Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 7.b

Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 7.b

jib

Giám Mục Ding Guangxu

Nam Kinh, nơi Amity Foungdation đặt văn phòng, là một trung tâm hoạt động của Phong Trào Tam Tự trong hơn nửa thế kỷ qua; mặc dầu tổng hành dinh của tổ chức ở Thượng Hải.  Nam Kinh là quê hương của một hội thánh quốc gia hoàn toàn thuận phục chính quyền Cộng Sản.  Quan trọng hơn nữa đó là nhà của một nhân vật được nhiều người Cơ Ðốc quốc tế biết đến.  Giám Mục Ding Guangxu (còn được biết là Giám Mục K.H. Ting) là Viện Trưởng Viện Thần Học Tổng Hợp Nam Kinh (Nanjing Union Theological Seminary) trong nữa thế kỷ qua.

Dầu chính thức về hưu khi được 85 tuổi, Ding vẫn giữ chức Chủ Tịch Danh Dự của Hội Ðồng Tin Lành Trung Quốc, và là Tổng Thư Ký tổ chức song sinh đó là Phong Trào Tam Tự Ái Quốc.  Hai nhóm này thường được gọi là “hai ủy ban” trong tiếng Hoa, điều này cho biết là các chức phận của hai tổ chức này chồng chéo nhau.  Bây giờ ông đã được 94 tuổi và vào tháng 8 năm 2006 tin tức cho biết là ông đã nằm bệnh viện trong khoảng một thời gian dài.

Ding Guangxu là một nhân vật bí ẩn, và là một nhân vật được nhiều người bàn luận đến.  Trong hồi ký của Vương Minh Ðạo, tác giả mở đầu cuốn sách với cuộc đàm thoại giữa một phóng viên Tây Phương và một “Cơ Ðốc nhân khôn ngoan tại Bắc Kinh” trong khoảng thời gian gần đây.  Người Cơ Ðốc tại Bắc Kinh nói với nhà phóng viên.  “Hiểu hai người thì ông sẽ hiểu Cơ Ðốc giáo tại Trung Quốc.”  Hai người nào?” Phóng viên hỏi. “Vương Minh Ðạo và K.H. Ting.” (5)

Một Bí Ẩn

Ðã 94 tuổi, Ding vẫn là một bí ẩn.  Theo ý kiến của hầu hết các nhà lãnh đạo hội thánh và tín hữu tư gia, ông ta không phải là một Cơ Ðốc nhân, nhưng là một người Mác-xít, đã nhiều lần theo nhà chính quyền Cộng Sản, phản bội giáo hội.  Ðối với các người ngưỡng mộ ông, ông là người đã hoạt động nhiệt tình để cho Cơ Ðốc Giáo Trung Quốc có một chỗ đứng dân sự trong một quốc gia mà tôn giáo đã bị loại bỏ trong các thập niên 1950 và 1960; khi các khuynh hướng chính trị quá khích tại Trung Quốc xoay từ thái cực này sang thái cực khác.           

Các người chỉ trích Ding rất lớn tiếng.  Một trong các tín hữu kỳ cựu tại Hà Nam nói một cách thẳng thắn, ông bảo: “Tôi không nghĩ ông ta là một tín hữu.  Nhiều dữ kiện chứng tỏ ông Ding là một đảng viên Ðảng Cộng Sản.  Khi Giang Trạch Dân nắm chính quyền, ông nói với ông Ding.  ‘Ðồng chí Ding, làm thế nào chúng ta quản lý các Cơ Ðốc nhân.’  Nhiều ủy viên Ðảng Cộng Sản địa phương đã hỏi làm thế nào chúng ta có thể đối phó với Cơ Ðốc nhân vì họ qúa nhiều.  Ding trả lời: “Ðồng chí không thể nào dập tắc họ được. Tôi đề nghị đồng chí đem Hội Thánh thầm lặng ra khỏi thầm lặng.  Khi họ ra công khai, chúng ta có thể giết họ.”  Ding không có đức tin.  Ông ta không tin Chúa Giê-xu đã trở thành người, hoặc Ngài đã sống lại, hoặc Chúa Giê-xu sẽ trở lại.  Ông ta không nhấn mạnh Thập Tự Giá, hoặc sự cứu chuộc của Chúa Giê-xu qua huyết của Ngài.  Ding không phải Cơ Ðốc Nhân, ông ta là một người kiểm soát tôn giáo của chính quyền.  Làm thế nào ông có thể là một Cơ Ðốc Nhân?  Chúng ta có thể nghe nhiều lời phán đoán tương tự đến từ các Hội Thánh Tư Gia tại Trung Quốc.                

