Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Niềm Tin và Cuộc Sống » Đọc Sách: Những Nguyên Tắc Truyền Bá Phúc Âm – Phần 19

Đọc Sách: Những Nguyên Tắc Truyền Bá Phúc Âm – Phần 19

 

Nói tiếp về khải tượng truyền bá Phúc Âm, một câu hỏi cần được đặt ra là: Trong thời hiện đại, Chúa còn cho các thanh niên thấy khải tượng hay không?  Xin thưa rằng: Có.

Một người Ấn độ tên là Sundar Singh, là một người thù ghét Phúc Âm.  Nghe những lời giới thiệu về Chúa Cứu Thế, về Phúc Âm ông càng ghét cay ghét đắng các tín đồ Tin Lành, ghét cả đến quyển Thánh Kinh và Chúa Giê-xu của họ.  Tuy nhiên, ông nhìn nhận rằng mình đang tìm kiếm sự bình an trong tâm hồn.  Khi nghe một giáo sư quả quyết rằng:  Chúa Cứu Thế Giê-xu có thể ban cho ông sự bình an mà ông mong ước, thì ông nổi giận, quyết phá hoại nhóm tín đồ Phúc Âm cho kỳ được.  Dù vốn là con nhà gia giáo, đạo đức nhưng vì thù ghét Phúc Âm, Sudar Singh lại đi tập họp một nhóm du côn để phá trường học Tin Lành, ném đá và phân vào giữa nơi các tín đồ Phúc Âm đang thờ phượng.  Tìm cách trục xuất các nhà truyền bá Phúc Âm và đám tín đồ ấy ra ngoài vòng pháp luật.

Một hôm, Sundar Singh đi mua một quyển Thánh Kinh Tân Ước và làm cho mọi người đều ngạc nhiên.  Nhưng ông rủ bạn bè đến nhà xem ông xử dụng quyển Thánh Kinh ấy như thế nào.  Ông đốt một đám lửa giữa sân, rồi cầm quyển Thánh Kinh xé từng tờ, bỏ vào đám lửa.  Cha ông thấy thế tìm cách ngăn cản, nhưng ông ném luôn cả phần sách còn lại vào đám lửa cho đến khi quyển Thánh Kinh cháy rụi mới thôi.  Sau đó ông về phòng riêng, ở luôn trong phòng ba ngày đêm.  Người ở ngoài nghe tiếng ông nói:  Nếu Thượng Đế muốn cho tôi sống thì Ngài hãy nói cho tôi biết.  Ôi, lạy Chân Thần, nếu Chân Thần thực hữu, xin tỏ mình cho tôi biết ngay tối nay.  Ông đã quyết định chờ đợi đến hết đêm thứ ba, nếu không nghe Chân Thần đáp ứng lời nguyện cầu của mình, thì 5 giờ sáng hôm sau, ông sẽ ra nằm kề cổ trên đường sắt để nhờ bánh xe lửa chuyến tốc hành kết liễu cuộc đời của mình.  Sundar Singh đã tự thuật như sau:

Tôi đang cầu xin như thế, thình lình tôi thấy một ánh sáng lớn, tôi thấy hình thể của Chúa Cứu Thế Giê-xu đầy vinh quang và từ ái.  Nếu đây là hiện thân của một vị thần Ấn độ giáo, chắc tôi đã quỳ nọp xuống trước mặt vị thần đó rồi.  Nhưng đây là Chúa Cứu Thế Giê-xu mà tôi đã chưởi rủa, phỉ báng mấy ngày trước đó.  Tôi cảm biết ngay rằng một khải tượng như thế này không thể nào do óc tưởng tượng của tôi mà ra được.  Tôi nghe một tiếng phán dạy bằng tiếng Hidustani: Con sẽ bức hại Ta đến bao giờ? Ta đến để cứu con.  Con đang cầu nguyện để xin biết được chính đạo, tại sao con lại không theo chính đạo? Sundar Singh ghi tiếp:

Tôi chợt nghĩ ra rằng: Chúa Cứu Thế Giê-xu hiện giờ không chết đâu, nhưng Chúa đang sống và đây chính là Chúa Cứu Thế.  Tôi quỳ xuống dưới chân Chúa Cứu Thế và lập tức tôi được sự bình an mà trước nay tôi không tìm đâu thấy.  Đây chính là niềm vui mừng tôi mong ước bấy lâu.  Khi tôi đứng dậy thì khải tượng ấy chấm dứt.  Nhưng dù khải tượng đã chấm dứt mà sự bình an và niềm vui mừng vẫn tồn tại trong tôi mãi mãi từ đó đến nay.

