Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Thời Sự » Khảo Cổ: Tìm Thấy Cổ Vật 2500 Năm Thời Người Do Thái Hồi Hương Tại Jerusalem

Khảo Cổ: Tìm Thấy Cổ Vật 2500 Năm Thời Người Do Thái Hồi Hương Tại Jerusalem

Jerusalem:  Theo tin của tuần báo Jerusalem Post phát hành vào ngày 1/7/2020 vừa qua, các nhà khảo cổ tại Jerusalem vừa tìm được một cổ vật là một cái ấn của chính quyền Ba Tư tại Jerusalem. Cổ vật này là một bằng chứng xác nhận giai đoạn lịch sử lúc những người Do Thái bị lưu đày từ Babylon trở về xây dựng lại Đền Thờ và thành Jerusalem cách đây 2500 năm. Trong quá khứ, một số người chống đối Kinh Thánh cho rằng những ký thuật về việc người Do Thái hồi hương được ghi lại trong các sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi của Kinh Thánh không đáng tin cậy bởi vì thiếu những bằng chứng khảo cổ để chứng minh đây là những dữ kiện lịch sử.

Ấn của chính quyền Ba Tư cai trị Jerusalem cách đây 2500 năm
(Photo Credit: City of David)

Giáo sư Yuval Gadot của Viện Đại Học Tel Aviv cho biết cổ vật là một cái ấn bằng đất sét được tìm thấy cách đây vài tháng. Chiếc ấn này xác nhận sự hiện diện của chính quyền Babylon tại Jerusalem vào thời kỳ hậu lưu đày cách đây 2500 năm. Phát hiện này là kết quả của một công trình khảo cổ được thực hiện bởi các nhà khảo cổ thuộc Viện Đại Học Tel Aviv (Tel Aviv University) và Cơ Quan Thẩm Định Cổ Vật của Israel (Israel Antiquities Authority). Cổ vật đã được tìm thấy tại một khu vực khảo cổ được gọi là Givati Parking Lot. 

Di tích ấn của chính quyền Ba Tư thời kỳ hậu lưu đày cách đây 2500 năm
(Photo Credit: Shai HaLevi/Israel Antiquities Authority)

Vào năm 2007, có một dự án đề nghị xây dựng một trung tâm tiếp khách du lịch tại một địa điểm vốn là một bãi đậu xe tên là Givati nằm ở phía nam của cổng Phân của cổ thành Jerusalem (Nê-hê-mi 2:13). Theo thông lệ, trước khi cấp giấy phép xây dựng, chính quyền Israel yêu cầu phải thực hiện những nghiên cứu địa chất tại khu vực để xem có những di tích khảo cổ nào bên dưới mặt đất hay không.  Các nghiên cứu siêu âm sơ khởi cho thấy tại khu vực này có hơn mười tầng với những cấu trúc có thể chứa những di tích lịch sử kéo dài hơn 3000 năm về trước.  Vì vậy kể từ năm 2007 cho đến nay, Givati Parking Lot đã trở thành một địa điểm khảo cổ tại thủ đô Jerusalem.  Trong hơn mười năm vừa qua rất nhiều di tích khảo cổ đã được tìm thấy tại khu vực này. 

Khu vực khảo cổ nơi tìm ra chiếc ấn thời Ba Tư
(Photo Credit: Israel Antiquities Authority)

Tưởng cũng nên nhắc lại, theo lịch sử của Babylon, Nebuchadnezzar II là vị vua đã cai trị tại Babylon từ năm 605 TC đến năm 562 TC.  Kinh Thánh cho biết Nê-bu-cát-nết-sa (Nebuchadnezzar II) đã nhiều lần tấn công Jerusalem. Trong năm thứ nhất của triều đại mình (605 TC), Nê-bu-cát-nết-sa đem quân tấn công Jerusalem. Giê-hô-gia-kim, vua của vương quốc Giu-đa vào lúc đó, đã chấp nhận thần phục Nê-bu-cát-nết-sa trong ba năm, rồi sau đó đổi ý chống lại Nê-bu-cát-nết-sa (II Các Vua 24:1-2).  Năm thứ 8 của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa (597 TC), Nê-bu-cát-nết-sa tấn công Jerusalem lần thứ hai. Vua Giê-hô-gia-kin, người kế vị Vua Giê-hô-gia-kim, lúc mới được 18 tuổi đã cùng các triều thần của ông đầu hàng quân đội Babylon. Trong lần tấn công này Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy đem về Babylon những bảo vật trong Đền Thờ, trong cung điện, trong các kho tàng mà vua Sa-lô-môn đã tích trữ, rồi ra lệnh lưu đày vua Giê-hô-gia-kin và hoàng tộc, cùng  với khoảng mười tám ngàn người ưu tú của vương quốc Giu-đa sang Babylon (II Các Vua 24:8-16). Theo ký thuật trong II Các Vua 25:8-12 vào năm thứ 19 của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa, tức là năm 586 TC, Vua Nê-bu-cát-nết-sa cho quân trở lại Jerusalem một lần nữa.  Lần này, quân đội của Babylon đã thiêu hủy Đền Thờ, tàn phá thành Jerusalem, bắt những người ưu tú còn lại đem đày sang Babylon.

