Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Kiến Thức: Abigail

Kiến Thức: Abigail

Abigail_EscalenteAbigail
Juan Antonio Escalante (1633–1669)

Lời Ban Biên Tập:

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam nhiều trẻ em, và cả người lớn, có tên ngoại quốc.  Một số tên được nhiều người sử dụng có nguồn gốc từ Thánh Kinh.  Bài viết dưới đây nhằm giúp bạn tìm hiểu ý nghĩa một số tên được trích từ trong Thánh Kinh.  Bài viết này là một phần trong loạt bài được viết cho mục những Nhân Vật Trong Kinh Thánh của Bách Khoa Từ Điển Tin Lành do Ban Biên Tập và các cộng tác viên của Thư Viện Tin Lành biên soạn.

 

Abigail

Abigail (A-bi-ga-in) là tên của một phụ nữ sống trong thời Cựu Ước.  Chữ Abigail (אֲבִיגַיִל / אֲבִיגָיִל) trong tiếng Do Thái (Hebrew) có nghĩa là niềm vui của cha, hay cha là niềm vui.

Abigail là vợ của Na-banh, người Cạt-mên, thuộc dòng dõi Ca-lép, thuộc chi tộc Giu-đa.  Abigail sống với chồng tại Ma-ôn. Na-banh là một người giàu có, nhưng thô lỗ.  Phẩm cách của Abigail tương phản với chồng.  Bà được Thánh Kinh ghi nhận là một phụ nữ thông minh và xinh đẹp.

Khi Đa-vít chạy trốn Sau-lơ, ông cử người đến gặp Na-banh để xin tiếp tế lương thực. Na-banh đã từ chối không giúp toán quân của Đa-vít nhưng sỉ nhục họ.

Abigail nhận ra việc từ chối giúp Đa-vít và những lời sỉ nhục của chồng sẽ gây hiểm họa cho cả gia đình.  Các gia nhân cho bà biết những toán quân của Đa-vít đã giúp bảo vệ tài sản của gia đình bà, nhưng vì họ bị chồng bà sỉ nhục nên họ dự định trả đũa.

Khi biết được điều đó,  Abigail đã vội vàng đem lễ vật gồm bánh mì, rượu, bắp, nho khô, trái vả và cừu, đến gặp Đa-vít trong lúc toán quân của ông đang trên đường tấn công Na-banh.  Abigail nhận lỗi, nài xin Đa-vít tha thứ cho sự thô lỗ của chồng mình, và xin Đa-vít đừng trả thù.

Đa-vít chúc tạ Đức Chúa Trời và chấp nhận lời thỉnh cầu của Abigail. Thái độ ứng xử khôn ngoan, khéo léo, kịp thời của Abigail đã ngăn chận được một cuộc tàn sát đẩm máu.

Trở về nhà, Abigail thấy Na-banh lúc đó đang say rượu.  Sáng hôm sau, khi chồng đã tỉnh rượu, Abigail kể lại cho Na-banh những việc đã xảy ra. Na-banh nhận thức mình vừa thoát chết. Từ nỗi hoảng sợ Na-banh bị nhồi máu và ngất đi.  Mười ngày sau, Na-banh chết.

Sự khôn ngoan, cách ăn nói, phẩm cách, niềm tin, và sắc đẹp của Abigail đã gây ấn tượng cho Đa-vít.  Khi biết chồng của Abigail đã chết, Đa-vít ngõ lời cầu hôn. Abigail chấp nhận lời cầu hôn đó. Abigail bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc sống: trở thành vợ của một người đang bị truy lùng  (I Sa-mu-ên 25:2-44).

Abigail cùng với A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên, là hai người vợ cùng chia sẻ cuộc sống với Đa-vít tại Gát. Họ bị dân A-ma-léc bắt làm tù nhân tại Xiếc-lác, và sau đó được Đa-vít giải cứu (I Sa-mu-ên 30:18).

Abigail tin chắc Đức Chúa Trời sẽ cho Đa-vít sẽ làm vua.  Niềm tin của bà đã trở thành sự thật. Abigail trở thành một phụ nữ hoàng gia.  Bà là mẹ của Ki-lê-áp (II Sa-mu-ên 3:3), còn gọi là Đa-ni-ên (I Sử Ký 3:1), là con trai thứ hai của Đa-vít.

Biến Thể

Tên Abigail còn được dùng với một ít thay đổi tùy theo vùng, hoặc quốc gia.  Những cách viết phổ biến của chữ này là Abagael, Abagail, Abagale,  Abagil, Abalgael, Abbagail, Abbagale, Abbigail, Abbigale, Abbygail, Abbygale, Abigael, Abigal, Abigail, Abigale, Abigil, và Abigayle.

Trong tiếng Anh, tên này được viết trong dạng ngắn gọn, hoặc gọi cách trìu mến là Abbe, Abbey, Abbi, Abby, Abbye, Gael, Gail, Gaila, Gayel, và Gayle.

