Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Lịch Sử » Chúa Jesus Tại Bắc Kinh – Chương 3a

Chúa Jesus Tại Bắc Kinh – Chương 3a

jibChương Ba

Các Trưởng Lão

Tôi đón taxi đến một căn hộ tại Thượng Hải nằm trên đường Wu Kang. Tôi tìm cách đi nhẹ nhàng đến căn hộ số 301 trên tầng thứ ba của tòa nhà.  Nhưng mấy đứa trẻ, không ngần ngại gì hết khi thấy một người mũi lõ gõ cửa nhà của một ông bà cụ già, la lên: “Ngoại quốc! Ngoại quốc!” với những tiếng cười khúc khích.  Vào năm 1985, người ngoại quốc vẫn là một hình ảnh lạ thường ngay tại một thành phố lớn như Thượng Hải.

Dầu bị trẻ em cười diễu, cuộc thăm viếng thật đáng giá.  Qua nhiều năm tôi đã nghe đến tên của người mà tôi sẽ đến thăm.  Ông ta là hình ảnh của một người can đảm và thanh sạch dưới sự bách hại của cộng sản.  Cả tín hữu Trung Quốc lẫn các nhà quan sát ngoại quốc về sinh hoạt tôn giáo tại Trung Quốc từ lâu đã xem Vương Minh Ðạo (1900-1991) là một trong những nhà lãnh đạo lớn nhất của Cơ Ðốc giáo vào thế kỷ thứ 20.  Tầm ảnh hưởng của ông trên đời sống của các nhà lãnh đạo Tin Lành Trung Quốc cả trước khi ông bị tù và trong lúc ông bị tù không thể nào đo lường được.  Ông là Nelson Mandela của Cơ Ðốc giáo Trung Quốc, ngoại trừ ảnh hưởng chính trị.

Mục sư Vương Minh Ðạo bị bắt năm 1955 và sau đó vào năm 1958 bị cầm tù cho đến đầu năm 1980, tất cả gồm 22 năm và 10 tháng.  Tội của ông rất rõ ràng: “Chống đối cách mạng” vì ông từ chối không đem Hội Thánh của ông là Beijing Christian Tabernacle, vào dưới sự kiểm soát của Phong Trào Yêu Nước Tam Tự, một tổ chức cộng sản của các Hội Thánh Tin Lành Trung Quốc nhằm kiểm soát các Hội Thánh này.

Danh tiếng ông được nhiều người biết trong vòng các tín hữu Tin Lành thuần túy quan tâm đến Trung Quốc.  Bà Ruth Graham, vợ của Mục sư Billy Graham, nhà truyền giáo nổi tiếng và là con của một bác sĩ từng làm giáo sĩ tại Trung Quốc, Dr. Lemuel Nelson Bell, (1893-1973) trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đã ghé lại thăm Vương Minh Ðạo để bày tỏ lòng tôn kính đối với ông sau khi ông được thả khỏi trại cải tạo.

Khi tôi đi lên chiếc cầu thang, tôi tự hỏi không biết cách nào Mục sư Vương Minh Ðạo có thể sống sót sau mấy thập niên dài trong tù và không biết bây giờ ông như thế nào.

Theo lời chỉ dẫn của người giới thiệu tôi gõ cửa một vài lần và gọi: “Bác, bác.”  Một người đàn bà phúc hậu tóc bạc phơ mở cửa và mời tôi bước vào nhà qua một phòng bếp và đến một phòng khách thật nhỏ, khoảng 15 mét vuông để gặp Vương Minh Ðạo và vợ ông.

Ông là một người nhỏ bé mặc áo kiểu Mao Trạch Ðông với một mũ đội trên đầu.  Ông ta mang đôi kính mát và ngồi trên ghế kề tường, ông đang dò dẫm dụng cụ nghe đã cũ kỹ treo trên ngực, dụng cụ này đôi lúc nảy ra vài tiếng động lạ kỳ.  Khi chúng tôi nói chuyện ông thường mỉm cười, miệng ông hé mở để lộ một hàm nướu không răng.  Ông cho tôi biết là ông vẫn còn có thể đọc được, song với nhiều khó khăn và qua một kính lúp.

Vợ của ông tên là Debra (tên tiếng Hoa là Lin Jingwen), một người có gương mặt hiền hậu nhỏ hơn ông tám tuổi, điều tôi nhận thấy rõ ràng là sức khỏe của bà suy giảm trong suốt 15 năm bà bị chia ly khỏi ông khi ông ở trong tù.  Mắt bà trắng màu sữa và có lẽ bà không thấy đường, song trí óc bà vẫn còn minh mẫn có lúc khi tôi hỏi ông bằng tiếng Trung Quốc mà ông không hiểu, bà lặp lại và giải thích giúp cho ông hiểu.

