Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kinh Thánh » Đọc Kinh Thánh – Sách Ga-la-ti – Bản Dịch Việt Ngữ

Đọc Kinh Thánh – Sách Ga-la-ti – Bản Dịch Việt Ngữ

 

Sách Ga-la-ti

Chương 1

Lời chào thăm

1. Phao-lô, là sứ đồ, không phải do loài người sai phái hay được ủy quyền từ loài người, nhưng qua Đức Chúa Jesus Christ và Đức Chúa Trời, là Cha, tức là Đấng đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại, 2. cùng với tất cả anh em đang ở với tôi, gởi đến các hội thánh tại Ga-la-ti.

3. Nguyện ân điển và bình an từ Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta và từ Chúa là Đức Chúa Jesus Christ đến cùng anh em. 4. Ngài là Đấng đã phó chính Ngài vì tội lỗi của chúng ta, để cứu chúng ta thoát khỏi đời gian ác này, theo ý muốn của Đức Chúa Trời, và Cha của chúng ta. 5. Nguyện Ngài được vinh hiển đời đời. A-men.

Không có Phúc Âm nào khác

6. Tôi lấy làm ngạc nhiên vì anh em đã vội vàng lìa bỏ Đấng đã gọi anh em trong ân điển của Đấng Christ mà theo một phúc âm khác. 7. Đó không phải là một phúc âm khác, nhưng có những kẻ quấy nhiễu anh em và muốn thay đổi Phúc Âm của Đấng Christ. 8. Tuy nhiên thậm chí chúng tôi, hay là một thiên sứ nào từ trời, truyền cho anh em một phúc âm trái ngược với điều chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người đó đáng bị nguyền rủa! 9. Như trước đây chúng tôi đã nói, và bây giờ tôi nhắc lại, nếu có người nào truyền cho anh em một phúc âm trái ngược với điều anh em đã nhận, thì người đó đáng bị nguyền rủa. 10. Còn tôi, hiện nay tôi đang tìm kiếm sự chấp thuận của loài người hay là của Đức Chúa Trời? Nếu tôi làm vui lòng loài người, tôi không phải là đầy tớ của Đấng Christ.

Chức vụ sứ đồ của Phao-lô

11. Thưa anh em, tôi muốn cho anh em biết rằng Phúc Âm mà tôi đã truyền không phải đến từ loài người; 12. bởi vì tôi đã không nhận, hoặc được dạy về Phúc Âm này, từ người nào, nhưng tôi đã nhận qua sự mặc khải của Đức Chúa Jesus Christ.

13. Chắc anh em đã nghe về đời sống trước kia của tôi khi còn trong Do Thái giáo. Tôi đã tàn bạo bách hại và cố tiêu diệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời. 14. Trong Do Thái giáo, tôi đã vượt xa nhiều người cùng tuổi với tôi, bởi vì lòng tôi quá sốt sắng với các truyền thống của tổ phụ tôi.

15. Nhưng khi Đức Chúa Trời, là Đấng đã biệt riêng tôi ra trước khi tôi được sanh ra và đã gọi tôi qua ân điển của Ngài, vui lòng 16. bày tỏ Con của Ngài trong tôi, để rồi tôi có thể rao truyền về Con của Ngài ở giữa các dân ngoại, thì tôi không bàn với một người nào. 17. Tôi cũng không đi lên Giê-ru-sa-lem để gặp những người đã là sứ đồ trước tôi, nhưng tôi liền đi qua xứ A-ra-bi, và sau đó trở về Đa-mách. 18. Ba năm sau đó, tôi đi lên Giê-ru-sa-lem viếng thăm Sê-pha và ở với ông mười lăm ngày; 19. nhưng tôi không gặp một sứ đồ nào khác, ngoại trừ Gia-cơ là em trai của Chúa.