Sundar Singh cũng cho biết thêm rằng lúc ấy ông chưa bao giờ nghe ai nói, cũng chưa bao giờ đọc sách về kinh nghiệm của Sau-lơ gặp Chúa Cứu Thế trên con đường đi Đa-mách cả.  Về sau, Chúa Cứu Thế đã dùng Sundar Singh truyền bá Phúc Âm cách đầy quyền năng và kết quả vĩ đại khắp cả lục địa Ấn độ, qua Tích-lan, Tây-tạng, Népal, Miến-điện, Mã-lai, Singapore, đến Trung hoa, Nhật-bản, Úc-đại-lợi, Anh-quốc, Thụy-sĩ, Na-uy, Thụy-điển, Đan-mạch, Hòa-lan, Đức quốc, Hoa Kỳ.  Đi đến đâu ông cũng được rất đông người đặc biệt lưu ý nghe ông trình bày Phúc Âm, gồm đủ các thành phần tôn giáo như Ấn độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Lạt-ma giáo, tôn giáo Sikh, Thần đạo Nhật bản cũng như Công giáo và Tin Lành.  Sundar Singh đã dìu dắt hàng ngàn hàng vạn người đến với Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Còn sau đây là bài tự thuật của ông Trần Đức Sinh:

Tôi cất tiếng chào đời trong một gia đình Công giáo.  Một vị Linh mục đã rửa tội tôi lúc tôi còn nhắm mắt nằm ngoan trong vòng tay mẹ.  Tôi lớn lên, đi nhà thờ, đánh cù, đánh đáo dưới bóng những cây soan tây rợp mát cạnh ngôi giáo đường uy nghi, đồ sộ.  Làng tôi là làng Công giáo tên là làng Phú ốc, huyện Mỹ lộc, tỉnh Nam định.  Dân làng sống dưới mái tranh nghèo nàn, an phận.  Tôi không bao giờ quên tiếng mõ tre vang vọng vào trong những buổi tối: Cốc, cốc, cốc, trình làng nước: có ai mua muối đến nhà ông Lý mà mua (nghĩa là nhà nước bán muối cho dân làng tại nhà ông Lý trưởng); tiếng sáo diều, tiếng mẹ ru con, tiếng đạp lúa… Những âm thanh đó đi theo tôi từ hơn 40 năm nay.  Trong làng tôi chỉ có 3 ngôi nhà xây lợp ngói: đó là nhà ông Lý trưởng, nhà ông Phán Quý và nhà Cha Xứ.  Trong cả ba nhà ấy thì nhà Cha Xứ là lớn nhất và có hai con chó rất dữ mà bọn trẻ con chúng tôi rất sợ.

Khi khôn lớn, gặp cảnh khổ đau, tôi thường lân la tìm nguồn an ủi nơi các giáo đường thanh tịnh.  Tôi thường vào nhà thờ cầu nguyện những lúc vắng lặng không có ai.  Những pho tượng mang nhiều đường nét sống động như người thật nhìn tôi đăm đăm, nhưng tôi không thể hiểu được những pho tượng ấy muốn nói gì với tôi, hình như tượng dửng dựng vô tình trước sự đau khổ của người đời.  Những lúc đau khổ tôi thường đọc lớn những câu kinh tôi đã học thuộc lòng.

Ngoài giáo đường, tôi còn tìm tới nơi cửa thiền và đọc triết lý nhà Phật, mong hóa giải được niềm đau trong cuộc sống.  Tiếng chuông chùa ngân nga huyền ảo, tiếng mõ, tiếng kệ nhẫn nhục, hình thù kỳ ảo, đa dạng của nhiều ảnh tượng, cùng với hệ thống lý giải của Tứ diệu đế và thuyết luân hồi cũng không làm tôi hết khổ.

Cuối cùng, tôi nghĩ đến người duy nhất có thể hóa giải niềm đau khổ tràn ngập của thế gian nước mắt này chỉ có thể chính là Thượng Đế, chính Đấng Tối Cao đã tạo ra thế gian và con người.  Nhưng thú thật, tôi đã hoài suốt 40 năm nay mà vẫn không gặp Ngài đâu cả.  Lúc nhỏ, tôi chỉ biết người duy nhất thay mặt Chúa là Cha Xứ, người mà mẹ tôi thường dẫn tôi đem tiền tới xin lễ cho thầy tôi, vì nếu không, theo lời mẹ, thì thầy tôi sẽ bị lửa luyện tội thiêu đốt nóng nảy lắm, chịu không nổi.  Mỗi lần được đi với mẹ vào hầu Cha như thế, tôi được mặc quần dài áo trắng, cánh áo trắng, và khi thấy Cha, tôi phải khoanh tay cuối đầu thật sâu: Bẩm lạy Cha ạ!

Tôi không thấy Thượng Đế trong Cha cũng như trong nhiều vị Linh mục giáo sư đại học, Linh mục chính trị gia, Linh mục hiệu trưởng mà tôi đã tiếp xúc qua cuộc sống.  Tôi cũng không gặp được Thượng Đế tại cửa Thiền, nơi đây tôi chỉ thấy mùi thiền bàng bạc tỏa lan bao phủ tâm hồn đưa tôi vào một cõi xa lạ, vô tâm, vô giác, để rồi khi bừng tỉnh lại thấy mình vẫn lẩn quẩn giữa cuộc đời đau khổ.

