Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 5.a

Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 5.a

jibChương Năm

Những Phụ Nữ Lãnh Đạo

Trong một chuyến viếng thăm Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, 250 dặm dọc theo bờ biển từ Thượng Hải, chỉ còn nửa giờ nữa là taxi chở tôi đến trung tâm thành phố.  Chiếc xe Santana – loại xe Volkswagen được làm tại Trung Quốc – quẹo khỏi đường chính để đi về phía Tây của thành phố chạy theo sông Âu giang, ngừng lại tại ngôi nhà ba tầng.  Rõ ràng đây là một nhà thờ với mái nghiêng, một tháp chuông bên cạnh và trên tháp là một thập tự được xây bằng đá. Đây không thể là một hội thánh thầm lặng được nhưng đây là một Hội Thánh Tư Gia, không liên hệ gì đến giáo hội được chính thức thừa nhận của quốc gia, Hội Thánh Tam Tự.

Mục sư không có mặt tại đó, nhưng tôi nghĩ ít ra tôi cũng dòm vào cửa sổ gần nhất để xem có gì xảy ra trong nhà thờ.  Thật có sinh hoạt trong nhà thờ.  Người lái xe vẫn ngồi trong xe, máy vẫn chạy và nhạc Mỹ do ca sĩ Deborah Allen hát bản “My Baby” vang từ cửa sổ hé mở.

Tôi thấy có khoảng 15 bà đang ngồi trên sàn nhà, quỳ gối nhiệt tình cầu nguyện.  Ðó là buổi nhóm cầu thay của Hội Thánh.  15 người đàn bà, không có người đàn ông nào hết.  Cảnh này xác nhận điều tôi đã nghe nhiều năm về Hội Thánh tại Trung Quốc và cũng được lặp đi lặp lại trong ba tháng rưỡi tôi viếng các tín hữu Cơ Ðốc tại Trung Quốc.  80% các tín hữu Tin Lành tại các Hội Thánh Tư Gia là đàn bà.  Con số này cũng đúng với các Hội Thánh thuộc Phong Trào Tam Tự.

Phụ Nữ Trong Hội Thánh

Tôi luôn luôn hỏi về sự bất quân bình về con số này và được trả lời một cách thẳng thắn: Tại Trung Quốc các ông chỉ lo làm tiền, chú tâm về nghề nghiệp.  Tại Trung Quốc các bà thường đặt câu hỏi, họ chú tâm về đời sống và cởi mở về các ý tưởng cá nhân riêng tư.

Tôi không có cách nào để xác chứng điều này, và bằng chứng tôi vừa thấy không xác định các lời giải thích của họ.  Tôi không đặt sự bất quân bình giữa đàn ông và đàn bà ở tỉ số 80% trên nền tảng tôi thấy tại các buổi nhóm tại nhà thờ và tại các chủng viện.  Dầy vậy không ai từ các tổ chức chính thức hay không chính thức chống lại con số 80% mà họ cho tôi.

Ðiều rõ ràng là tỉ số 80% tín hữu trong Hội Thánh là đàn bà không phản ánh ở tầng lớp lãnh đạo Hội Thánh Tư Gia.  Tôi gặp vài “lão phụ” và tôi cũng gặp một bà truyền giáo lớn tuổi tại Bắc Kinh, bà này có thể được xem là “lão mẫu.”  Nhưng tôi chưa bao giờ gặp một người nào làm lãnh đạo trong Hội Thánh có thể được gọi là “bác gái” hay “cô.”  Tôi không biết rõ tài năng đặc biệt là lòng can đảm của các tín hữu phụ nữ tại Trung Quốc cho đến khi tôi gặp “chị Ðinh”.