20. Những gì tôi viết cho anh em là thật, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi không nói dối! 21. Sau đó tôi đã đi đến những khu vực thuộc Sy-ri và Si-li-ci. 22. Đối với các hội thánh trong Đấng Christ tại Giu-đê, tôi vẫn còn là người lạ mặt; 23. họ chỉ nghe nói: “Người đã bắt bớ chúng ta trước đây bây giờ đang rao truyền đức tin mà người đã từng cố gắng tiêu diệt.” 24. Và họ tôn vinh Đức Chúa Trời vì cớ tôi.

Chương 2

Phao-lô và các Sứ Ðồ

1. Rồi mười bốn năm sau, tôi lại lên Giê-ru-sa-lem cùng với Ba-na-ba, cũng có mang Tít theo. 2. Theo sự mặc khải tôi đã lên đó và đã trình bày riêng với những nhân vật tôn trọng về Phúc Âm mà tôi đã rao giảng giữa những người ngoại quốc, để những việc tôi đã và đang làm không trở thành vô ích. 3. Ngay cả Tít, người cùng đi với tôi, dù là người Hy Lạp, cũng không bị ép phải chịu cắt bì.

4. Bởi vì có mấy người giả mạo làm anh em đã lén lút len vào, ẩn mình theo dõi sự tự do của chúng tôi mà chúng tôi đã có được trong Đấng Christ Jesus, để họ bắt chúng tôi làm nô lệ. 5. Đối với những người đó, chúng tôi không nhượng bộ họ một giờ nào, để cho chân lý của Phúc Âm vẫn được tiếp tục trong anh em.

6. Còn đối với những người có vẻ như được tôn trọng, cho dù trước kia họ có là ai, đối với tôi, họ không có gì khác biệt – Đức Chúa Trời không tiếp nhận một người theo hình thức bên ngoài – vì vậy những người từng được tôn trọng đó chẳng đóng góp thêm gì cho tôi. 7. Nhưng ngược lại, họ đã thấy rõ rằng tôi được trao trách nhiệm đem Phúc Âm cho những người không được cắt bì – cũng như Phi-e-rơ cho những người được cắt bì 8. – bởi vì Đấng đã hành động trong Phi-e-rơ để sai ông làm sứ đồ cho những người được cắt bì, cũng hành động trong tôi để sai tôi làm sứ đồ cho những người ngoại quốc; 9. và khi đã nhận biết ân điển được ban cho tôi, thì Gia-cơ, Sê-pha và Giăng – những người được xem là những trụ cột – họ đã trao tay phải giao kết với Ba-na-ba và tôi, để chúng tôi đến với những người ngoại quốc, còn họ thì đến với những người được cắt bì. 10. Họ chỉ nhắc chúng tôi một việc là phải nhớ đến những người nghèo, và đó chính là điều mà tôi đã từng làm cách nhiệt thành.

Phao-lô trách Phi-e-rơ

11. Tuy nhiên, khi Sê-pha đến An-ti-ốt, tôi đã phản đối trước mặt ông vì ông thật đáng trách. 12. Trước khi những người của Gia-cơ đến, ông vẫn ăn chung với những người ngoại quốc. Nhưng khi họ đến, ông đã rút lui và tách mình riêng ra, vì sợ những người được cắt bì. 13. Những người Do Thái còn lại cũng hành động đạo đức giả như ông, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn theo cách đạo đức giả của họ. 14. Tuy nhiên, khi tôi thấy họ không bước đi ngay thẳng theo chân lý của Phúc Âm, tôi đã nói với Sê-pha trước mặt mọi người: “Nếu anh là người Do Thái, mà sống theo cách những người ngoại quốc, không theo cách của người Do Thái, thì làm sao anh có thể thuyết phục những người ngoại quốc sống theo cách của người Do Thái?”