Ý Nghĩa

Ngoài ý nghĩa “niềm vui của cha” theo nguyên văn Hebrew, tên Abigail gợi lên hình ảnh một thiếu nữ xinh đẹp, khôn ngoan, khéo léo trong lời nói, nhanh nhẹn trong cách ứng xử, biết nhìn xa, biết thuận phục, nhưng có tinh thần độc lập.

Phổ Thông

Theo tài liệu của Sở An Sinh Xã Hội Hoa Kỳ (US Government Social Security Administration), tên Abigail đứng hàng thứ 7 trong những tên được đặt cho bé gái trong các năm 2010, 2011, 2013, và đứng hàng thứ 8 trong các năm 2009 và 2013.

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org

Tham Khảo:

  • Carol L. Meyers, Toni Craven, Ross Shepard Kraemer (Eds.), Women in Scripture: A Dictionary of Named and Unnamed Women in the Hebrew Bible, the Apocryphal/Deuterocanonical Books, and the New Testament, Wm. B. Eerdmans Publishing, 2000, p. 43.
  • I. Howard Marshall, A. R. Millard, J. I. Parker, D. J. Wiseman (Eds.), Thánh Kinh Tân Từ Điển, Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam – Union University of California, 2009, p. 3-4.

Kinh Thánh:

Đa-vít và vợ Na-banh
2. Có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp thì ở Cạt-mên. Người ấy rất giàu có, ông nuôi ba nghìn con chiên, và một nghìn con dê. Ông đang hớt lông chiên ở Cạt-mên. 3. Ông ấy tên là Na-banh, thuộc dòng dõi Ca-lép; và vợ ông là A-bi-ga-in. Người vợ thì khôn ngoan xinh đẹp, còn chồng thì cứng cỏi và hung ác.
4. Trong hoang mạc, Đa-vít nghe tin Na-banh đang hớt lông chiên 5. nên sai mười thanh niên đi, và dặn họ: “Hãy đi lên Cạt-mên, đến gặp Na-banh, nhân danh ta chào thăm ông ấy, 6. và nói rằng: ‘Nguyện ông được bình an, nguyện gia đình ông và tất cả những gì thuộc về ông đều được bình an! 7. Bây giờ, tôi được biết có thợ đang hớt lông chiên cho ông. Ngày trước, khi những người chăn chiên của ông ở gần chúng tôi, chúng tôi không hề quấy nhiễu họ; trọn thời gian ở tại Cạt-mên, họ không mất mát gì cả. 8. Xin cứ hỏi các đầy tớ ông, họ sẽ nói cho ông biết. Vì chúng tôi đến trong ngày lễ hội, mong rằng các thanh niên của tôi được ơn trước mặt ông. Xin cho các đầy tớ ông và con ông là Đa-vít bất cứ món gì ông có sẵn trong tay.’”
9. Các thanh niên của Đa-vít đến gặp Na-banh, và nhân danh Đa-vít lặp lại tất cả những lời ấy, rồi yên lặng chờ đợi. 10. Nhưng Na-banh trả lời với các đầy tớ Đa-vít: “Đa-vít là ai? Con của Gie-sê là ai? Ngày nay sao có lắm đầy tớ trốn chủ thế! 11. Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước và thịt dành cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết từ đâu đến sao?” 12. Các thanh niên của Đa-vít quay trở về. Đến nơi, họ thuật lại tất cả những lời ấy cho Đa-vít nghe. 13. Đa-vít nói với các thuộc hạ: “Mỗi người hãy đeo gươm của mình vào!” Họ đều đeo gươm, Đa-vít cũng đeo gươm của ông. Khoảng bốn trăm người đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người ở lại giữ đồ đạc.
14. Một trong số các đầy tớ báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh: “Đa-vít đã sai những sứ giả từ hoang mạc đến chào chủ chúng tôi, nhưng ông ấy mắng nhiếc họ. 15. Thật, suốt thời gian chúng tôi ở gần những người ấy trong cánh đồng, họ rất tử tế với chúng tôi, chúng tôi không bị quấy nhiễu, và không mất mát vật gì cả. 16. Trong lúc chúng tôi ở gần các người đó, chăn giữ bầy chiên, thì ngày và đêm họ như một bức tường bao bọc chúng tôi. 17. Vậy bây giờ, xin bà xem phải làm gì, vì người ta đã định giáng tai họa trên chủ chúng tôi và trên cả nhà người. Ông chủ hung dữ quá, nên không chịu nghe ai cả.”
18. A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu rượu nho, năm con chiên đực đã làm thịt, khoảng mười bảy ký hột rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả khô, chất trên lưng các con lừa. 19. Rồi bà nói với các đầy tớ: “Hãy đi trước, ta sẽ theo sau các ngươi.” Nhưng bà không nói gì cả với Na-banh, chồng mình. 20. Khi bà cưỡi lừa đi xuống theo một con đường khuất sau ngọn núi, thì kìa, Đa-vít và các thuộc hạ cũng đang xuống về phía bà, và bà gặp họ.
