Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Tìm Hiểu Ý Nghĩa Chữ Trâu Trong Bản Dịch Kinh Thánh (1925)

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Chữ Trâu Trong Bản Dịch Kinh Thánh (1925)

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Chữ Trâu
Trong Bản Dịch Kinh Thánh (1925)

Nhân dịp Tết con trâu, chúng ta cùng tìm hiểu vài ý nghĩa của chữ “trâu” trong Bản Dịch Kinh Thánh Việt Ngữ (1925).

I. Khái quát về loài trâu

Trâu (Bubalus bubalis) là một loài gia súc có nguồn gốc từ Á châu.   Trâu sống phổ biến tại Ấn Độ, Pakistan, Đông Nam Á và Trung Hoa. 

Trâu là loài vật có sừng và có sức mạnh. Trâu được nuôi để giúp các nông dân trong những công việc nặng nhọc như kéo cày, kéo xe.  Thêm vào đó, trâu cũng được nuôi để lấy sữa.  Theo tài liệu của Cơ Quan Lương Nông của Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations), Ấn Độ là quốc gia có nhiều trâu sữa nhất với hơn 56 triệu con. Kế đến là Pakistan với hơn 25 triệu con.  Việt Nam đứng hàng thứ mười với ước tính khoảng hơn 31 ngàn con trâu sữa.    

Trâu đã được thuần hóa làm gia súc có nguồn gốc từ trâu rừng.  Trâu nhà rất hiền, trừ khi bị quấy phá. Trên thế giới có hai giống trâu rừng là trâu rừng ở Phi châu (Syncerus caffer nanus) và trâu rừng ở Ấn độ (Bubalus arnee).  Trong tiếng Anh, chữ “buffalo” được dịch sang tiếng Việt là “trâu”;  tuy nhiên loài bò rừng (bison) được người Mỹ gọi là buffalo nhưng không phải là “trâu”, mà là “bò rừng”.

Trâu Việt Nam là loài vật thích dầm mình dưới nước.  Vì vậy, trong tiếng Anh loài trâu đang được nuôi phổ biến tại Việt Nam được gọi là water buffalo, nghĩa là trâu ở dưới nước.  Trâu thích sống dưới nước gồm có hai nhóm chính là: trâu sông (river buffalo – bubalus bubalus bubalis) sống tại Ấn Độ, Ai Cập và Ý; và trâu đầm lầy  (swamp buffalo – bubalus bubalis carabanesis) sống tại miền Đông của Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Hoa.  Cấu tạo DNA của loài trâu sông có 50 nhiễm sắc thể, trong khi đó loài trâu đầm lầy chỉ có 48 nhiễm sắc thể. Hai loài trâu này khó lai tạo với nhau; nếu lai tạo thành công thì trâu lai cũng không sinh con được.

Theo các tài liệu khảo cổ, các thương nhân Meluhhas đã du nhập trâu từ Ấn Độ vào vùng Mesopotamia – tức Iraq thuộc vùng Trung Đông hiện nay – vào khoảng 2500 T.C. 

II. Ý nghĩa những chữ trâu trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925

Có bốn chữ “trâu” trong Bản Dịch Kinh Thánh xuất bản vào năm 1925.

Một trong những khó khăn của những dịch giả Kinh Thánh thuộc thế hệ đầu tiên đó là có rất nhiều từ ngữ, khái niệm, trong nguyên văn Kinh Thánh mà dịch giả chưa quen biết.  Thêm vào đó, một số vật dụng, cây cối, súc vật,… đã có từ hơn 3000 năm trước được mô trả trong Kinh Thánh, không quen thuộc với độc giả trong thế hệ hiện tại, hoặc không quen thuộc trong ngôn ngữ địa phương. Do đó, khi dịch Kinh Thánh các dịch giả đã vận dụng khả năng hiểu biết của mình, liên hệ với những khái niệm hay những vật gần gũi nhất theo sự hiểu biết của người đọc, để dịch Kinh Thánh.  Mặc dầu những từ ngữ được dùng khi dịch những khái niệm mới đó này có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng đây là một việc làm cần thiết để giải thích cho độc giả tại từng địa phương những khái niệm chưa quen thuộc với họ, hoặc gần đúng với ý trong nguyên văn.  Chữ “trâu” trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925 đã được dùng để dịch một số loài vật thời xưa trong những trường hợp như vậy.

