Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 6.a

Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 6.a

jib
Chương Sáu
Các Chủng Viện

Huấn Luyện Một Thế Hệ Mới

Nhìn qua cửa sổ từ một chiếc xe tải nhỏ, mui bọc thiết để cư dân trong làng hay những người công an tò mò không để ý đến anh ngoại quốc mũi lõ đang hướng theo con đường mòn đi vào trung tâm của miền quê Trung Quốc.  Tôi thấy mình đang đi ngang qua những khu dân cư vẫn còn những câu khẩu hiệu của thời Cách Mạng Văn Hóa 1966-1976 “Hãy dương cao ngọn cờ tư tưởng của Mao Chủ Tịch!” “Từ bỏ Lâm Bưu và Khổng tử” và “Mao Chủ Tịch Muôn Năm!”  Cũng có những dấu hiệu của sự tiêu thụ hàng hóa đang nổi lên tại Trung Quốc: nhiều cửa hàng bày bán những quạt điện đủ kiểu.  Nhưng nhìn chung, chúng tôi đang tiến sâu vào trung tâm của Trung Quốc cổ, “Trung Hoa Lục Địa” của Hudson Taylor hơn một thế kỷ trước.

Cảnh đồi càng trở nên dốc hơn và những bụi tre càng xanh tốt hơn.  Cuối cùng, chúng tôi tách từ đường lớn để đi vào đường xi-măng của làng dẫn vào rất xa trong rừng rậm.  Một dòng suối trong như pha lê chảy song song với đường đi, đem lại tươi mát cho đám ve ve và những con chim đang quay quần bên nhau khi chúng tôi bước ra khỏi chiếc xe tải.  Chúng tôi đã đi đến cuối con đường làng bằng xi-măng và phải đi bộ để tiếp tục hành trình còn lại.

Một nhóm thanh niên nam nữ đến chào chúng tôi bằng những nụ cười và dẫn chúng tôi đi xa hơn vào trong rừng sâu.  Con đường mòn đã được sửa sang khéo léo với những viên đá lốt như những bậc thang chạy dọc theo con suối, tạo cho người đi dễ dàng leo lên đồi.  Những bụi tre mọc càng dày hơn và cây cối bên dưới càng sum suê hơn.  Nó gợi lại hình ảnh những rừng tre trong chuyện phim đoạt giải năm 2000 Ngọa Hổ Tàng Long, anh hùng Lưu Thái Bảo, do Châu Nhuận Phát đóng, xuất hiện lênh đênh một cách điêu nghệ từ bụi tre này đến bụi tre khác.

Sau chừng nửa dặm leo đồi dốc quanh co chạy theo con suối, chúng tôi đã đến nơi: một ngôi nhà hai tầng kiên cố mặt hướng về phía thung lũng và có vẻ nơi đây đang diễn ra nhiều hoạt động.

Bỏ Lại Mọi Thứ

Chủng viện Em-ma-nu-ên là ngôi nhà dành cho những khóa huấn luyện sáu tháng, hoặc đôi khi lâu hơn, của ba mươi mốt thanh niên và ba mươi bảy thiếu nữ tuổi từ mười tám đến hai mươi sáu, được gửi đến từ hơn tám mươi Hội Thánh Tư Gia trong vùng; và bởi những cộng đồng Tin Lành của mười tỉnh thành khác nhau ở Trung Quốc.

Chúng tôi đến đây vào giữa trưa, và những sinh viên đang trong giờ ăn trưa.  Họ được phục vụ trong bữa ăn với cơm, rau, và một dĩa thịt bò đơn giản – chén bát bằng kim loại, rồi đủa đưa qua đưa lại.  Những tiếng nói và tiếng cười xen lẫn vào nhau khi họ cùng đứng ăn chung quanh những cái bàn trên hành lang tầng hai hướng về phía thung lũng.  Hầu như cả mười giáo viên giảng dạy trọn thời gian ở đây đều có bữa ăn riêng của họ, trên bàn có ghế ngồi gần nơi nhà bếp.  Bốn người khách chúng tôi cùng ăn trưa với họ.