Chị Ðinh

Danh từ “chị” này được dùng không giống như được dùng trong các tu viện Công Giáo để chỉ các bà “sơ” vì cớ không có tu viện cho đàn ông hay đàn bà cho các nhóm Cơ Ðốc tại Trung Quốc.  Nhưng nếu chữ “chị” bày tỏ uy quyền, thông minh và khôn ngoan thiêng liêng và ngay cả tiếng tăm, như trong chương trình TV Công Giáo mà Sister Wendy là một người chuyên môn về nghệ thuật, thì chị Ðinh có tất cả các đức tính đó.

Lần đầu tiên tôi gặp chị tại Vũ Hán vào năm 1999.  Một người “Bác” giới thiệu chị cho tôi, và nói chị là Madeleine Albright của Hội Thánh Tư Gia Trung Quốc (Madeleine Albright lúc đó làm Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ).  Ðiều đó có nghĩa là chị là một người rất thông minh, biết nhiều tình hình thế giới, là một người có bản tính sách lược, và dĩ nhiên là một phụ nữ (Nếu buổi gặp gỡ đó diễn ra vào năm 2001 hoặc 2002, ông ta có lẽ sẽ gọi chị ta là “Condoleeza Rice” của Hội Thánh Tư Gia Trung Quốc.)

Chị cao hơn những người khác, dáng gầy, tóc ngắn, đẹp người và luôn luôn cười.  Nếu ở trong một ngành chuyên nghiệp nào khác chị sẽ là một ngôi sao sáng chói.  Chỉ trong vòng một vài phút trò chuyện, chị đã cho hai nhà phóng viên Mỹ thấy là chị có khả năng kể chuyện hấp dẫn, một đầu óc phân tích kỹ càng, quyến rũ và tự tin.  Chị từng là một người lãnh đạo giỏi.  Sau buổi tối, khi chị kể xong câu chuyện của đời chị, tôi nghĩ là so sánh chị với bà bộ trưởng thì thật làm cho bà bộ trưởng sung sướng.  Dầu đó không phải là tôi thiếu tôn trọng bà Ngoại Trưởng Madeleine Albright.

Chị Ðinh, có lúc gọi là Ðinh Hải (Hải là tên chị sử dụng sau này) sinh ra với tên Ðinh Từ Linh (Ding Xiuling) vào  tháng 6, 1961 tại một làng thuộc huyện Phương Thành, tỉnh Hà Nam.  Bố của chị là một cán bộ nòng cốt trong làng, và dĩ nhiên không phải là tín đồ.  Mẹ của chị đã trở thành tín đồ và lén lút đi nhà thờ, và khi con mắt của bà bị bệnh bà cầu nguyện và được chữa lành.  Mẹ chị Ðinh bắt đầu dẫn chị đi nhà thờ, và cô gái đang tuổi lớn này được giới thiệu đức tin Cơ Ðốc khi trở thành một thiếu nữ.  Theo chị kể lại điều đã dẫn chị đến đức tin là khi một phụ nữ già nói với chị cách đơn sơ là: “Nếu cô tin Chúa Giê-xu, cô sẽ lên thiên đàng.  Nếu cô không tin, cô sẽ xuống địa ngục.”  Chị tự động trở thành tín đồ khi chị được 13 tuổi và làm phép Báp-têm năm 1974.

Ðức tin chị mới tìm được, cộng với bản chất của chị là một người thật chú tâm đến đời sống đã tạo nên một số hậu quả ở trường cấp hai chị đang học tại huyện Phương Thành.  Chị cho biết theo sự hiểu biết của chị, chị là người tín hữu duy nhất trong vòng các học sinh.  Chỉ trong vòng 6 tháng, 40 bạn học của chị đã trở thành Cơ Ðốc nhân, họ bí mật nhóm lại sau giờ học, giấu cặp sách dưới đất để không ai biết các học sinh đã đi nhóm lại.  Chị Ðinh kể lại các bạn học của chị chào nhau khi họ gặp tại trường bằng cử động của mắt chứ không phải bằng lời nói, nếu dùng lời nói họ sẽ bị giáo viên khám phá.

