-rúc con Ra-gau, Ra-gau con Pê-léc, Pê-léc con Ê-be, Ê-be con Shê-la, 36. Shê-la con Cai-nan, Cai-nan con Ạc-pác-sát, Ạc-pác-sát con Sem, Sem con Nô-ê, Nô-ê con La-méc, 37. La-méc con Ma-thu-sê-la, Ma-thu-sê-la con Ê-nóc, Ê-nóc con Gia-rết, Gia-rết con Ma-ha-la-lê-ên, Ma-ha-la-lê-ên con Cai-nan, 38. Cai-nan con Ê-nốt, Ê-nốt con Sết, Sết con A-đam, A-đam con Ðức Chúa Trời.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top