21. Đa-vít đã nói: “Thật uổng công cho ta đã gìn giữ tất cả những gì của người nầy trong hoang mạc, đến đỗi không mất mát gì cả. Thế mà hắn lại lấy oán trả ơn. 22. Nguyện Đức Chúa Trời phạt kẻ thù của Đa-vít thật nặng nề! Từ đây đến sáng mai, ta sẽ chẳng để bất cứ người nam nào thuộc về Na-banh sống sót.”
23. Vừa thấy Đa-vít, A-bi-ga-in liền vội vàng xuống lừa, sấp mình xuống đất và lạy trước mặt Đa-vít. 24. Bà phủ phục dưới chân người mà nói: “Lạy chúa, lỗi tại tôi, tại tôi! Xin cho phép tớ gái của chúa được trình bày, xin nghe tớ gái chúa nói. 25. Xin chúa tôi đừng để ý đến con người hung ác kia là Na-banh, vì tên của hắn hợp với tính của hắn: tên hắn là Na-banh, và trong hắn có sự điên dại. Còn tôi, là tớ gái chúa, không gặp những người chúa đã sai đến. 26. Bây giờ, chúa tôi ơi, Đức Giê-hô-va đã ngăn chúa khỏi tội làm đổ máu, và lấy chính tay mình báo thù. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống và như chúa vẫn sống đây, nguyện các kẻ thù và kẻ tìm hại chúa tôi đều sẽ như Na-banh! 27. Và đây là món quà mà tớ gái chúa đem đến cho chúa tôi để phân phát cho những người theo chúa tôi. 28. Xin thứ lỗi cho tớ gái chúa! Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ lập cho chúa tôi một nhà vững bền, vì chúa tôi đánh trận cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời của chúa sẽ không tìm thấy một điều ác nào. 29. Nếu có ai nổi lên để săn đuổi và tìm hại mạng sống chúa, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúa sẽ bảo bọc mạng sống của chúa; còn mạng sống của kẻ thù chúa thì Đức Giê-hô-va sẽ ném ra xa như ném đá ra khỏi ná. 30. Khi Đức Giê-hô-va đã làm cho chúa tôi tất cả điều tốt lành mà Ngài đã hứa, và khi Ngài đã lập chúa làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, 31. thì ước gì chúa tôi sẽ không hối tiếc, và không bị lương tâm cắn rứt, vì đã vô cớ làm đổ máu và tự báo thù cho mình! Lại khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, nguyện chúa nhớ đến tớ gái của chúa!”
32. Đa-vít nói với A-bi-ga-in: “Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì hôm nay Ngài đã sai bà đến đón tôi! 33. Đáng khen sự sáng suốt của bà và đáng chúc phước cho bà, vì hôm nay đã cản tôi khỏi tội làm đổ máu và ngăn tôi dùng chính tay mình mà báo thù. 34. Nhưng thật như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là hằng sống, Đấng đã ngăn cản tôi làm điều ác, nếu bà không vội vàng đến đón tôi thì tôi hẳn sẽ chẳng để bất cứ người nam nào thuộc về Na-banh sống sót đến sáng mai.”
35. Rồi Đa-vít nhận từ tay bà những gì bà đem đến cho ông, và nói: “Hãy trở về nhà bình an. Hãy xem, tôi đã nghe bà, và chấp nhận điều bà thỉnh cầu.”
36. A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh. Kìa, ông ấy đang mở tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh vui vẻ trong lòng và say khướt nên A-bi-ga-in không nói cho ông biết điều gì, dù lớn hay nhỏ, cho đến khi trời sáng. 37. Sáng hôm sau, khi Na-banh đã tỉnh rượu, vợ ông thuật lại mọi việc thì ông chết điếng, đờ người ra như đá. 38. Khoảng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và ông chết.
39. Khi Đa-vít nghe tin Na-banh đã chết, ông nói: “Đáng ca ngợi Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã bênh vực tôi về việc Na-banh đã sỉ nhục tôi, và đã giữ đầy tớ Ngài khỏi làm điều ác! Đức Giê-hô-va đã khiến sự gian ác của Na-banh đổ lại trên đầu hắn!” Sau đó, Đa-vít sai người đến hỏi A-bi-ga-in làm vợ. 40. Các đầy tớ của Đa-vít đến với A-bi-ga-in tại Cạt-mên, và nói: “Đa-vít sai chúng tôi đến với bà để xin cưới bà làm vợ ông ấy.” 41. Bà đứng dậy, sấp mặt xuống đất, và nói: “Nầy tớ gái của chúa sẽ làm nữ tỳ để rửa chân cho các đầy tớ của chúa tôi.” 42. Rồi A-bi-ga-in vội vã đứng dậy, cưỡi lừa, và cùng với năm tớ gái đi theo các sứ giả của Đa-vít, để về làm vợ ông.
43. Đa-vít cũng đã cưới A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên; cả hai đều làm vợ ông. 44. Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình và là vợ của Đa-vít, cho Phanh-ti, con của La-ít, người Ga-lim.

©2012-2018 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top