Chúng tôi nói về việc tù đày của Vương, cuộc gặp gỡ giữa ông và bà Billy Graham cùng các người khách ngoại quốc khác.  Thái độ của ông đối với Phong Trào Tam Tự (ông nói đó là cách Ðảng Cộng Sản kiểm soát Hội Thánh) và sự quan trọng của vai trò lãnh đạo Hội Thánh tại Trung Quốc mà ông biết là đã bắt đầu lớn mạnh trong vùng thôn quê.  Tôi muốn biết điều quan trọng nhất đối với ông trong thời kỳ ông ở tù, ông trả lời: “Lời Chúa, Lời Chúa.”

90 phút sau khi tôi đến thăm và đã đến lúc ra về, tôi cảm ơn ông về lòng hiếu khách của ông.  Thình lình ông đứng lên, rồi qua một giọng yếu ớt bằng tiếng Anh, ông hát bài hát thế kỷ 19 “Tinh binh Giê-xu tiến lên…” Tôi đứng cùng hát với ông.

Tôi biết là tôi đang đứng trước một người rất đặt biệt.  Câu chuyện về cuộc đời của Vương Minh Ðạo cho biết tại sao ông là người đặc biệt [1].

Vương Minh Ðạo (Wang Mingdao)

Vương Minh Ðạo sinh ra tại Bắc Kinh tại khu dân cư bị vây trong cao điểm của Loạn Quyền Phỉ vào tháng 7 năm 1900.  Cha ông nhìn ra ngoài cửa từ khu dân cư thấy những người Quyền Phỉ phá phách, cụ quá sợ tự treo cổ tự tử.  Vương được mẹ nuôi dưỡng trong hoàn cảnh rất thảm thương dầu ông gửi đến học một trường tiểu học Cơ Ðốc và sau đó trường Trung Học cấp 2 vì gia đình là tín đồ Cơ Ðốc.

Vương trở thành tín đồ lúc 14 tuổi qua sự khích lệ của một người bạn lớn tuổi hơn đã tin Chúa.  Song đức tin của ông, thay vì đem đến sự bình an và hòa hợp, lại làm cho bạn bè ông chống đối.  Sống chung với các bạn bè ở trường là những thanh niên có tiếng là Cơ Ðốc song không nhiệt tình lắm.  Vương từ lúc còn trẻ đã bị khích động nặng nề bởi lối sống vô luân của các bạn trẻ đặc biệt là những người tự xưng là Cơ Ðốc nhân.  Ông nhiệt tình tìm cách sống một đời sống theo đúng Thánh Kinh.

Vương Minh Ðạo bị đuổi khỏi chức vụ giáo viên tại một trường của Hội Trưởng Lão lúc 20 tuổi, vì ông không cho là phép Báp-têm của Giáo Hội Trưởng Lão theo cách rảy nước là đúng với Kinh Thánh. Theo cách này Mục sư đứng rảy nước trên đầu người nhận Báp-têm.  Vương tin là cách Báp-têm đúng nhất đòi hỏi ứng sinh được nhận chìm trong nước.  Ông ta được báo trước một ngày trước khi rời trường.  Năm học sinh đồng ý với ông cũng bị đuổi.  Sáu người này trên đường về Bắc Kinh đã được Mục sư làm phép Báp-têm bằng cách nhận chìm trong một khe nước rất lạnh đến nỗi quần áo của ông đóng băng khi ông ra khỏi nước sau khi nhận lễ Báp-têm.

Vương Minh Ðạo bắt đầu chức vụ khiêm tốn của ông tại sân của nhà mẹ và chị của ông.  Sự hiểu biết Kinh Thánh và lối sống đơn sơ yêu mến Chúa của ông tạo ấn tượng tốt cho các khách đến tham dự.  Ông được mời làm diễn giả cho các Hội Ðồng Bắc Kinh và nhiều nơi khác tại Trung Quốc.  Vào cuối thập niên 1920 ông đã trở thành một diễn giả được nhiều nơi mời.

Sứ điệp của Vương Minh Ðạo rất đơn giản nhưng sâu nhiệm.  Kinh Thánh là thẩm quyền của đức tin Cơ Ðốc và là mẫu mực cho đời sống Cơ Ðốc.  Ông luôn luôn thách thức hội chúng sống đời sống đạo đức.  Ðây là một quan điểm không được phổ thông lắm.  Từ bước đầu như là một nhà truyền giảng, ông bị nhiều người chống đối, vì ông khiển trách tội lỗi và tham nhũng trong Hội Thánh.  Dầu vậy ông cho đó là một phần sứ mạng của ông, như ông viết trong bài tự thuật là “kêu gọi mọi người trong Hội Thánh ăn năn và từ bỏ tội lỗi” [2].  Ông nói “thà tôi bị tấn công bởi con người hơn là mời gọi sự thạnh nộ của Ðức Chúa Trời.”