Ngay sau đó tôi được giới thiệu với hiệu trưởng của chủng viện, một người đàn ông Trung Quốc với dáng vẻ chín chắn tuổi chừng ngoài năm mươi.  Ông giải thích rằng chủ nhân của căn nhà này là một người Trung Quốc hiện đang sống tại Hà Lan.  Ông là một Cơ Ðốc nhân và ông đã dâng căn nhà làm chủng viện.  Tất cả cư dân của làng này đều là những Cơ Ðốc nhân.  Cũng cần xác nhận rằng tất cả các hóa đơn tiền điện và việc mua thức ăn phải làm sao đó mà không tạo sự nghi ngờ cho chính quyền.

Viện Trưởng của chủng viện này, người mà tôi sẽ gọi là Chen, nói rằng tất cả học viên cũng như nhân viên tiêu thụ khoảng hơn 1.000 ký gạo mỗi tháng.  Học viên không được phép rời khỏi viện trừ trường hợp khẩn cấp từ gia đình hoặc phải đi ra chợ mỗi ngày để mua rau tươi.

Ông Chen nói chủng viện đã hoạt động được 5 năm rồi.  Chủng viện có vẻ như được lên kế hoạch và hoạt động tốt.  Khu phòng ở cho học viên nằm ở tầng ba được dọn dẹp ngăn nắp và sạch sẽ, chăn mùng được cuốn gọn gàng.  Khoảng sáu học viên ở chung một phòng, nam học viên ở những phòng cuối dãy đầu này của hành lang, và nữ sinh viên thì ở cuối đầu kia.

Sau giờ ăn trưa là lúc các học viên được nghỉ trưa, giờ giấc chặt chẽ và cần phải có lịch phân công.  Ông Chen mô tả những hoạt động thường ngày như sau:

5:40 AM.         Thức dậy và tĩnh nguyện cá nhân

5:40-6:40         Vệ sinh cá nhân

6:40-7:30         Ðọc Kinh Thánh

7:30-8:00         Ðiểm tâm

8:00-8:30         Học những bài hát thờ phượng mới

8:30-9:00         Bài học tiếng Anh

9:00-11:00       Những môn học buổi sáng

11:00               Ăn trưa và nghỉ trưa

1:00-2:00 p.m. Cầu nguyện chung

2:00-2:30         Phần ngợi khen và thờ phượng

2:30-3:00         Giờ học tiếng Anh

3:00-5:00         Những môn học buổi chiều

5:00-5:30         Ăn tối

5:30-6:30         Giặt đồ, giờ riêng tư

6:30-7:00         Phần ngợi khen và thờ phượng

7:00-9:00         Những môn học buổi tối

9:00-10:00       Vệ sinh cá nhân, giờ riêng tư, tắt đèn.

Chen giải thích rằng trong ba tháng đầu, chương trình học có sáu tiếng mỗi ngày, bao gồm những căn bản trong Thần Học Cơ Ðốc như sự cứu rỗi, Hội Thánh và Ðức Thánh Linh.  Ông nói những bài học về Ðức Thánh Linh thường được giảng dạy bởi các “bác” từ Hội Thánh Tư Gia vì nền thần học của chủng viện là theo ân tứ.  Những môn học khác như lịch sử hội thánh, lịch sử truyền giáo thế giới, và những môn học khác được giảng dạy bởi những giáo viên của viện, là những người đã từng là nhân sự trọn thời gian của Hội Thánh.