Ðược cứu bởi đức tin

15. Chúng tôi sinh ra là người Do Thái, chứ không phải là những người tội lỗi trong các dân ngoại. 16. Tuy nhiên, chúng tôi biết rằng một người được xưng công chính không phải nhờ vào những công việc của luật pháp nhưng bởi đức tin trong Đấng Christ Jesus; cho nên chúng tôi đã tin Đấng Christ Jesus để được xưng công chính bởi đức tin trong Đấng Christ, chứ không bởi những công việc của luật pháp, bởi vì không một ai được xưng công chính bởi những công việc của luật pháp. 17. Nhưng nếu đang khi chúng tôi tìm cách để được xưng công chính trong Đấng Christ mà chính chúng tôi lại bị xem là kẻ có tội, không lẽ Đấng Christ là người điều hành cho tội lỗi hay sao? Không hề như vậy! 18. Bởi vì nếu tôi xây dựng lại những gì tôi đã phá hủy, tôi chứng tỏ rằng mình là kẻ phạm luật. 19. Vì qua luật pháp tôi đã chết đối với luật pháp, để tôi có thể sống cho Ðức Chúa Trời. 20. Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; bây giờ tôi sống trong thể xác, tức là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi. 21. Tôi không muốn làm vô hiệu ân điển của Đức Chúa Trời; bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được sự công chính thì Đấng Christ đã chết vô ích.

Chương 3

Luật pháp và đức tin

1. Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em – là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được giải bày tỏ tường trước mắt? 2. Đây là điều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh em: Anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? 3. Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? 4. Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? 5. Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?

6. Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” 7. Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham. 8. Hơn nữa Kinh Thánh đã báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” 9. Vì vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham – là người có lòng tin.

Ðấng Christ cứu chuộc chúng ta

10. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa; bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp sẽ bị nguyền rủa.” 11. Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời; bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” 12. Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin; nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” 13. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, và trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” — 14. để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, để bởi đức tin chúng ta nhận lãnh lời hứa về Đức Thánh Linh.

Luật pháp và lời hứa

15. Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước – dù là của con người – đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. 16. Hơn nữa, về những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho các hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. 17. Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Giao ước đã được Đức Chúa Trời xác lập từ trước; sau đó bốn trăm ba mươi năm luật pháp mới có, cho nên không thể hủy bỏ, cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. 18. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải bởi lời hứa nữa – tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.

Mục đích của luật pháp

19. Như vậy tại sao có luật pháp? Nó đã được thêm vào là bởi vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến. 20. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chính là Đấng đó. 21. Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; 22. tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin.

23. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. 24. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. 25. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa.

26. Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. 27. Anh chị em – những người đã được báp-têm trong Đấng Christ – đang mặc lấy Đấng Christ. 28. Không phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt nô lệ hay tự do, không phân biệt nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. 29. Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.

Chương 4

Từ nô lệ trở thành con

1. Tôi nói rằng bao lâu người thừa kế còn thơ ấu, mặc dù làm chủ tất cả, nhưng chẳng khác gì một nô lệ; 2. người ấy phải ở dưới quyền của các giám hộ và những người được ủy thác cho đến thời hạn đã được ấn định bởi người cha.

3. Chúng ta cũng vậy, khi còn thơ ấu, chúng ta bị làm nô lệ cho các thần linh thấp kém của thế gian. 4. Tuy nhiên khi kỳ hạn được trọn, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến, do một người nữ sinh ra, sinh ra dưới luật pháp, 5. để Ngài có thể cứu chuộc những người ở dưới luật pháp, để chúng ta có thể nhận địa vị con nuôi thiên thượng.

6. Bởi vì anh em là con, cho nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta, rồi thốt lên: “A-ba! Cha!” 7. Như vậy, nhờ ơn của Đức Chúa Trời, anh em không còn là nô lệ nữa mà là con; và nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế.

Nỗi ưu tư của Phao-lô

8. Trước kia, khi chưa biết Đức Chúa Trời, anh em làm nô lệ cho những vị vốn không phải là thần; 9. Tuy nhiên, bây giờ anh em đã biết Đức Chúa Trời, hay đúng hơn là đã được Đức Chúa Trời biết đến, tại sao anh em còn trở lại với những thần linh yếu đuối và nghèo hèn đó? Anh em muốn trở lại làm nô lệ cho họ hay sao? 10. Anh em còn giữ ngày, tháng, mùa, và năm. 11. Tôi lo sợ cho anh em – lo rằng tôi đã lao nhọc vô ích vì anh em.