Khi chị Ðinh còn học cấp hai Trung Học, cuộc bắt bớ lớn xảy ra vào năm 1974-1975 và chính quyền tỉnh Hà Nam tranh đấu chống lại người lãnh đạo Phong Trào Phương Thành là ông Trương Dung Lương đã bị bắt.  Ðấu tố trong trường hợp này có nghĩa là cuộc xét xử của Trương Dung Lương sẽ được chiếu trên truyền hình khắp tỉnh Hà Nam.  Các lớp học đều có các giờ dạy tố cáo các người bị cáo là “mê tín” cùng các bình luận khác trên truyền hình.  Ðinh nói là khi tòa án đọc lời chỉ trích về ông Trương Dung Lương (đội lốt tôn giáo chống phá cách mạng), Ðinh cảm thấy là họ nói về chị.  Chi ghét tiến trình xử án và các chương trình trên truyền hình.  Mỗi lần khi từ trường về nhà, chị tìm chỗ nào đó xa gia đình để tập “giảng”.

Vào khoảng một tháng sau trong năm 1976, đang khi cầu nguyện, chị cảm thấy Chúa bắt đầu bày tỏ cho chị biết một số điều, các điều này hiện ra qua hình ảnh trong tâm trí, liên hệ đến điều mà chị nghĩ là Chúa sẽ hướng dẫn cuộc đời của chị.  Chị không có Kinh Thánh riêng, vì vậy chị phải dành nhiều thì giờ để chép lại Kinh Thánh chị mượn từ các bạn trong làng.  Tại các buổi nhóm cầu nguyện tổ chức bí mật bởi một số tín đồ trong làng, các tín hữu cầu nguyện để Chúa ban cho họ Kinh Thánh.  Một hôm tại một buổi cầu nguyện như vậy, Ðinh tự nhiên tin quyết là một ngày nào đó Kinh Thánh sẽ có rất nhiều cho tất cả mọi người trong nhóm.  Chị nói với một số người trong buổi họp khuya đó “Một ngày nào đây, ai cũng sẽ có Kinh Thánh.”  Mẹ của chị khi nghe chị kể câu chuyện này thì cho đó là chuyện huyền hoặc.  Bà ta nói với chị: “Ít người bây giờ có Kinh Thánh,” bà bảo chị: “Không cách nào mọi người có Kinh Thánh được.”  Khải tượng của chị trở thành sự thật 16 năm sau tại Quảng Ðông.

Vào khoảng giữa thập niên 1970, các tín hữu tại tỉnh Hà Nam chỉ chú tâm đến những phép lạ, khải tượng và sự can thiệp của Ðức Chúa Trời trong hoàn cảnh khó khăn.  Người trong làng cho các tín hữu là điên.  Ðinh kể lại là các tín hữu có lúc họp lại trên bờ sông vào ban đêm.  Các bà thường la lớn tiếng khi họ cầu nguyện, làm cho một số người trong làng cho họ là khùng.  Khi tin đồn các cuộc họp khuya này đến tai bố của Ðinh và ông được biết chị có liên hệ với các nhóm này, bố chị rất hổ thẹn và giận dữ.  Ông lục cả nhà để tìm các bản Kinh Thánh viết tay và xé đi.  Ðinh nói là bố chị cho chị biết là ông sẽ đánh chị nếu ông thấy chị tính đi đến các buổi nhóm khuya này.  Nếu chị cứ đi, ông sẽ đánh khi chị trở về.  Có lúc ông nắm tóc chị và kéo chị quanh nhà.  Ðinh được ông nội là người rất thương chị giải cứu.  Ông quở trách người con trai của ông về việc đánh con gái của mình.  Ông nội chị nói: “Chúng ta hãy cầu xin, nếu nó cầu nguyện cho điều gì đó mà không xảy ra thì nó sẽ không cầu nguyện nữa.”