Về con người, Ding có vẻ là một người nhân hậu – một ấn bản Trung Quốc của một người Anh giáo vào thế kỷ 19 trong các cuốn tiểu thuyết Barchester của Anthony Trollope.  Ông có một nụ cười tươi, một mái tóc bạc ấn tượng chải thẳng từ trán cho đến phía sau đầu.  Tại nơi công cộng, ông tỏ ra rất khiêm tốn và nhẹ nhàng; ít khi ông lớn tiếng. Ông nói tiếng Anh giỏi, nhiều lúc ông chỉ trích chính mình, Hội Tam Tự và nhà cầm quyền đang kiểm soát tôn giáo tại Trung Quốc.  Ông bày tỏ lòng nhân ái đối với các Cơ Ðốc nhân, cả Trung Quốc lẫn ngoại quốc.  Tại Bắc Kinh, một người khắc gỗ không tìm được nơi nào để bán những hình ảnh Kinh Thánh mà ông đã khắc trên gỗ.  Ding gọi mấy cú điện thoại và vấn đề được giải quyết ngay.  Mục sư Elyn Mclnnis trước kia là mục sư của hội chúng nói tiếng Anh  của Hội Thánh Good Shepherd tại Bắc Kinh, là nơi thờ phượng cho người ngoại quốc theo khuynh hướng truyền thống.  Cô học tại một chủng viện Hoa Kỳ để chuẩn bị phong chức, và chính Giám Mục Ding đã sắp xếp cho cô được phong chức tại Trung Quốc.

Có lúc Ding thay mặt cho cộng đồng Cơ Ðốc tại Trung Quốc nói chuyện với chính quyền.  Năm 1998, khi chính quyền tỉnh Quảng Ðông ra luật bắt tất cả các tổ chức hội thánh đăng ký hoặc giải tán, mục đích nhắm vào Mục sư Samuel Lamb.  Ding viết một bức thư cho Ban Tôn Giáo tại Bắc Kinh ủng hộ quan điểm của Samuel Lamb từ chối đăng ký.  Ông nói: “Nếu Lin không chống lại Ðảng và xã hội chủ nghĩa, và không làm gì bất hợp pháp, và cũng không cộng tác với các thế lực thù nghịch chống lại Trung Quốc, ông ta có quyền tổ chức hội thánh của ông.” (6)

Khi Ban Tôn Giáo huy động lực lượng tại Ôn Châu vào mùa Hè năm 2002 đóng cửa các lớp Trường Chúa Nhật dành cho trẻ em tại một số hội thánh.  John Pomfret viết trong báo Washington Post là bốn mục sư tại Ôn Châu đã gặp Ding để phản đối.  Ðể đáp ứng, Ding đã viết thư cho Hội Ðồng Tham Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc, một tổ chức không có quyền, gồm các đại diện không đảng viên, cho rằng không thể nào có thể cấm trẻ em dưới 18 tuổi đi vào nhà thờ.  Thư của ông Ding đã giúp trong việc thả tự do cho Mục sư Cheng Guogang, là người đã bắt đầu các lớp Trường Chúa Nhật tại các nhà thờ mở tại Ôn Châu vào năm 1990. (7)

Chắc chắn là Ding, dầu là một Giám mục Tin Lành Anh và là phát ngôn viên quốc tế quan trọng nhất của Cơ Ðốc Giáo Trung Quốc, không thoải mái với ý tưởng truyền giáo – vốn là mục đích không ngừng của các Hội Thánh Tư Gia trong nhiều thập niên từ lúc ông bắt đầu sự nghiệp với tổ chức Tam Tự.