1. Phục Truyền 33:17

Chữ “trâu” đầu tiên trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925 được chép trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 33:17.  Nguyên văn của câu Kinh Thánh này trong Bản Dịch 1925 như sau: “Oai nghiêm người giống như con bò đực đầu lòng; hai sừng người vốn sừng của trâu! Người lấy sừng ấy báng mọi dân, cho đến cuối đầu của đất.”  Câu Kinh Thánh này là một phần trong lời chúc phước của Gia-cốp cho dòng dõi của Giô-sép.  Gia-cốp đã chúc cho dòng dõi của Giô-sép được hùng mạnh, chinh phục khắp cả đất. 

Chữ “trâu” trong Phục Truyền 33:17, trong nguyên văn Hebrew được viết là רְאֵם֙.  Chữ רְאֵם֙ mô tả một loài thú có sừng, có sức mạnh, và hung hãn.  Trong nguyên văn Hebrew chữ này được dùng 9 lần trong Kinh Thánh. Trong Dân Số Ký 23:22; 24:8 và Ê-sai 34:7, chữ này được Bản Dịch Kinh Thánh 1925 dịch là “bò rừng”.  Trong Gióp 39:12-13, Thi Thiên 29:6 và Thi Thiên 92:10, chữ này được dịch là “bò tót”.  Trong Thi Thiên 22:21, chữ này được dịch là “trâu rừng”.  

Trong tiếng Anh, Bản Dịch King James  đã dịch רְאֵם֙“unicorn”. Ý nghĩa chữ  “unicorn” trong những câu Kinh Thánh trên không phải là một con thú trong truyện thần thoại của Hy Lạp, nhưng là một loài thú có một sừng, có thể áp dụng cho một số loài hưu một sừng, hoặc tê giác một sừng.  Một số sách giải nghĩa Kinh Thánh trong tiếng Anh đã giải thích “unicorn ” là “buffalo” hoặc “antelope”.  Trong tiếng Anh, chữ “buffalo” thường được dịch sang tiếng Việt là “trâu”.  Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong khái niệm phổ thông của người Anh và Mỹ, loài bò rừng (bison) được gọi là “buffalo”, tức là trâu, nhưng thật ra bison là bò rừng.  Do đó, chữ רְאֵם֙ có lúc đã được dịch là “trâu”, “trâu rừng”, có lúc được dịch là “bò tót” hay “bò rừng” trong tiếng Việt.

Mặc dầu dịch chữ רְאֵם֙ là “bò rừng”, “bò tót”, “trâu”, hay “trâu rừng” đều phù hợp với sự mô tả trong nguyên văn Hebrew của chữ רְאֵם֙ mô tả một loài thú có sừng, có sức mạnh, và hung hãn; tuy nhiên loài “trâu” hay “trâu rừng” ít sống phổ biến ở vùng Trung Đông, cho nên có lẽ dịch là “bò rừng” thì phù hợp hơn với ý nghĩa trong nguyên văn của Kinh Thánh.

Do đó,  chữ “trâu” trong câu Kinh Thánh Phục Truyền Luật Lệ Ký 33:17 của Bản Dịch 1925 đã được các Bản Dịch Hiện Đại, Bản Dịch Hiệu Đính, Bản Dịch Mới, và Bản Dịch Phổ Thông dịch là “bò rừng”.  Chữ “bò rừng” trong trường hợp này là “wild ox” mang ý nghĩa chung là loài bò sống nơi hoang dã, chứ không nhất thiết là loài bò rừng ở Mỹ châu. Trong khi đó, Bản Dịch 2011 và Bản Dịch Hiệu Đính vẫn giữ nguyên cách dịch chữ רְאֵם֙ là “trâu”.