Tôi dành thì giờ nghỉ trưa còn lại thả bộ trong vườn rau nhỏ phía trên tòa nhà của chủng viện; ở đó tôi có thể vừa ngắm nhìn khung cảnh thật không thể tin được và biết được công tác chăm lo hậu cần của chủng viện.  Lúc quay lại thì giờ thờ phượng buổi chiều đã đâu vào đó và sáu mươi tám học viên đang hát loạt bài hát thờ phượng cách say sưa.  Các nam học viên ngồi trên chiếu ở phía bên trái của căn phòng chính và tràn ra cả ngoài hành lang.  Nữ học viên thì ngồi bên phải trong năm hay sáu hàng như các nam học viên.  Phía bên trên, có một học viên đang ngồi canh giờ và giữ nhịp theo cây đàn organ Yamaha.  Từng hàng một, hết hàng nam rồi đến hàng nữ, cứ như vậy tiến lên trên và quay xuống những học viên còn lại và rồi hướng dẫn mọi người trong sự thờ phượng.  Việc vỗ tay hay đưa tay lên thể hiện sự nhiệt tình thật sự của họ.  Tôi đã lén nhìn để xem có học viên nào cảm thấy chán hay không tham gia, nhưng tôi không tìm thấy ai hết.

Tất cả học viên dường như thuộc lòng những bài hát.  Không có cuốn bài hát hay là máy chiếu bài hát nào ở đây.  Hết hàng này đến hàng khác tiến lên và về lại chổ ngồi trong sự thờ phượng cách tự nhiên.  Mỗi hàng khoảng năm hay sáu học viên, cứ tiếp theo những học viên trước đó, họ có thể bắt đầu một bài hát mà không cần lời giới thiệu hay giải thích và mời mọi học viên hát theo như cách họ thường làm.  “Trung Quốc, Trung Quốc, Hãy vùng lên, hãy vùng lên để chia xẻ Phúc âm vì Chúa yêu bạn” là một trong những bài hát.  Vì tôi đang có mặt tại đây, họ hát bài hát này đến hai lần, nhưng lần thứ hai thì họ thay lời, “Hoa Kỳ, Hoa Kỳ, hãy vùng lên, hãy vùng lên để chia xẻ Phúc âm vì Chúa yêu bạn.”  Ở phía sau căn phòng, có ba nữ giáo viên cũng nhảy múa, đưa tay lên và vỗ tay theo nhạc thờ phượng.  Ðiều này cho thấy họ cũng đang được phấn khích như các bạn học viên.  Bài hát trên là một trong những bài hát của chủng viện do Lục Tiểu Minh (Lu Xiaomin) sáng tác, một tác giả sáng tác rất nhiều bài hát.

Ðến phần học tiếng Anh theo như lịch hằng ngày, tôi được mời để nói chuyện và khi tôi nói tiếng Anh thì có người thông dịch đi theo giúp đỡ.  Họ muốn tôi nói về chủ đề gì?  Tôi hỏi.  Ông Chen trả lời, “Hãy kể cho chúng tôi về Giê-ru-sa-lem, cả về lịch sử như đã có trong Cựu Ước, rồi thời Chúa Giê-su, và cho đến ngày hôm nay.”

Ðây là một chủ đề khá dễ vì tôi từng sống ở Giê-ru-sa-lem khoảng hai năm vào những năm của thập niên 80 khi còn là trưởng phòng của tuần báo Time.  Tôi đã từng chịu trách nhiệm về truyện tranh ở bìa tạp chí của thành phố này, từng giảng dạy những môn học liên quan đến vấn đề Ả-rập – Y-sơ-ra-ên ở trường Ðại Học, và đã từng đến thăm thành phố này rất nhiều lần.  Tất cả các học viên đều lắng nghe cách chăm chú, đặt câu hỏi không chỉ về thành phố này hay người Ysơraên, nhưng còn về chính sách của Mỹ đối với Trung Ðông.  Có vẻ như họ không cập nhật những tin tức hằng ngày, nhưng họ đặt ra những câu hỏi thông minh – Ví dụ, muốn biết việc liệu Nhà Trắng có ủng hộ ý tưởng về một nhà nước Palestine hay không.

Chen bảo tôi không phải là người ngoại quốc đầu tiên đến viếng thăm, trước đó đã có hai người Mỹ tại một hội thánh khác thường đến để giúp giảng dạy cho những mục sư thuộc thế hệ mới của Trung Quốc.  Một vài người Ðại Hàn và Hoa Kiều cũng có ghé thăm và giảng dạy trước đó.  Rất nhiều “Bác” và “Cô” có tiếng như Trương Dung Lương (Zhang Ronglian) và Ðinh Hải (Ding Hei) trong số họ cũng đã đến chủng viện này để dạy hay kể chuyện về những cuộc đời nguy hiểm của họ.