Tôi có cơ hội hỏi Giám Mục Ding khi ông thăm New York vào năm 1979. Biết rằng chính quyền luôn luôn theo dõi và bắt bớ các Hội Thánh Tam Tự nếu hội viên nào trong hội thánh tìm cách truyền giáo – bởi vì lúc đó hội thánh vừa ra khỏi sự áp chế của cuộc Cách Mạng Văn Hóa trong các năm 1966-1976 – tôi đã hỏi ông Ding: “Tại sao Cơ Ðốc Nhân tại Trung Quốc không được truyền giáo rộng rãi và tự do bất cứ nơi nào họ muốn?  Tại sao chỉ có thể truyền giáo trong nhà thờ?” “Còn nơi nào nữa?”  Ông hỏi lại với vẻ ngạc nhiên. “Trên đường phố chẳng hạn hoặc tại bến xe buýt.”  “Tại bến xe buýt!”  Ông thốt ra với giọng điệu của một Giám mục Anh trong tiểu thuyết của Trollope, với ý là người đàng hoàng không bàn luận về vấn đề tôn giáo tại một nơi thiếu phẩm chất như bến xe buýt.

Lập tức tôi nhớ đến câu chuyện trong vở kịch The Importance of Being Ernest của Oscar Wide khi Lady Blackwell biết là Jack Worthing, người muốn cưới Gwendolyn con gái của Lady Blackwell, không giải thích được nguồn gốc gia đình mình vì anh ta được người ta lượm trong một cái bao tại trạm xe điện ngầm Victoria Station ở Luân Ðôn.  Trong khung cảnh hài hước của kịch trường Anh Quốc Lady Blackwell la lên với phẫn nộ “Trong một cái bao!”  Bishop Ting nói về ước muốn của các nhà thờ tư gia truyền giáo cho quốc gia của ông “Từ trạm xe buýt!” cũng gợi lên một sự giận dữ tương tự.

Người Cộng Sản Hay Cơ Ðốc Nhân

Vai trò thường được bàn cãi của Giám Mục Ding trong Cơ Ðốc giáo tại Trung Quốc vượt hẳn cách hành xử theo truyền thống Anh giáo.  Nghi ngờ về ông không phải là một tín đồ song là một đảng viên bí mật của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc bắt nguồn hàng thập niên trước từ khi ông trở thành một nhân viên quan trọng.

Ding sinh ra trong một gia đình Cơ Ðốc tại Thượng Hải vào năm 1915 và vào thập niên 1930 ông là sinh viên của Trường Ðại Học nổi tiếng St. John’s University do Giám Mục Anh giáo Thượng Hải thành lập vào năm 1879.  Năm 1937 Nhật chiếm Trung Quốc và đẩy quốc gia này vào cuộc tranh chiến tàn khốc.  Sinh viên tại Thượng Hải công phẫn trước một nỗi nhục quốc thể nữa. Các nhóm đảng viên Cộng Sản được gài vào trong các trường đại học tại Thượng Hải. Ðảng viên Cộng Sản bí mật hoạt động tại Ðại học St. John.  Có thể Ding biết họ và có thể là ông đã trở thành một Ðảng viên bí mật trong tuổi 20 khi còn là sinh viên tại Ðại Học St. John.  Nhưng sau 7 thập niên tài liệu về Ðảng vẫn còn giữ kín và không được công bố cho công chúng.  Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tại Thượng Hải cho biết, gần như chắc chắn, là Ding đã từng làm Ðảng viên trong thập niên 1940.