Từ từ chị Ðinh được nhiều Hội Thánh Tư Gia trong làng và các làng lân cận mời giảng.  Dầu là một thiếu nữ, tiếng đồn về chị như là một diễn giả có tài bắt đầu lan tràn nhiều nơi, ngay cả giữa vòng những diễn giả có ơn.  Một trong những người này là Gao Yongjui, người em vợ của Lý Thiên Ân (người đã mời Lý Thiên Ân từ Thượng Hải về Hà Nam năm 1970), ông đến một Hội Thánh Tư Gia gần nhà để dự một đại hội giảng dạy Kinh Thánh, và gửi một bạn đồng lao đến mời Ðinh tham dự.  Dĩ nhiên, bố của chị không cho chị đi.  Chị rời nhà và trên đường đi chị cầu nguyện “Lạy Chúa! Xin cho con một phép lạ.  Bố con chắc sẽ đánh con khi con trở về.  Xin Chúa đừng cho việc này xảy ra.  Ðiều đó sẽ là một sự khuyến khích từ Chúa là Chúa muốn con tiếp tục giảng Phúc Âm.”

Khi chị trở về, chị cho biết, bố chị vì lý do gì đó, không đụng chạm đến chị và để chị yên lặng bước vào phòng.  Một lần khác, chị sợ là chị tìm cách vào nhà khi đã khóa cửa, chị sẽ bị bố chị đánh, chị toan mở cửa và cửa tự mở.  Sáng hôm sau ngay cả bố chị cũng ngạc nhiên khi thấy chị đã mở được cửa vào nhà mà không có ai giúp đỡ.

Dầu vậy, cuộc tranh chấp trong gia đình vẫn tiếp tục.  Một mặt, Ðinh cảm thấy là Ðức Chúa Trời kêu gọi chị làm việc cho Ngài toàn thời gian.  Về mặt khác, cha và chú chị nhiệt liệt chống lại.  Chú của chị nhận thấy Ðinh thông minh và nghĩ là chị có thể được huấn luyện để trở thành Ðông Y Sĩ.  Ông cho chị một cuốn sách y khoa và bắt chị phải học thuộc.  Khi chị không học thuộc hết, ông bắt đầu đánh chị.  Thêm vào áp lực đó là bây giờ chị đã được 20 tuổi, một phụ nữ xinh đẹp, bố chị muốn chị lấy chồng.

Một đêm nọ khi chị cầu nguyện, Ðinh cho biết là trong đầu chị có hình ảnh một cái trứng mà vỏ đã bể.  Một con gà con bắt đầu nở.  Khi nghe chị kể về hình ảnh đó mẹ chị nói:  “Ðức Chúa Trời đã huấn luyện con, bây giờ con có thể bay. Con có thể rời nhà.”  Ðinh bắt đầu khóc vì chị ý thức mẹ của chị là tín hữu duy nhất trong nhà, và bà sẽ chịu nhiều áp lực nếu Ðinh không ở nhà để lập một màn chắn giữa bà và gia đình.  Song mẹ chị chuẩn bị cho chị một cái bao nhỏ đựng quần áo, một vài cuốn sách Cơ Ðốc, và bảo chị là đã đến lúc chị rời nhà.  Tối đó chị Ðinh rời nhà ra đi.

Chị không bao giờ trở về nhà.  Sau khi ở qua đêm tại nhà của một tín hữu, người này quyên được 320 nhân dân tệ (vào khoảng US $53 giá bấy giờ) cho chị, chị đi bộ hơn 30 dặm vượt qua đồi núi đến Guai He nơi Trương Dung Lương đang sống với vợ ông và người con trai.  Ông Trương năm trước đã được trả tự do và ông đã bắt đầu tổ chức các Hội Thánh tư gia tại huyện Phương Thành.  Ðinh viết cho bố chị một thư ngắn: “Con gái của bố không còn nữa, đừng cố gắng tìm con.”  Bố chị, một người lãnh đạo trong làng cảm thấy mất mặt, ông ta không thể giải thích sự vắng mặt của con gái cho bạn bè và hàng xóm.