12. Thưa anh em, tôi nài xin anh em hãy trở nên giống tôi, bởi vì tôi cũng như anh em – anh em cũng không làm điều gì sai trái với tôi. 13. Hơn nữa, anh em biết rằng lần đầu tiên, tôi đã đến giảng Phúc Âm cho anh em trong một thể xác đau yếu; 14. mặc dù thể xác của tôi là một thử thách cho anh em, anh em đã chẳng khinh khi hay khước từ tôi, nhưng anh em đã tiếp rước tôi như một thiên sứ của Đức Chúa Trời, như chính Đấng Christ Jesus. 15. Nhưng phước hạnh ấy của anh em đâu rồi? Bởi vì tôi làm chứng cho anh em rằng, nếu có thể được, anh em cũng đã móc mắt của mình mà cho tôi. 16. Lẽ nào tôi trở nên kẻ thù của anh em vì nói sự thật với anh em hay sao?

17. Những người đó nhiệt tình với anh em không phải vì tốt, nhưng họ muốn tách anh em với chúng tôi để anh em nhiệt tình với họ. 18. Lúc nào cũng nhiệt tình về điều tốt là đúng, chứ không phải chỉ khi nào có tôi hiện diện với anh em.

19. Các con của ta! Vì các con mà ta lại phải chịu đau đớn trong khi sinh cho đến khi Đấng Christ được thành hình trong các con! 20. Ước gì ta được ở với các con trong lúc nầy và thay đổi giọng nói của ta, bởi vì ta rất băn khoăn về các con.

21. Hỡi những người muốn sống dưới luật pháp! Hãy nói cho tôi: Anh em không nghe luật pháp nói gì hay sao? 22. Bởi vì có lời chép rằng Áp-ra-ham có hai con trai: một là con của người nữ nô lệ, một là con của người nữ tự do. 23. Tuy nhiên, con của người nữ nô lệ được sinh ra theo xác thịt, còn con của người nữ tự do sinh ra theo lời hứa. 24. Những điều nầy ngụ ý về hai giao ước. Một là giao ước tại núi Si-na-i, sinh ra để làm nô lệ, đó là A-ga. 25. Hơn nữa, A-ga là núi Si-na-i, tại Ả-rập, tương ứng với Giê-ru-sa-lem hiện nay, vì thành nầy cùng với các con dân của mình đều làm nô lệ. 26. Nhưng Giê-ru-sa-lem thiên thượng là sự tự do; đó là mẹ của chúng ta. 27. Vì có lời chép: “Hỡi người nữ hiếm muộn, chưa cưu mang; hỡi người chưa từng chịu đau đớn trong khi sinh, hãy cất tiếng reo mừng! Bởi vì con của người vợ bị ruồng bỏ, nhiều hơn con của người nữ có chồng.”

28. Thưa anh em, cũng như Y-sác, anh em là con của lời hứa. 29. Tuy nhiên giống như lúc đó, kẻ sinh ra theo xác thịt bắt bớ người sinh ra theo Thánh Linh, thì bây giờ cũng vậy.

30. Tuy nhiên Kinh Thánh nói gì? “Hãy đuổi người nữ nô lệ và con trai của nàng, bởi vì con trai của người nữ nô lệ sẽ không được thừa kế với con trai của người nữ tự do.” 31. Do đó, thưa anh em, chúng ta không phải là con của người nữ nô lệ, nhưng là con của người nữ tự do.

Chương 5

Bảo vệ tự do thuộc linh

1. Ðấng Christ đã giải phóng cho chúng ta được tự do; vì vậy hãy đứng vững, và đừng để mình vướng vào ách nô lệ nữa.