Mục sư và viên chức của giáo hội Tam Tự làm Ðảng viên Ðảng Cộng Sản Trung Quốc là điều bình thường, một hiện tượng được thể hiện trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa.  Li Chuwen, mục sư của Hội Thánh Quốc Tế tại Thượng Hải, là một trong các chức viên quan trọng của Hội Thánh Tam Tự.  Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, ông bị Hồng Vệ Binh tấn công vào năm 1966.  Trong một cuộc đấu tố, để tránh bị trừng phạt, mục sư đã cho Hồng Vệ Binh bằng chứng ông là Ðảng Viên Ðảng Cộng Sản.  Ông ta được tha không bị hình phạt.  Sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa, ông ta đi từ địa vị này đến địa vị khác của Thượng Hải và vào các năm đầu của thập niên 1980 ông được chuyển đến cơ quan Thông Tấn Xã Trung Quốc Mới.  (New China News Agency, the NCNA) cũng được gọi là Xihua tại Hồng Kông, và được làm việc với tòa Ðại Sứ Trung Quốc tại Hồng Kông như là một chức viên không chính thức khi Hồng Kông còn ở dưới sự quản trị của Anh Quốc.

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2002 tại Nam Kinh, Bishop Ding chối là chưa bao giờ làm đảng viên Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, và cũng không phải là đảng viên bí mật như Li Chuwen.

Ðiều nhiều người chưa biết là từ 1947-1949, Ding là sinh viên tại Chủng viện Union Theological Seminary tại New York. New York vào lúc đó là nơi tụ họp các sinh viên Trung Quốc có khuynh hướng thần học cấp tiến (Danh từ năm 1930 dành cho các người này ngày nay gọi là khuynh hướng “tự do – Liberal”).  Nhiều người Tin Lành giữ vai trò quan trọng trong công tác thích ứng giáo hội Trung Quốc với lý thuyết Cộng Sản đã từng theo học tại Union Theological Seminary.

V.T.WU – Vũ Gia Trung

Người quan trọng nhất trong những người này là Y.T. Wu, thầy của Ding.  Wu sinh ra trong một gia đình ngoại đạo ở Quảng Ðông và không chú tâm gì đến Cơ Ðốc giáo cho đến khi ông lên 20 tuổi, khi ông theo học Ðại học Hải Quan tại Bắc Kinh.  Một Giáo sĩ Mỹ làm báp têm cho ông vào năm 1918.  Hai năm sau ông được đề cử làm thư ký cho Sinh Viên Vụ của tổ chức YMCA tại Bắc Kinh.  Tổ chức này trở nên nền tảng cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp của ông.

Năm 1924, lúc 34 tuổi ông đến Hoa Kỳ bắt đầu chương trình học tại Union Theological Seminary tại New York.  Ông chuyển qua Columbia University và vào năm 1927 tốt nghiệp với học vị Thạc sĩ (M.A) với luận án về William James, một triết gia Mỹ nổi tiếng và cũng là một lý thuyết gia giáo dục, chịu ảnh hưởng của các người Tin Lành tự do.  Luận án của ông Wu có đề tựa là: “Quan Điểm Của Willam James Về Niềm Tin Tôn Giáo.”

Chủng viện này trong thập niên 1920 là trung tâm của những người Tân Phái tranh đấu chống lại những người theo khuynh hướng chính thống để kiểm soát các hệ phái Tin Lành.  Những người theo khuynh hướng chính thống được nhiều người biết qua một loạt sách nhỏ xuất bản từ năm 1915 và các năm tiếp theo với đề tựa là “Những Tín Lý Căn Bản.”  Các sách “Những Tín Lý Căn Bản” này bênh vực giáo lý Cơ Ðốc căn bản như tính cách vô ngộ của Kinh Thánh, sự nhập thể, sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh, sự phục sanh thể xác của Chúa Giê-xu, sự chuộc tội thay thế – là tín lý về Đức Chúa Giê-xu chết thay trên thập tự để cả nhân loại được thoát khỏi án phạt của Ðức Chúa Trời – về tội lỗi của cả thế gian, sự tái lâm của Chúa Giê-xu…  Những người Tân Phái – ngày nay gọi là tự do hay tiến bộ – không tin điều gì siêu nhiên trong Kinh Thánh, và nghĩ là các giáo lý của Cơ Ðốc giáo phải được hội nhập với kiến thức mới của lịch sử, văn hóa và những khám phá của khoa học.