Ðinh ở với ông Trương Dung Lương sáu năm cho đến năm 1987.  Trốn nhà và về ở với gia đình ông Trương Dung Lương, chị trở thành người làm việc toàn thời gian đầu tiên từ làng khác.  Ðây là khoảng thời gian Hội Thánh phát triển vượt bực tại huyện Phương Thành và tỉnh Hà Nam cũng như tại nhiều nơi trong Trung Quốc.

Ðây cũng là thời gian lần đầu tiên các tín hữu tại huyện Phương Thành quyết định coi thường nhân viên địa phương của Ðảng.  Vào ngày 1 tháng 10 năm 1981 (ngày Quốc Khánh), Trương, Ðinh và một số các nhà truyền giáo và giáo sư qua một hành động can đảm, đã tổ chức một buổi nhóm cho 400 đến 500 các nhà truyền giáo trẻ tại làng Yangji Datian tại thị trấn Yangji.  Họ còn giết một con chiên để ăn trưa.

Công an và Mặt Trận Tổ Quốc địa phương, các tổ chức này chịu trách nhiệm cho Ban Tôn Giáo địa phương hay tin và họ dẫn 40 nhân viên đến.  Xe cảnh sát vây quanh điểm nhóm.  Một nhân viên mặt trận đi vào phòng nhóm, phòng nhóm này được 5 bạn thanh niên dùng gậy bảo vệ để chống lại bọn côn đồ vào phá phách buổi nhóm.  Nhân viên này hỏi là ông có thể nói chuyện với những người đang nhóm lại được không.  Ông Trương Dung Lương đồng ý, nhưng ông yêu cầu để cho họ nhóm thờ phượng trước.  Khi các tín hữu bắt đầu hát Thi Thiên 146 “Chớ nhờ cậy nơi các vua chúa, cũng đừng nhờ cậy nơi loài người là nơi không có sự tiếp trợ”, nhân viên này tên là Wen quá sợ, ông bắt đầu hút thuốc.  Một nhà truyền giáo trẻ bảo ông không được hút thuốc vì đây là nơi thờ phượng.  Ðinh cho biết là cô thấy ông Wen có vẻ quá sợ và cô cho ông ta một ly nước.

Khi hát xong, ông Wen lên tòa giảng cầm microphone và nói với hội chúng là cuộc họp với mục đích tôn giáo tại một nơi chưa được chính quyền chấp nhận là bất hợp pháp: “Bây giờ quí vị phải về nhà.”

Ông Trương trả lời: “Không! Chúng tôi không về.  Chúng tôi sẽ tiếp tục nhóm, cuộc họp của chúng tôi sẽ tiếp tục cho đến chiều tối.”

Ngạc nhiên và sợ hãi, ông Wen bước xuống khỏi tòa giảng và trở về với các nhân viên Mặt Trận và công an.  Buổi họp ngưng lại để ăn trưa và các tín hữu bắt đầu ăn cừu nướng, nhưng họ không mời cán bộ và công an, điều này làm cho họ tức giận.  Khi buổi họp chấm dứt, công an xông vào bắt tất cả mọi người.  Họ đã nghe tiếng đồn về chị Ðinh, và họ cũng thấy vai trò quan trọng của chị trong các cộng đồng Cơ Ðốc địa phương.  Nhưng chị Ðinh đã nhanh tay đổi quần áo với một người giống chị, và tẩu thoát trong lúc lộn xộn.  Ông Trương cũng trốn thoát.

Ðây là khúc quanh của lịch sử Hội Thánh Phương Thành.  Wu Baixin, một nhà trí thức đã nghiên cứu kỹ về sự phát triển của Cơ Ðốc Giáo trong tỉnh nói [1].  “Hội Thánh bước từ thầm lặng đến Hội Thánh công khai mà công an biết rõ.  Các nhà truyền giáo trở nên can đảm hơn.  Họ đi từ nơi này đến nơi khác yêu cầu mọi người đừng liên hệ gì đến Phong Trào Tam Tự.”  Công an cũng ngạc nhiên khi khám phá là phần lớn tín hữu không phải là người già, như họ đã thấy trong thập niên 1960, song là các bạn thanh niên nam nữ trẻ dấn thân.