Nhân viên của Em-ma-nu-ên tổng cộng là hai mươi sáu người, kể cả những giáo viên, những người giúp nấu ăn và một số người khác.  Tỉ số sinh viên nam nữ ở đây là sáu trên bốn, cân bằng hơn trong Hội Thánh.  Các học viên học tại viện khoảng sáu tháng, rồi đi thực tập khoảng ba tháng, và rồi có một số sẽ quay lại thêm sáu tháng nữa.  Mỗi học viên kết ước phục vụ trọn thời giờ trong mục vụ với những Hội Thánh Tư Gia và tất cả đều trải qua quá trình chọn lựa cạnh tranh vì số người nộp đơn nhiều hơn với khả năng tiếp nhận của viện.  Có hai sinh viên từ khóa mùa Hè năm 2002 được sắp xếp để bay sang Singapore học về mục vụ Cơ Ðốc tại một trong nhiều hội thánh phát triển tại đó.

“Ân điển của Chúa thật quá lớn, tôi muốn đền đáp, tôi muốn rao giảng Phúc Âm.” Wang Ailan, một nữ học viên độ hai mươi ba tuổi đã nói như vậy.  Xu Daoye, một nam học viên chừng mười tám tuổi nói khi mười lăm tuổi anh ta đã muốn kết liễu cuộc đời mình, nhưng anh đã tìm được niềm tin và niềm tin đã thay đổi cuộc đời của anh.  Ba của anh ta là một chấp sự trong một Hội Thánh Tư Gia còn mẹ là một người phụ trách mục vụ cũng tại hội thánh này.

Tôi hỏi Zhu Xiaoguang khoảng hai mươi tuổi rằng điều gì anh thích nhất tại chủng viện này.  Anh ta trả lời: “Tôi thích môi trường ở đây.  Bạn có thể thật sự biết rõ người khác.”  Anh không thấy nơi đây quá đông đúc khi có đến gần tám mươi người sao?  “Không!” anh ta trả lời “Tôi có thể đi bộ lên những ngọn đồi sau những giờ học.”  Zhu thích nhất là giờ học tiếng Anh. Anh ta có nghĩ đến việc sau mười năm nữa mình sẽ đạt đến đâu?  Anh ta nói “Ðất nước tôi nghèo.  Cha tôi muốn tôi ra nước ngoài du học.”  Wang Lian thì nghĩ rằng đến lúc đó chắc cô đã lập gia đình.

Xu Daoye nói rằng vài tháng trước một giáo viên báo các học viên viết xuống những điều mà họ muốn nhất trong thời gian theo học tại viện này.  Xu đã viết:  “Tôi nghĩ điều tôi muốn nhất từ trường này là có một đời sống dư dật.”  Bây giờ thì tôi đang có một ít.  Trích từ Phúc âm Ma-thi-ơ 25:21, Wang nói: “Khi tôi gặp Chúa tôi muốn Ngài phán rằng: “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm.  Tôi muốn phụng sự Chúa trọn cả cuộc đời này.”  Hiệu trưởng Chen nói tiếp, “Hầu hết những người trẻ đều có một gánh nặng không chỉ riêng cho Trung Quốc mà cho toàn thế giới.  Một số người trong họ cưu mang bằng việc cầu nguyện và mong được rao giảng Phúc âm tại Giê-ru-sa-lem.