Wu chấp nhận quan điểm Tân Phái như là vũ trụ quan Cơ Ðốc của ông.  Bản chất nghi ngờ của ông về cái gì có vẻ siêu nhiên sửa soạn cho tư tưởng của ông vào thập niên 1930.  Năm 1937, ông công khai ủng hộ những người Cộng Sản Trung Quốc (những người này chống lại những người quốc gia, hay Quốc Dân Ðảng từ năm 1923) và gia nhập tổ chức thiên cộng Liên Hiệp Phòng Thủ Trung Quốc.  Cũng có thể trong khoảng thời gian nào đó, Wu đã gia nhập Ðảng Cộng Sản như là một đảng viên bí mật.

Theo George N. Patterson, người đã từng là giáo sĩ tại Tây Tạng và có quen biết một người hồi chánh từ Ban Tôn Giáo hiện sống tại Hồng Kông cho biết là cả Wu và Zhao Puchu, người trở thành chủ tịch Hội Phật Giáo Trung Quốc, là những đảng viên bí mật của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, và từ năm 1940 nhận lệnh từ những nhà lãnh đạo Ðảng tại Bắc Kinh (8).

Song nếu không phải là đảng viên, ông bày tỏ qua hành động và lời nói là ông tin tưởng hoàn toàn lý thuyết Mác-Lê, mà ông gọi Cộng Sản là số mệnh không những của Trung Quốc song của cả nhân loại.  Vào năm 1948, ông viết bài “Thảm Họa Ngày Nay Của Cơ Ðốc Giáo” trong báo Thiên Phong (Tạp chí do ông thành lập vào năm 1945).  Trong bài báo này ông quở trách Cơ Ðốc Giáo là đã đồng hóa với tư bản, ông lý luận là giá trị cơ bản của Cơ Ðốc giáo là một đức tin hợp lý cung cấp động lực lo làm việc lành.” (9)

Theo Wu, nguyên tắc thật của Cơ Ðốc giáo thể hiện qua tiến bộ xã hội, và rõ ràng nhất là qua các làn sóng cách mạng đang lan tràn khắp Trung Quốc.  Tại nơi khác ông nhấn mạnh: “Vì Cộng Sản thực hiện những gì Cơ Ðốc giáo chỉ nói, Cơ Ðốc Nhân không có quyền chỉ trích Cộng Sản cho đến khi họ thực hiện điều họ tin.” (10)

Cộng Sản sắp chiếm Trung Quốc, song họ chưa làm được.  Nhiều người phản ứng giận dữ chống lại các lời ca ngợi hoàn toàn ủng hộ chế độ sắp đến của Wu.  Wu bị ép từ chức với tờ báo Thiên Phong, song ông tiếp tục dùng Tin Lành để ủng hộ chế độ mới củng cố quyền lực trong cả nước.

Mao Trạch Ðông đã hoàn tất chiến thuật tổ chức các người ủng hộ cách mạng Cộng Sản thành “Mặt Trận Chống Nhật” để chống lại các người phản đối và dụ dỗ những người không có ý kiến.  Ðảng Cộng Sản đã từng có, và vẫn có, một tổ chức nhằm kiểm soát, hướng dẫn mọi bộ phận xã hội, kể cả tôn giáo, là thành phần thường không thuộc về chính trị.  Tổ chức này được gọi là Mặt Trận Thống Nhất.  Từ năm 1949, Mặt Trận Thống Nhất đã phát triển các ý tưởng là làm sao chế độ có thể kiểm soát tôn giáo tại Trung Quốc.  Từ năm 1951, đường lối của Mặt Trận Thống Nhất được Ban Tôn Giáo áp dụng và thực hiện.