2. Gióp 40:10

Chữ “trâu” thứ hai trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925 được chép trong Gióp 40:10.  Nội dung của câu Kinh Thánh này thuật lại một phần lời của Đức Chúa Trời nói với Gióp để nhắc nhở ông về sự nhỏ bé và hữu hạn của con người, so sánh với quyền năng vĩ đại và siêu nhiên của Đức Chúa Trời: “Nầy, con trâu nước mà ta đã dựng nên luôn với ngươi; nó ăn cỏ như con bò.”  Trong nguyên văn Hebrew, chữ “con trâu nước” trong Gióp 40:10 được viết là בְ֭הֵמוֹת, phiên âm là “behemoth“.

Có một điểm cần lưu ý đó là Bản Dịch Kinh Thánh Việt Ngữ (1925) được dịch từ Bản Dịch Kinh Thánh tiếng Pháp Ostervald (1747). Cách chia câu trong Bản dịch Ostervald có vài chỗ khác biệt với cách chia câu của Kinh Thánh trong tiếng Hebrew. Trong Bản Dịch Ostervald, Gióp chương 38 có 38 câu; chương 39 có 38 câu; chương 40 có 28 câu; và chương 41 có 25 câu.  Do đó những chương trong sách Gióp của Bản Dịch Kinh Thánh 1925 và Bản Dịch Hiệu Đính 2010 cũng có cách chia câu giống như trong Bản Dịch Ostervald.  Trong khi đó, các Bản Dịch Hiện Đại; Bản Dịch 2011, Bản Dịch Mới; Bản Dịch Phổ Thông, cũng như những bản dịch Kinh Thánh Anh Ngữ, và đa số các bản dịch Kinh Thánh khác trên thế giới đã dùng cách chia câu theo Kinh Thánh Hebrew, cho nên sách Gióp chương 38 có 41 câu; chương 39 có 30 câu;  chương 40 có 24 câu; và chương 41 có 34 câu. Do đó, các câu Kinh Thánh Gióp 39:1-38; 40:1-28; và 41:1-25 trong các Bản Dịch 1925 và Bản Dịch Hiệu Đính tương ứng với các câu Kinh Thánh trong Gióp 38:39-40:5; 40:6-41:9; và 41:10-34 trong các Bản Dịch Hiện Đại; Bản Dịch 2011, Bản Dịch Mới; và Bản Dịch Phổ Thông. Vì vậy câu Kinh Thánh Gióp 40:10 trong Bản Dịch 1925 và Bản Dịch Hiệu Đính 2010 là câu Gióp 40:15 trong những bản dịch Kinh Thánh khác.   

Behemoth được chép trong Gióp 40:10 là con vật như thế nào. Kinh Thánh đã cung cấp một số chi tiết về “behemoth” như sau: “Nầy, con trâu nước mà ta đã dựng nên luôn với ngươi; nó ăn cỏ như con bò. Hãy xem: sức nó ở nơi lưng, mãnh lực nó ở trong gân hông nó. Nó cong đuôi nó như cây bá hương; gân đùi nó tréo xỏ-rế. Các xương nó như ống đồng, tứ chi nó như cây sắt. Nó là công việc khéo nhất của Đức Chúa Trời; Đấng dựng nên nó giao cho nó cây gươm của nó.  Các núi non sanh đồng cỏ cho nó ăn, là nơi các thú đồng chơi giỡn. Nó nằm ngủ dưới bông sen, trong bụi sậy và nơi bưng. Bông sen che bóng cho nó, và cây liễu của rạch vây quanh nó. Kìa, sông tràn lên dữ tợn, nhưng nó không sợ hãi gì; dầu sông Giô-đanh bủa lên miệng nó, nó cũng ở vững vàng. Ai bắt được nó trước mặt? Ai hãm nó trong lưới, rồi xoi mũi nó?” (Gióp 40:10-19).