Vào năm 1982, Ðinh cùng các nhà lãnh đạo khác của Thông Công Phương Thành bắt đầu thay phiên nhau đến Quảng Ðông để lấy Kinh Thánh được các tín hữu Hồng Kông và ngoại quốc đem vào.  Chương trình này gọi là chương trình Donkey for Jesus, do Demis Balcombe, một người Mỹ thiết lập Hội Thánh Ngũ Tuần tại Hồng Kông tổ chức.  Ðinh và Trương Dung Lương biết Balcombe từ nhiều năm rồi.  Vào thập niên 1980, Balcombe và các cộng sự viên của ông đã lo việc đem sách đến Quảng Ðông và bắt đầu chia xẻ với các người làm việc của Thông Công Phương Thành giáo lý về ân tứ của Revival Christian Church tại Hồng Kông.  Balcombe cho Ðinh, Trương và các người làm việc trong các Thông Công Phương Thành và Ðường Hà xem các băng video về ảnh hưởng của ân tứ Thánh Linh mà thường thường đưa đến việc nói tiếng mới, ân tứ nói tiên tri và các ơn chữa bệnh khác trên các tín hữu.

Ðinh cho biết là chị trở nên người theo cách thờ phượng và thần học ân tứ vào cuối thập niên 1980, cũng như Phùng Quốc Giang thuộc Thông Công Ðường Hà, sau khi cầu nguyện với Balcombe và các người khác tại Quảng Ðông.  Phùng, bạn cùng phòng trong tù với Trương Dung Lương chính thức giới thiệu Balcombe cho Thông Công Phương Thành.  Song chính chị Ðinh đã sắp xếp cho Balcombe lần đầu tiên đến viếng Hà Nam vào mùa Hè năm 1988.

Năm 1983 khi chính quyền tại Bắc Kinh phát động chiến dịch chống lại “ô nhiễm tâm linh” – một cụm từ để chỉ việc đập chết các biến thể xã hội như vấn đề tôn giáo đã được đạp đổ trong thời Cách Mạng Văn Hóa.  Các tín hữu tại Hà Nam trở thành đối tượng để bị bắt bỏ tù dài hạn và có thể bị xử tử bởi chính quyền.  Trong một đợt của chiến dịch lùng bắt, Trương Dung Lương, Ðinh và các nhà lãnh đạo khác bị lùng kiếm. Một lệnh được ban hành và họ cho phép công an bắn chết các tín hữu Cơ Ðốc.  Các người lãnh đạo Phương Thành đi nơi này đến nơi khác suy nghĩ về nơi họ sẽ được chôn cất.  Ðối với Trương, điều này rất dễ, không xa nhà lắm, nhưng đối với Ðinh đó là một vấn đề vì gia đình chị đã từ chị.  Các bạn của chị nói: “Chúng tôi sẽ đem xác cô đến chôn tại một mộ không có bia.”

Chính quyền tỉnh Hà Nam đã biết về ngôi sao đang lên trong vai trò lãnh đạo của Ðinh, không những trong mạng Phương Thành song khắp Trung Quốc, và họ cũng biết các liên hệ của chị với Balcombe tại Quảng Ðông.  Công an hỏi cung chị 123 lần trước khi kết án cô 3 năm tù lao động tại trại lao động Shibalihe ở Trịnh Châu.  Các người tra vấn chị từ Namnyang, thành phố lớn nhất của Hà Nam, đặc biệt muốn biết về liên hệ của Hội Thánh Hà Nam với Balcombe, vì ông là người Mỹ.