Ðể hiểu cách nào Giáo hội quốc gia tại Trung Quốc được chế độ xử dụng là quan sát cách Y.T. Wu và Giám mục Ding đã quản lý Tin Lành và cô lập hóa cũng như loại bỏ những người đối kháng chế độ độc tài đảng trị của Ðảng Cộng Sản và hăm dọa tất cả người khác.

Năm 1949, với chức vụ chính là Giám đốc Báo Chí cho tổ chức YMCA tại Thượng Hải, dưới tên “Associated Press” (Tổ chức này không có liên hệ gì đến thông tấn cùng tên nổi tiếng tại Hoa Kỳ), Wu đi nhiều nơi trên thế giới để tham dự các “Hội Nghị Hòa Bình”, các hội nghị có khuynh hướng Cộng Sản.  Một trong các hội nghị này được tổ chức tại Prague.  Prague bị Cộng Sản chiếm vào năm 1948 sau khi Cộng Hòa Czechoslovakia bị chiếm.  Tháng 9 năm 1949, Wu trở lại Bắc Kinh, một tháng trước khi Mao Trạch Ðông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại quảng trường Thiên An Môn vào ngày 1 tháng 10 năm 1949.  Wu tham dự đại hội được Ðảng Cộng Sản tổ chức, Ðại hội của Hội Ðồng Tham Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc, cùng với 4 đại biểu khác được chỉ định làm đại diện cho Tin Lành.

Wu đã trải qua các tiến hóa về tư tưởng từ ngày sống ở New York năm 1937, khi ông là một người cấp tiến.  Ông chịu ảnh hưởng của nhà thần học Tin Lành Reimhold Niebuhr.  Ông cổ võ cho quan điểm là chính trị phải là một trong những cố gắng của con người để thay đổi xã hội và cuộc Cách Mạng Cộng Sản tại Trung Quốc vào năm 1949 là một trong các cố gắng đó.

Tháng 7 năm 1951, báo Thiên Phong in “Lời Tự thuật” của Wu, một mô hình bày tỏ sự chuyển đổi qua tư tưởng Cộng Sản sau khi một người trải qua học tập cải tạo.  Trong bài tự thuật, Wu xưng nhận trước kia trong những năm đầu của đời sống Cơ Ðốc, ông là người chống cộng, nhưng bây giờ một năm sau khi Cộng Sản cướp chính quyền, ông thấy tận mắt “với chính mắt của ông những thành quả của Ðảng Cộng Sản trong việc xây dựng một Trung Quốc mới.”  Ông nói: “Điều này không những làm tăng đức tin của tôi trong sự thán phục Ðảng Cộng Sản, nhưng cũng giúp tôi thay mặt cho dân chúng Trung Quốc bày tỏ lòng kính mến không bờ bến đối với Ðảng.” (11)

Người Cộng Sản, Wu xác nhận đã dạy cho tôi ý nghĩa thật của điều răn: “Yêu kẻ thù” (để chỉ lời dạy của Chúa Giê-xu trong Ma-thi-ơ 5:44).  Ông giải thích là chính họ đã chứng minh là không cần phải đưa má bên kia cho những gì sai trái, nhưng chống lại điều đó.  Ông nói họ đã làm điều đó khi tấn công quân Nhật xâm chiếm Trung Quốc, song họ đã đối đãi với các tù binh Nhật với lòng từ tâm.  Chủ nghĩa bất bạo động mà Wu trước đó đã ủng hộ, là một thuốc phiện của đế quốc để giữ các dân bị áp bức yên lặng.”  Vấn đề khẩn cấp đối với Trung Quốc và cho cả thế giới, bây giờ ông nghĩ, là diệt Ðế Quốc, ông cho “Ðế quốc là kẻ thù sống chết của thế giới.”  Ông nói là “Ðế quốc phải bị hủy diệt trước khi thế giới được hòa bình, tự do và thịnh vượng.”  Ông biết chắc là “Cộng sản, xã hội chủ nghĩa và dân chủ sẽ là nền tảng của một xã hội chủ nghĩa mới.” (12)  Còn Cơ Ðốc giáo, theo ông “Ðảng Cộng Sản đã cho thấy là Cơ Ðốc giáo có bản chất của một giai cấp xã hội.” (13)