Theo ký thuật trong Kinh Thánh, Behemoth là một loài thú được Đức Chúa Trời tạo dựng cùng một lúc với loài người (40:10a). Mặc dầu thức ăn của Behemoth chỉ là thực vật (40:10b), nhưng nó rất mạnh (40:11).  Behemoth là một loài thú rất lớn bởi vì đuôi của nó lớn như một cây bá hương (40:12), xương của nó như những ống đồng, và tứ chi của nó cứng như sắt (40:13). Behemoth là một tạo vật tinh xảo của Đức Chúa Trời, và nó có khả năng tấn công (40:14).  Môi trường sống của Behemoth là núi đồi, thảo nguyên, và đầm lầy (40:15-16).  Behemoth thích sông nước (40:16-18).  Con người không thể bắt, hay thuần hóa, Behemoth được (40:19).   

Dựa vào những mô tả trong Kinh Thánh, chắc chắn Behemoth không phải là loài trâu của người Việt.  Trong quá khứ, một số ý kiến cho rằng Behemoth là hà mã, một loài thú rất mạnh, ăn thực vật và sống trong đầm lầy; tuy nhiên ý kiến này cũng không thuyết phục bởi vì đuôi của hà mã rất ngắn và nhỏ.  Một ý kiến khác cho rằng những mô tả trong Kinh Thánh về Behemoth phù hợp mô tả về một loài khủng long đã bị diệt chủng.  Vì vậy, chữ “trâu nước” trong Bản Dịch 1925 đã được Bản Dịch Hiện Đại và Bản Dịch 2011 dịch là “khủng long”.  Bản Dịch Mới dịch là “con quái vật biển”.  Bản Dịch Hiệu Đính và Bản Dịch Phổ Thông chỉ phiên âm theo nguyên văn của chữ בְ֭הֵמוֹת trong tiếng Do Thái là “bê-hê-mốt”.

Tưởng cũng nên nói thêm, trước đây các nhà nghiên cứu vô thần cho rằng những ký thuật trong sách Gióp không đáng tin cậy bởi vì loài khủng long đã bị tuyệt chủng gần 65 triệu năm trước khi loài người xuất hiện. Theo thuyết tiến hóa, loài người chỉ xuất hiện cách đây khoảng 260-350 ngàn năm, và ngay cả loài vượn người chỉ xuất hiện cách đây khoảng hơn 1 triệu năm; do đó khủng long và loài người không thể nào có thể sống chung trong cùng một thời đại.

Tuy nhiên những khám phá khảo cổ và sinh vật học trong những thập niên gần đây đã tìm thấy những mô cơ của các mạch máu (tissues of blood cells) trong các xương hóa thạch của khủng long.  Những khám phá này đã được công bố trên History.com, BBC, và Smithsonian magazine. Những khám phá này cho thấy thuyết tiến hóa có nhiều vấn đề khó giải thích bởi vì nếu khủng long thật sự đã tuyệt chủng cách đây 65 triệu năm, thì làm thế nào những tế bào của các mạch máu khủng long vẫn chưa bị phân hủy qua suốt khoảng thời gian rất dài đó. Như vậy giả thuyết khủng long đã tuyệt chủng hơn 65 triệu năm trước khi loài người xuất hiện của thuyết tiến hóa không thuyết phục.       

3. Thi Thiên 22:21

Chữ “trâu” thứ ba trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925 được chép trong Thi Thiên 22:21 “Hãy cứu tôi khỏi họng sư tử, từ các sừng của trâu rừng, Chúa đã nhậm lời tôi.”  Trong nguyên văn Kinh Thánh Hebrew, chữ này cũng là chữ רְאֵם֙, giống như chữ đã được dùng trong Phục Truyền 33:17.  Tuy nhiên, lần này Bản Dịch Kinh Thánh 1925 đã dịch chữ רְאֵם֙ là “trâu rừng”.