Tôi tự hỏi việc xa cách gia đình kéo dài quả là thách thức cho cả học viên lẫn giáo viên, ai cũng như bị bỏ lại trên những ngọn đồi hẻo lánh này.  Một học viên kể riêng với tôi rằng anh chưa thể viết thư về thăm gia đình – mọi thư từ đều có thể được dùng để tìm ra viện, nhưng từng hồi từng lúc anh có thể gọi về nhà bằng điện thoại di động của mình.  Tôi cũng không thể nào tự hỏi về việc nam nữ để ý hay thích nhau ở đây.  Nơi đây có đến sáu mươi tám người nam và nữ trong độ tuổi xuân thì, sống gần gũi đến nỗi bạn không thể đưa tay mình ra mà không “chạm hay đụng một ai đó.”  Làm sao viện có thể quán xuyến những cơn bão tiềm ẩn của sự thu hút lẫn nhau cũng như những khao khát lãng mạn?

Chen trở nên nghiêm túc.  Ông ta nói việc hẹn hò hay tán tỉnh bất cứ hình thức nào cũng bị nghiêm cấm gắt gao trong trường này.  Ðiều đó có thể tạo cơ hội cho sự bùng nổ ngay.  Rồi sao, tôi nói, liệu những người trẻ tuổi này có bao giờ trông mong mình tìm ra nữa kia cho hôn nhân của mình không?  Sự trả lời của Chen còn bình tĩnh hơn cả câu hỏi của tôi trước đó.  Ông nói: “Những ai ra đi và đang kết ước phục vụ trọn thời giờ, sẽ được Hội Thánh giới thiệu người phối ngẫu tương lai của họ.”

Hmm!  Một lối sắp đặt hôn nhân theo cách giáo hội.  Ðiều này nghe có vẻ không mấy thích thú đối với hầu hết những người thanh niên tại các hội thánh Mỹ, nhưng tôi đã không phát hiện ra một sự chống đối nào về vấn đề nam nữ giữa vòng những người trẻ mà tôi đã trò chuyện.  Thật ra, hệ thống sắp đặt hôn nhân tồn tại trong nhiều cộng đồng Cơ Ðốc ở nhiều nước trên thế giới thứ ba.  Ðiều khác nhau giữa việc thực hành điều này và những sắp xếp hôn nhân trong những xã hội truyền thống đó là những người trẻ này có quyền lựa chọn để từ chối đối người phối ngẫu được giới thiệu.

Những học viên ở đây thể hiện sự phấn khích khi có một người nước ngoài ghé thăm và viết về trường của họ.  Dường như họ đầy lạc quan về tương lai thuộc linh của Trung Quốc.  Họ có vẻ như tin chắc rằng Trung Quốc chỉ trong vòng vài năm nữa thôi sẽ được Cơ Ðốc hóa rộng rãi.  Zhu giải thích, “Chúng tôi tin rằng sẽ đến thời điểm cả Trung Quốc sẽ trở thành Cơ Ðốc nhân.  Tất cả chúng tôi tin rằng trước thế vận hội Olympics 2008 (tại Bắc Kinh) sẽ có một cơn phấn hưng tại Trung Quốc.  Ðức Chúa Trời sẽ chọn quảng trường Thiên An Môn cho chúng tôi để thờ phượng Ngài.  Không chỉ ở Thiên An Môn mà còn nhiều sân vận động khác nữa.”

Làm sao điều này có thể khi mà chính phủ Trung Quốc vẫn còn cương quyết chống lại quyền tự do tôn giáo cách hoàn toàn?  Tôi hỏi.  Zhu trả lời với sự tin chắc rằng “Ðến thời điểm đó Ðức Chúa Trời sẽ thay đổi tấm lòng của những lãnh đạo.”

Một xã hội Trung Quốc gặp khó khăn lại càng loạng choạng lên xuống về cách sống dựa vào thuê thầu và tiêu thụ cao, vậy mà điều khiến tôi ngạc nhiên nhất đó là sáu mươi tám con người trẻ tuổi từ nhiều tỉnh khác nhau lại có thể tự nguyện liều bỏ tất cả để trở thành những sinh viên Kinh Thánh túng thiếu, đi học sáu tháng trong một nơi gần như tu viện.  Nhưng sau đó tôi mới khám phá ra rằng chủng viện Em-ma-nu-ên chỉ là một trong số hàng trăm trung tâm Tin Lành thầm lặng trên khắp đất nước Trung Quốc.

©2012-2019 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top