Ông nói rõ là bây giờ ông tin chủ nghĩa duy vật là triết lý sống thật.  Ông không bao giờ giải thích là làm thế nào ông có thể vẫn là một Cơ Ðốc nhân mà Cộng Sản cho là “duy tân” và là người “duy vật” mà các điều họ tin hoàn toàn chống lại tôn giáo.

Ông viết “Trong 30 năm qua đời tôi đã có hai kinh nghiệm thay đổi về tư tưởng.  Thay đổi thứ nhất là trở thành Cơ Ðốc nhân, từ nghi ngờ đến đức tin.  Thay đổi thứ hai, chấp nhận triết lý duy vật chống tôn giáo, và pha trộn nó với tín ngưỡng tôn giáo.” (14)

Wu là thí dụ cổ điển của người bắt đầu với một hệ thống tín lý (quan điểm tân phái của Cơ Ðốc giáo từ chối các hiện tượng siêu nhiên trong Cơ Ðốc giáo như sự phục sanh của thân thể, sự hoài thai của trinh nữ Mary, và được dẫn đến một thách thức với những tín lý này (sự hỗn loạn, bất công, và bạo động tại Trung Quốc trong thập niên 1930, 1940) rồi đến lòng tin nơi một triết lý hoàn toàn mới (triết lý Cộng Sản).

Từ năm 1930, Wu hoàn toàn sẵn sàng cộng tác với Cộng Sản bất cứ lúc nào.  Ông gặp Chu Ân Lai, phụ tá hàng đầu của Mao Trạch Ðông vào năm 1943, liên hệ mà sau này giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập Phong Trào Tam Tự.  Chu Ân Lai cũng góp phần trong việc đưa ra bản “Tuyên Ngôn Cơ Ðốc.”

Tuyên Ngôn Cơ Ðốc

Tháng 5 năm 1950, Y.T. Wu đã họp với Chu Ân Lai ba lần chỉ trong 11 ngày.  Lúc bấy giờ, Chu Ân Lai đã xuất hiện như là Thủ Tướng mới của Trung Quốc và là một nhà ngoại giao có tài.  Cả Chu và Wu hiểu là tấn công Cơ Ðốc Giáo toàn diện sẽ đem lại kết quả tai hại trong nước cũng như ngoài nước.  Chu nhận biết là những chủ trương của Mặt Trận là phải tái định nghĩa đức tin.  Wu hiểu rõ những thách thức về giáo lý của công tác này.  Tin Lành duy nhất được chấp nhận tại Trung Quốc là Tin Lành được xem như là “chống đế quốc” – có nghĩa là chống Mỹ, và ủng hộ một Trung Quốc mới, Liên Bang Xô Viết và tất cả những gì Ðảng Cộng Sản cho là cần thiết để kiểm soát quốc gia.

Vào tháng 7 năm 1950, một tài liệu được phát hành và được nhiều người biết là “Tuyên Ngôn Cơ Ðốc.”  Tuyên Ngôn ngắn này, chỉ 1000 chữ Hán nêu rõ ràng công tác mà người Tin Lành phải thực hiện.  Bản Tuyên Ngôn đòi hỏi người ký phải công nhận là trong 140 năm hiện diện của công cuộc truyền giáo Tin Lành tại Trung Quốc, “Cơ Ðốc Giáo đã ý thức, hoặc vô ý thức, gián tiếp, hoặc trực tiếp, quan hệ với chủ nghĩa đế quốc. (15)  Trong phần “Công Tác Tổng Quát” có nói:

Các hội thánh và tổ chức Tin Lành (phải) hoàn toàn ủng hộ “cương lĩnh chính trị chung” của [Ðảng Cộng Sản] và dưới sự lãnh đạo của chính phủ chống lại đế quốc, phong kiến, tư bản và góp phần trong cố gắng xây dựng một Trung Quốc mới độc lập, dân chủ, hòa bình, thịnh vượng và hùng cường.” (16)

Trong phần tiếp theo dưới đề tựa là “Mục Tiêu Căn Bản,” tuyên ngôn nêu rõ là các hội thánh Tin Lành phải dấn thân vào chiến dịch tuyên truyền chính trị để giúp cho Cộng Sản kiểm soát đất nước.