Sau khi đi cải tạo 6 năm rưỡi, phá rừng, trồng rẫy, đập đá, nung gạch từ Trảng lớn, Tây ninh, ra Phú quốc rồi về Rừng lá, Hàm tân.  Tôi được thả về.  Tưởng là cuộc đời đã hết sóng gió như con thuyền già nằm yên nghỉ nơi bến vắng.  Ngờ đâu, nghe lời khuyến khích của vợ con, tôi lại lao ra khơi, vượt đại dương, sang tới tận Mỹ châu, nơi người ta bảo là đất của tự do và cơ hội.  Phải, cơ hội hạnh phúc và cơ hội khốn khổ!  Tôi lại tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm Thượng Đế.  Ôi! tìm Thượng Đế trên đất Mỹ này còn khó hơn tìm kim đáy biển.  Biết Ngài ở đâu?  Nhưng ngẫu nhiên, tôi đã gặp Ngài ở nơi tôi không chú tâm tìm kiếm.  Hôm ấy, tại Pomona, tôi đang ngồi buồn khổ, lo sợ một mình nơi gác trọ thì điện thoại reo.  Tiếng từ đầu giây bên kia tự giới thiệu mình là một Mục sư Tin Lành. 15 phút sau, Mục sư đã hiện diện trong căn phòng nhỏ của tôi.

Giờ đây, ngồi nghĩ lại cuộc tiếp xúc đầu tiên với vị Mục sư trẻ đó, tôi thấy rằng đêm đó ông ấy đến thăm tôi, ông không đi một mình nhưng đã đi cùng Thượng Đế.  Bàn tay ấm áp của ông đặt trên vai tôi kèm theo lời cầu nguyện chân thành tha thiết, quyền năng nhiệm mầu của Đấng Tối Cao bỗng chốc đem lại bình an trong tâm hồn tôi, lòng trí tôi trở nên thanh thản, sáng suốt, ánh lửa Đức Thánh Linh đã bùng cháy xua tan bóng tối bao phủ đời tôi.

Từ Pomona chuyển xuống San Diego, tôi gặp một Mục sư khác.  Tôi nhiều lần đến hội thánh để tìm hiểu về đạo Chúa và Chúa đã mở tấm lòng cứng cỏi của tôi.  Trong đêm truyền giảng Phúc Âm nhân dịp lễ Giáng Sinh năm 1989, tôi đã mạnh dạn tiến lên tin nhận Chúa.  Tôi đã thấy rõ ràng Thượng Đế hiện diện trong hai Mục sư ấy và trong các tín hữu thuộc Hội Thánh Tin Lành Báp tít ở Linda Vista.  Mối tương giao giữa họ với Thượng Đế nói lên rõ rệt qua lời cầu xin chân thành tha thiết, và thể hiện ra hành động tương thân tương trợ, chia xẻ niềm vui, nỗi buồn của nhau.  Họ không tương giao với Thượng Đế qua những câu kinh đọc thuộc lòng, nhưng tự thốt lên tiếng nói thiết tha phát xuất từ đáy lòng mình.  Các tín hữu sinh hoạt như một đại gia đình, được ràng buộc bởi sợi dây tương giao với Thượng Đế.  Mọi nỗi khổ đau của tôi lần lần đã được hóa giải, không phải bằng những triết thuyết hoặc thần học cao siêu, nhưng bằng những lời thăm hỏi chân thành và sự giúp đỡ bằng tình cảm chứa chan, bằng thái độ hòa nhã, nhân ái tuôn tràn qua nụ cười, tiếng hát, qua ánh mắt, qua lời chào hỏi, qua câu thuyết giảng đơn sơ chân thành.  Quả thật, tôi đã thấy quyền năng mầu nhiệm của Thượng Đế qua những con người bình thường đó.  Nỗi đau của tôi vơi dần và được thay thế bởi niềm vui trong vòng tay tương trợ của Hội Thánh.

Giờ đây, tôi đã nhận ra chân lý quý giá: Khi không có Thượng Đế ở trong tôi, thì tôi chỉ là một con người ích kỷ, lo sợ, tàn nhẫn, hèn nhát, nhưng khi có Thượng Đế trong tôi, thì tôi trở nên can đảm, yêu thương, mạnh mẽ, tin tưởng, lạc quan.  Tôi đã tìm ra chân lý.  Giờ đây, tôi ao ước một điều là cuộc đời tôi sẽ mãi mãi đi theo chân lý đó, giống như ngụ ngôn mà Chúa đã dạy trong Mã-thi 13:45 “Nước Trời giống như một nhà buôn sưu tầm báu vật.  Khi gặp được viên ngọc quý giá, ông ta liền bán hết những thứ mình có để mua lấy ngọc đó.”

Mục sư Lê Hoàng Phu

Thư Viện Tin Lành (2021)
www.thuvientinlanh.org

 

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top