Sau khi Nê-bu-cát-nết-sa qua đời, con trai của ông là Nabonidus làm vua tại Babylon từ năm (562-539 TC).  Giống như cha của mình, Nabonidus thường xuyên đi chinh phục.  Trong khi thực hiện những chuyến viễn chinh, Nabonidus trao cho Bên-xát-sa (Belshazzar) đồng trị ngôi vua và cầm quyền tại Babylon. 

Theo ký thuật trong sách Đa-ni-ên chương thứ 5, Bên-xát-sa đã tổ chức một bữa tiệc đãi hoàng tộc và các triều thần tại Babylon.  Ông đã đem những vật dụng của Đền Thờ tại Jerusalem ra dùng trong buổi tiệc này. Trước sự xúc phạm của Vua Bên-xát-sa, Đức Chúa Trời công bố sự trừng phạt cho ông bằng cách cho phép một dòng chữ kỳ lạ xuất hiện trên một bức tường trong cung điện khi vua đang dự tiệc.  Đa-ni-ên, một học giả gốc Do Thái làm việc dưới thời Vua Nê-bu-cát-nết-sa, được mời đến để giải thích.  Đa-ni-ên báo cho Vua Bên-xát-sa biết rằng Đức Chúa Trời sẽ kết thúc vương quyền của dòng dõi Nê-bu-cát-nết-sa và trao vương quốc Babylon vào tay của người Mê-đi Ba Tư. Sau khi nghe lời giải thích đó, mặc dầu biết vương quyền sẽ mất, nhưng vua Bên-xát-sa đã phong chức cho Đa-ni-ên làm nhân vật lớn thứ ba trong vương quốc Babylon, chỉ đứng sau vua Nabonidus và vua Bên-xát-sa. Ngay đêm hôm đó, Đa-ri-út (Darius), một tướng của Si-ru (Cyrus), vua của vương quốc Mê-đi Ba Tư, đã chiếm thủ đô Babylon (Đa-ni-ên 5:1-31).

Sau khi quân đội của Mê-đi Ba Tư chiếm Babylon, Vua Si-ru cai trị Babylon từ năm (539 – 530 TC).  Vua Si-ru là người đã được Tiên tri Ê-sai dự ngôn trước đó hơn 200 năm rằng ông là người được Đức Chúa Trời xức dầu để làm vua (Ê-sai 45:1; 44:28).  Ngay trong năm thứ nhất của triều đại mình, Vua Si-ru đã ký sắc lệnh cho người Do Thái được hồi hương và cho tái lập lại Đền Thờ tại Jerusalem (E-xơ-ra 1:1-5).  Điều này có thể đã được thực hiện với sự cố vấn của Đa-ni-ên là người đang làm tể tướng của Babylon vào lúc đó.   

Ký thuật trong sách E-xơ-ra cho biết những người Do Thái bị lưu đày được Vua Si-ru cho phép trở về vào năm thứ nhất của triều đại Si-ru đã khởi công xây lại Đền Thờ vào năm thứ hai sau khi họ về đến Jerusalem.  Người Do Thái đã xây nền của Đền Thờ (E-xơ-ra 3:8-10) tuy nhiên sau đó do bị các viên chức địa phương cản trở nên việc xây dựng Đền Thờ và thành Jerusalem bị đình trệ từ thời Vua Si-ru cho tới thời Vua Đa-ri-út (E-xơ-ra 4:4-5).

Theo lịch sử của Babylon, Cambyses II, con trai trưởng của Vua Si-ru đã làm vua tại Babylon từ năm (530-522 TC). Ông đã chinh phục Ai Cập và sáp nhập lãnh thổ Ai Cập vào vương quốc Mê-đi Ba-tư. Trong một hành trình từ Syria trở về, Vua Cambyses II bị thương và qua đời. Mặc dù Vua Cambyses II đã cưới nhiều vợ và một trong những người vợ là em gái của ông tên là là Atossa, tuy nhiên Vua Cambyses II không có con trai nối dõi. Sau khi Vua Cambyses II chết,  Đa-ri-út (Darius), một vị tướng của Vua Si-ru – là người đã chinh phục Babylon trước đó – đã trở thành vua của Babylon.  Đa-ri-út đã cưới Atossa vợ của vị vua tiền nhiệm và cũng là con gái của Vua Si-ru làm vợ để trở thành người trong hoàng tộc, và lên ngôi trị vì tại Babylon.  Đa-ri-út đã làm vua tại Babylon từ năm 522 TC đến năm 486 TC.