2. Xin chú ý! Tôi, là Phao-lô, nói với anh em rằng nếu anh em phải chịu cắt bì thì Ðấng Christ không ích lợi gì cho anh em. 3. Tôi xác quyết với mỗi người đã chịu cắt bì rằng người đó là kẻ mắc nợ, phải tuân giữ toàn bộ Luật Pháp. 4. Anh em nào muốn được xưng công chính bởi Luật Pháp thì đã lìa khỏi Đấng Christ, anh em đó đã đánh mất ân điển rồi. 5. Nhưng chúng ta, nhờ Thánh Linh, bởi đức tin, nôn nả trông đợi niềm hy vọng của sự công chính. 6. Trong Ðấng Christ Jesus, chịu cắt bì hay không chịu cắt bì không đem lại năng lực gì, nhưng chỉ có đức tin thể hiện qua tình yêu thương.

7. Anh em đang chạy giỏi như vậy, ai đã ngăn trở anh em vâng phục chân lý? 8. Sự xúi giục đó không đến từ Đấng đã gọi anh em. 9. Một ít men làm dậy cả đống bột. 10. Trong Chúa, tôi tin rằng anh em sẽ không có suy nghĩ gì khác; nhưng người quấy rối anh em – bất kể là ai – sẽ chịu hình phạt. 11. Hơn nữa, thưa anh em, về phần tôi, nếu tôi vẫn còn rao giảng về việc cắt bì, thì tại sao tôi vẫn còn bị bắt bớ? Nếu như vậy, sự chống đối về thập tự giá đâu còn nữa. 12. Tôi ước gì những người gây rối cho anh em tự cắt bỏ thì hơn!

Ðức Thánh Linh và xác thịt

13. Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do, xin đừng dùng sự tự do đó làm cơ hội để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy tình yêu thương mà phục vụ nhau, 14. bởi vì cả luật pháp được tóm lại trong một lời nầy: “Ngươi hãy yêu người lân cận như mình.” 15. Nhưng nếu anh em cứ cắn nuốt nhau thì hãy coi chừng, anh em có thể tiêu diệt lẫn nhau.

16. Vì vậy tôi nói: Hãy bước đi theo Thánh Linh, đừng thỏa mãn những đam mê của xác thịt. 17. Bởi vì xác thịt đam mê điều nghịch với Thánh Linh – Thánh Linh nghịch với xác thịt; hai bên đối nghịch nhau như vậy, cho nên anh em không làm được những điều mình muốn. 18. Tuy nhiên nếu anh em được Thánh Linh dẫn dắt, anh em không ở dưới luật pháp. 19. Công việc của xác thịt thật là rõ ràng: gian dâm, nhơ bẩn, nhục dục, 20. sùng kính thần tượng, ma thuật, thù hận, xung đột, ghen ghét, giận dữ, cãi cọ, chia rẽ, bè đảng, 21. ganh tị, say sưa, nhậu nhẹt, và những điều tương tự. Tôi cảnh cáo anh em, như tôi đã từng cảnh cáo: những ai làm những điều như thế sẽ không được hưởng vương quốc của Ðức Chúa Trời.

22. Nhưng trái của Thánh Linh là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, 23. khiêm nhu, tiết độ. Không có luật pháp nào cấm những điều đó. 24. Hơn nữa, những người thuộc về Đấng Christ Jesus đã đóng đinh trên thập tự xác thịt cùng với những đam mê và dục vọng rồi.

25. Nếu chúng ta nhờ Thánh Linh mà sống, hãy bước đi theo Thánh Linh. 26. Chúng ta không nên khoe khoang, khiêu khích nhau, và ganh tị lẫn nhau.

Chương 6

Mang gánh nặng cho nhau

1. Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. 2. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. 4. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. 5. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.

Gieo và gặt

6. Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. 7. Đừng tự lừa dối; đừng giễu cợt với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. 8. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9. Chúng ta đừng nản lòng khi làm việc thiện, bởi vì nếu chúng ta không nản lòng, đến thời điểm chúng ta sẽ gặt. 10. Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.

Lời nhắc nhở cuối thư

11. Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.

12. Rất nhiều người muốn tốt đẹp theo xác thịt, họ đã buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. 13. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. 14. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. 15. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. 16. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!

17. Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi.

18. Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.

Bản Dịch Việt Ngữ

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top