Ðinh cho biết là chị từ chối không cho biết chi tiết, theo đúng tiêu chuẩn được các nhóm tư gia chấp nhận.  Dầu bị dọa nạt, đánh đập, tra tấn, các tín hữu tư gia đều đồng tình không tiết lộ chi tiết về danh tánh, hoặc nơi tạm trú của các tín hữu khác, hoặc chi tiết của các buổi họp.  Kinh nghiệm tù là kinh nghiệm rèn luyện chị Ðinh, cũng như cho nhiều tín hữu Trung Quốc, song đối với chị kinh nghiệm này khá đặc biệt.  “Chính trong thời gian ở tù, Thánh Linh dạy cho tôi nhiều nhất.”  Ðinh kể lại cho tôi vào năm 1998.

Ðiều Ðinh học được trong tù vượt quá lời khuyên nhủ cho tín đồ là hãy kiên nhẫn trong đau khổ và trung tín giữa bắt bớ.  Các nhà lãnh đạo của các nhà tù khám phá ra Ðinh là một người lãnh đạo và một người quản lý có tài tuyệt vời.  Dầu chị là người duy nhất bị án tù vì tội “chống phá cách mạng” trong số hơn 800 nữ tù nhân, chỉ trong vòng 40 ngày sau khi chị vào tù, chị đã được đề cử làm lãnh đạo cho toán 189 tù nhân.  Ðiều này phạm quy luật của nhà tù vì không tù nhân mới nào có thể được giao trách nhiệm lo về kỷ luật, y tế, vệ sinh, và các vấn đề lao động.  “Ðức Chúa Trời cho tôi các ý niệm về quản lý”, sau này chị kể lại.

Các công việc này rất có hiệu quả, vì chị trở thành một người quản lý nổi tiếng trong các nhà tù dành cho phụ nữ khắp tỉnh Hà Nam.  Ngay cả 10 năm sau khi được trả tự do, các nhân viên tù trong tỉnh vẫn còn gọi chị để xin ý kiến giải quyết một số vấn đề kỷ luật của hệ thống tù tỉnh Hà Nam.  Chị cho biết chị đã giúp cho chính quyền ngăn chận các cuộc tù nhân trốn thoát.  Tinh thần cạnh tranh của chị đã giúp chị tổ chức nhà tù để tranh được giải thưởng toàn tỉnh trong các nhà tù do chính quyền tỉnh tặng với vật liệu và tiền bạc cho nhà tù.  Ðinh là người đã khuyến khích tù nhân làm việc chăm chỉ để đạt mục tiêu sản xuất, và các tù nhân khác luôn theo sự chỉ đạo của chị vì cớ chị tranh đấu cho những quyền lợi căn bản: thức ăn ngon hơn, thì giờ nghỉ nhiều hơn, và y tế tốt hơn.

Ðinh chia xẻ đức tin của mình với các tù nhân và họ nương cậy nơi sự lãnh đạo của chị.  Trong một trường hợp mà chị mô tả như là một phép lạ.  Chị bảo các tù nhân mà chị hướng dẫn đang làm việc tại một bức tường gạch, hãy nghỉ và đến ngồi tại một bãi cỏ cách xa bức tường vì đó là ngày đẹp trời.  Vừa khi đó thì xưởng hóa học bên cạnh tường bị nổ làm sụp bức tường mà các tù nhân đang xây.  Nhân viên nhà tù hoảng sợ, nhưng không một tù nhân nào bị thương.  Ðinh kể lại: “Một nhân viên nhà tù cầm tay chị và nói: ‘Chúa của chị thật có quyền.’”

Ðinh giúp nhà tù đảm bảo kỷ luật, phát huy tinh thần, và tăng năng suất cho nên nhân viên nhà tù rất biết ơn chị và trả tự do cho chị trước thời gian đã định vào tháng 3 năm 1992.  Chị bị bắt trở lại vào năm 1993, vì tổ chức nhóm họp không giấy phép, nhưng chị trốn được đúng lúc để làm lễ thành hôn vào cuối tháng 5, 1993 với Zhang Gangzhu, một công nhân xưởng và là một tín đồ tốt do Trương Dung Lương giới thiệu.  Một năm sau chị có một cháu gái, người con duy nhất của chị.