Các nhà thờ và tổ chức Tin Lành tại Trung Quốc phải cố gắng, dùng mọi cách làm cho tín hữu trong hội thánh ở mọi nơi ý thức tội ác mà đế quốc đã làm tại Trung Quốc, biết rõ là trong quá khứ đế quốc đã lợi dụng Cơ Ðốc giáo, loại trừ mọi tàn tích của đế quốc và cảnh giác chống lại đế quốc đặc biệt là đế quốc Mỹ trong âm mưu dùng tôn giáo để phát triển các thế lực phản động. (17)

Những hàm ý trong bản Tuyên Ngôn này rất rõ ràng: hình thức Tin Lành tại Trung Quốc dưới sự kiểm soát của Cộng Sản là một hình thức quá khích thiên tả, hoàn toàn tân phái trong các vấn đề mà những người Căn Bản và Tin Lành thuần túy không đồng ý.  Không những trên quan điểm phán đoán chính trị mà còn trên quan điểm về sự khác biệt của tín lý thuần túy chính thống.

Một bài trong báo Thiên Phong với đề tựa “Làm Thế Nào Để Tổ Chức Một Buổi Tố Khổ” cho thấy chiến thuật tàn ác thiên cộng của Y.T. Wu và cộng sự.  Buổi họp phải được sửa soạn kỹ, báo cáo cho biết với tất cả các “bằng chứng” chống lại các đối tượng Cơ Ðốc đã được tính toán và tổ chức kỹ.  Theo sau đó là một thời gian những người nói xấu nói tốt đứng lên “Sắp xếp trật tự của những người tố cáo rất quan trọng.  Họ phải được sắp xếp như sau:  Tố cáo mạnh, giảm bớt, tố cáo mạnh hơn.  Chỉ khi nào những điều này được hoàn tất thì cuộc tố khổ mới thật sự thành công.”  Bài báo nói. (18)

Sự hăm dọa và áp chế các Cơ Ðốc Nhân như thế này là điều không thể tưởng tượng được.  Nếu một Mục sư hay tín hữu chống lại Bản Tuyên Ngôn thì người đó bị tố là “không yêu nước” và có thể bị làm nhục giữa công chúng trong các buổi đầu tố cho đến khi ông ta đổi ý kiến.  Không một người trong đám lãnh đạo Phong Trào Tam Tự từng bày tỏ một chút hổ thẹn trong cách họ đối xử tàn bạo đối với người Cơ Ðốc đồng đạo.  Những người này tiến thân trong tổ chức Tam Tự trong thập niên 1950.

Bản Tuyên Ngôn được công bố vào tháng 7 năm 1950 và vào tháng 9, chiến tranh Triều Tiên bắt đầu và hệ thống tuyên truyền của Trung Quốc chống lại “Ðế Quốc Mỹ” càng ngày càng mãnh liệt.  Không ủng hộ “Dân Chủ Mới” của Trung Quốc là kẻ thù của Trung Quốc và là phản động.  Trong vòng hai năm, ước đoán có 400.000 người Tin Lành, vào khoảng nửa số tín hữu Tin Lành tại Trung Quốc đã ký vào bản tuyên ngôn.  Con số này có vẻ giả tạo.  Tại vài nơi trong nước, một số các nhà phân tích Hội Thánh Lutheran cho biết là số người Lutheran ký vào bản Tuyên Ngôn hơn cả con số tín đồ Lutheran thật (19).

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top