Kinh Thánh cho biết vào năm đầu đời Vua Đa-ri-út (522 TC), dựa vào lời hứa của Đức Chúa Trời được Tiên tri Giê-rê-mi công bố (Đa-ni-ên 9:3-19; Giê-rê-mi 29:10-14), Tiên tri Đa-ni-ên đã cầu nguyện trình dâng với Đức Chúa Trời về hiện trạng của Đền Thờ và của thành Jerusalem (Đa-ni-ên 9:3-19). Mặc dầu người Do Thái đầu tiên hồi hương đến lúc đó đã được 17 năm nhưng công việc tái thiết Đền Thờ và thành Jerusalem vẫn còn dang dở (E-xơ-ra 4:4-5).

Khi nghe lời cầu nguyện của Tiên tri Đa-ni-ên, Đức Chúa Trời đã cho thiên sứ Gáp-ri-ên đến báo tin cho Tiên tri Đa-ni-ên biết rằng lời cầu nguyện của ông đã được nhậm (Đa-ni-ên 9:20-23).  Đức Chúa Trời đã thực hiện điều đó bằng cách hướng dẫn các Tiên tri Mi-chê và A-ghê đang sống tại Giu-đa nhắc nhở những người Do Thái đã hồi hương đừng chỉ mải mê lo xây dựng cơ nghiệp riêng  của mình (A-ghê 1:1-15), cũng đừng sợ hãi nữa (A-ghê 2:1-8) nhưng hãy bắt đầu trở lại việc xây cất Đền Thờ của Đức Chúa Trời (E-xơ-ra 5:1-2; Xa-cha-ri 4:6-9).  Dĩ nhiên khi việc tái thiết Đền Thờ được bắt đầu trở lại, các viên chức của chính quyền Babylon tại Jerusalem và những vùng phụ cận đã tìm cách ngăn trở (E-xơ-ra 5:3).  Tuy nhiên lần này những nhà lãnh đạo của người Do Thái đã khéo léo trả lời rằng họ đã có giấy phép xây dựng Đền Thờ từ thời Vua Si-ru và họ không thể ngưng việc xây dựng nếu không có lệnh của vị vua hiện tại là Vua Đa-ri-út (E-xơ-ra 5:4-5). 

Sau đó, các viên chức chính quyền tại Jerusalem đã viết văn thư trình việc này với Vua Đa-ri-út (E-xơ-ra 5:6-17).  Khi đó, Tiên tri Đa-ni-ên là một trong ba vị quan thượng thơ cao nhất của Vua Đa-ri-út tại Babylon (Đa-ni-ên 6:1-3).  Có lẽ bởi sự cố vấn của Tiên tri Đa-ni-ên, Vua Đa-ri-út đã cho phép người Do Thái tiếp tục xây dựng Đền Thờ. Vua đã ra lệnh cho các viên chức địa phương không được quấy nhiễu người Do Thái, ngược lại các viên chức địa phương có trách nhiệm phải cung cấp tài chính và vật liệu cho việc xây cất Đền Thờ.  Hơn thế nữa, họ phải cung cấp những nhu cầu của Đền Thờ để dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời mỗi ngày.  Ai bất tuân sắc lệnh của vua sẽ bị xử tử (E-xơ-ra 6:1-13).

Kinh Thánh cho biết sau đó người Do Thái tiếp tục công việc xây cất Đền Thờ.  Họ hoàn tất công việc xây lại Đền Thờ vào ngày ba của tháng A-đa trong năm thứ sáu đời Vua Đa-ri-út (E-xơ-ra 6:14-15), tức là năm 516 TC – đúng 70 năm sau khi Đền Thờ do Vua Sa-lô-môn xây dựng bị hủy phá vào năm 586 TC (II Các Vua 25:8-12). 

Đức Chúa Trời là Đấng Thành Tín.  Bằng những phương pháp thật diệu kỳ Ngài đã sắp đặt nhiều người, tại nhiều nơi, qua nhiều cách khác nhau để thực hiện lời hứa của Ngài đó là Ngài sẽ đem người Do Thái trở về quê hương và tái lập Đền Thờ sau 70 năm như Ngài đã hứa (Giê-rê-mi 29:10-14).              

Phước Nguyên
Tháng 7/2020

Thư Viện Tin Lành (2020)
www.thuvientinlanh.org

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top