Thi Thiên 22 trình bày lời cầu nguyện của một người đang bị bách hại và cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu.  Trong phần đầu của Thi Thiên 22, trong các câu 12-13, tác giả Thi Thiên mô tả những kẻ thù đang tấn công mình giống như những con bò hung hăng và những con sư tử: “Có nhiều bò đực bao quanh tôi, những bò đực hung mạnh của Ba-san vây phủ tôi. Chúng nó hả miệng ra cùng tôi, khác nào sư tử hay cắn xé và gầm hét”. Trong câu 21, tác giả cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu mình khỏi những kẻ thù đang tấn công mình, tác giả viết: “Hãy cứu tôi khỏi họng sư tử, từ các sừng của trâu rừng; Chúa đã nhậm lời tôi.”  Bởi vì chữ “sư tử” trong câu 21 liên hệ với chữ “sư tử” trong câu 14, cho nên chữ “trâu rừng” trong câu 21 có lẽ liên hệ đến chữ bò đực hung mạnh trong câu 13.  Vì vậy, chữ רְאֵם֙ trong Thi Thiên 22:21 có lẽ mô tả một loài bò hung dữ, theo ý nghĩa trong văn mạch đã được mô tả trong phần thượng văn trước đó.

Chữ “trâu rừng” trong Thi Thiên 22:21 của Bản Dịch 1925 đã được Bản Dịch Hiện Đại (1994) dịch là “trâu”, Bản Dịch 2011 dịch là “bò điên”,  Bản Dịch Mới dịch là “bò rừng”, Bản Dịch Phổ Thông dịch là “bò đực”, còn Bản Dịch Hiệu Đính giữ theo cách dịch của Bản Dịch 1925 là “trâu rừng”.

4. Thi Thiên 78:48

Chữ “trâu” thứ tư trong Bản Dịch Kinh Thánh 1925 được chép trong Thi Thiên 78:48. Câu Kinh Thánh này đã được Bản Dịch Kinh Thánh 1925 dịch như sau: “Cũng phó trâu bò chúng nó cho mưa đá, và nộp bầy chiên họ cho sấm sét.” 

Tác giả Thi Thiên 78 nhắc lại việc Đức Chúa Trời giải cứu người Do Thái khỏi Ai Cập.  Do vua Pha-ra-ôn không chịu cho dân Do Thái được tự do, Đức Chúa Trời đã hủy diệt những gia súc của người Ai Cập. Các dịch giả Bản Dịch 1925 đã diễn dịch “gia súc” thành “trâu bò” trong văn hóa Việt Nam. 

Chữ “trâu bò” trong Thi Thiên 78:48 trong nguyên văn được viết là בְּעִירָ֑ם.  Chữ này được dùng năm lần trong Kinh Thánh, mô tả những thú vật được loài người nuôi.  Trong Bản Dịch 1925, chữ בְּעִירָ֑ם trong câu Kinh Thánh Sáng Thế Ký 45:17 được dịch là “con lừa”, dựa trên văn mạch mô tả con vật dùng để cởi. Trong khi đó, Dân Số Ký 20:4; 20:8; và 20:11 đã dịch בְּעִירָ֑ם“súc vật”.     

Do dân Ai Cập ít nuôi trâu, trong các bản dịch sau này, chữ “trâu bò” trong Thi Thiên 78:48 của Bản Dịch 1925 và Bản Dịch 2011 đã được Bản Dịch Hiện Đại, Bản Dịch Mới, Bản Dịch Phổ Thông dịch là “súc vật”. Bản Dịch Hiệu Đính dịch là “gia súc”.

III. Tóm Tắt

Trong Bản Dịch Kinh Thánh Việt Ngữ phát hành năm 1925 có bốn chữ “trâu”; tuy nhiên những loài thú được mô tả trong những câu Kinh Thánh này không hẳn là loài trâu quen thuộc với người Việt. Phục Truyền Luật-lệ Ký 33:17 mô tả một loài thú hùng mạnh có sừng, có khả năng chinh phục.  Gióp 40:10 mô tả một loài vật mà ngày nay không còn tồn tại.  Thi Thiên 22:21 mô tả loài bò rừng, và Thi Thiên 78:48 nói về những gia súc.

Phước Nguyên 

Thư Viện Tin Lành (2021)
www.thuvientinlanh.org

Tìm thấy tế bào máu trong xương khủng long – Video: BBC

Tìm thấy mô cơ trong xương khủng long – Video: University of North Calorina

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top