Ðinh tiếp tục bị chính quyền bắt bớ, có lúc bị bắt một vài ngày, và sau khi chất vấn lại được thả, đôi lúc chị trốn thoát trong các giờ hỗn loạn của các cuộc rùng bắt các buổi nhóm của tín đồ.  Tài hùng biện, khải tượng và khả năng lãnh đạo của chị đã giúp chị trở thành một trong 9 nhà lãnh đạo của Thông Công Phương Thành vào thập niên 1990.  Vào cuối thập niên 1990 và vào năm 2000-2002 Ðinh đã tổ chức dây chuyền cầu nguyện cho hơn 2 triệu phụ nữ  tại khắp Trung Quốc.  Chị cũng đi đến Hoa Kỳ, Jerusalem, Ðông Nam Á để giảng dạy tại các đại hội.

Nhưng ảnh hưởng của chị và sự gần gũi với Trương Dung Lương đã làm cho nhiều người chỉ trích và nghi ngờ.  Ðây là liên hệ anh em trong công tác phục vụ Chúa, có người hỏi, hay có gì hơn nữa?  Chị suy nghĩ đắn đo nhiều lần xem thử chị có nên rời ban lãnh đạo Phong Trào Phương Thành để chấm dứt dị nghị.  Cuối năm 2002, Ðinh và chồng tạm nghỉ để vợ chồng có nhiều thì giờ với nhau và với đứa con gái.  Wu Baixin, một nhà trí thức và cũng là nhà nghiên cứu sự phát triển của Hội Thánh Tư Gia tại Hà Nam là người biết sự phát triển về Ðinh trong thập niên 1990 nói:  “Ðinh có tinh thần của Ðê-bô-ra”, có ý nói về vị nữ anh hùng trong sách Các Quan Xét trong Cựu Ước, người đã góp phần trong chiến thắng quân thù của Y-sơ-ra-ên.  Thật ra Ðê-bô-ra cũng là tên Ðinh tự đặt cho mình.  Michael Yu một người làm việc với Hội Thánh Tư Gia và người được giáo dục tại Hoa Kỳ cũng nhiệt tình nói: “Chị Ðinh là một nguồn lực lịch sử tuyệt diệu.”  Chị có những bài làm chứng kỳ diệu, khi nào chị giảng dạy, các lời làm chứng của các người khác cũng hướng về chị.

Ðinh chắc chắn là một người lãnh đạo thông minh và tài năng nhất trong vòng các lãnh đạo phụ nữ của phong trào Hội Thánh Tư Gia tại Trung Quốc.  Tôi cho rằng chị còn thông minh hơn các “bác.”  Phần lớn các Hội Thánh Tư Gia tại Trung Quốc không chia xẻ những quan ngại về thần học dành cho vai trò lãnh đạo của phụ nữ như các nhóm Tin Lành khác, như Báp-tít Nam Phương tại Hoa Kỳ. Phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo rất quan trọng trong việc tiếp nối của Hội Thánh tại Trung Quốc.  Vào thế kỷ thứ 19, các “Phụ Nữ Kinh Thánh” và “người bán sách” – người đem Kinh Thánh đến nhiều nơi khác nhau – là những phụ nữ.  Họ đã đem Kinh Thánh đến cho nhiều cộng đồng Cơ Ðốc khác nhau và góp phần giữ vững sự nối tiếp và sự hiện diện của Cơ Ðốc Giáo.  Dầu vậy, văn hóa Trung Quốc vẫn ngăn cản phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo, cho nên khó cho phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo trong cộng đồng Cơ Ðốc.  Dĩ nhiên, cũng có những ngoại lệ  – đặc biệt là trong Phong Trào Tam Tự – nhưng thường rất hiếm.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top