Ông thuê một thánh đường để giảng tại Bắc Kinh, nhưng đám đông đến nghe ông càng ngày càng đông cho nên phải xây một tòa nhà lớn hơn cho hội chúng.  Ông làm lễ cung hiến giáo đường này và đặt tên là Christian Tabernacle vào ngày 1 tháng 8 năm 1937.  Ðúng một tuần sau đó, quân Nhật tiến vào chiếm thành phố.

Ông cũng bày tỏ là người can đảm đối với quân xâm lăng cũng như ông đối với Hội Thánh mà ông cho là không sống theo tiêu chuẩn đạo đức Cơ Ðốc.  Khi quân Nhật ép các Giáo Hội Cơ Ðốc trong vùng bị chiếm tham dự tổ chức Liên Hiệp Cơ Ðốc miền Bắc Trung Quốc (North China Christian Federation), một tổ chức ngụy tạo mà họ có thể kiểm soát, Vương Minh Ðạo đã từ chối.  Ðiều lạ lùng là quân đội Nhật không bắt ông, dầu họ đối đãi khắc nghiệt đối với các nhóm khác, đặc biệt là những giáo sĩ Tây Phương.  Những người này bị quản thúc cùng với công dân Mỹ và Anh sau ngày 7 tháng 12, 1941.  Quân Nhật ngưỡng mộ thái độ cứng rắn của Vương Minh Ðạo.

Vương Minh Ðạo có điểm lợi hơn các nhóm Tin Lành khác về một khía cạnh.  Từ khi thành lập Hội Thánh độc lập vào thập niên 1920, ông không liên hệ với các nhóm truyền giáo hay hệ phái ngoại quốc.  Dù ông có giảng tại các Hội Ðồng truyền giáo, chẳng hạn như Hội Ðồng do Hội Truyền Giáo Trung Hoa Nội Ðịa tổ chức, Vương Minh Ðạo không nhận sự trợ giúp từ người Mỹ hay người Anh.

Trong suốt thời gian chức vụ của ông, ông luôn nhấn mạnh là Hội Thánh Trung Quốc cần hoàn toàn độc lập khỏi các tổ chức hoặc các hệ phái ngoại quốc.  Các cộng đồng Cơ Ðốc Trung Quốc phải tự trị về vấn đề tài chánh, tự truyền giáo và tự môn đệ hóa các tín hữu mới.  Thật ra trước khi Cộng Sản lên cầm quyền tại Trung Quốc, Vương Minh Ðạo đã thực hiện nguyên tắc Tam Tự (tự dưỡng, tự truyền và tự quản) mà sau này trở thành khẩu hiệu của Phong Trào Yêu Nước Tam Tự.  Một tổ chức Tin Lành “chính thức” xưng là đại diện tất cả các Hội Thánh Tin Lành tại Trung Quốc.

Sau khi Hoa Kỳ đánh bại Nhật vào năm 1945, người Trung Quốc hy vọng là nước của họ sẽ sống trong hòa bình và sửa chữa các đổ vỡ trong xã hội mà các biến cố xảy ra trong các thập niên trước đã tạo ra: xâm chiếm của ngoại quốc, đói kém, lãnh chúa, và nội chiến.

Nhiều người Trung Quốc lý tưởng, kể cả các người Cơ Ðốc, tin rằng người Cộng Sản có thể ít tham nhũng hơn, và có thể trở thành những người lãnh đạo hữu hiệu hơn các người quốc gia, là những người chính thức cầm quyền tại Trung Quốc từ khi triều đại nhà Thanh bị lật đổ vào năm 1911.  Thật vậy, một số các sinh viên chủng viện Tin Lành và Mục sư đã được Ðảng Cộng Sản chiêu mộ vào Ðảng từ thập niên 1940 hoặc trước đó.  Khi Ðảng Cộng Sản đánh bại Quốc Dân Ðảng năm 1949, những người khác và ngay cả những người ngoài Ðảng cũng sẵn sàng cổ võ cho nhà cầm quyền mới tại Trung Quốc.  Nhiều người nghĩ là có lẽ người Cộng Sản đã nhận được thiên mệnh, một ý niệm gắn cho chính quyền mới uy quyền sau khi triều đình trước sụp đổ.  Người khác nghĩ là người Cộng Sản chắc không tệ và bất tài như người quốc gia, là những người đã tìm cách cai trị nước trong hai thập niên qua.  Nói một cách tổng quát, sau gần một thế kỷ bị ngoại lai xâm chiếm, loạn lạc, lãnh chúa, chính quyền thối nát, người Cộng Sản dường như muốn viết một trang sử mới.  “Trung Quốc đã vùng lên” Mao Trạch Ðông đã tuyên bố như vậy tại Thiên An Môn vào ngày 1 tháng 10 năm 1949.  Ðó là một lời tuyên bố khẳng khắn và nhiều người Tin Lành sẵn sàng đáp ứng.

Không có một thống kê về người Tin Lành và Công Giáo vào năm 1949, song tin tức lấy từ các nguồn khác nhau cho thấy Giáo Hội Công Giáo có 3.274.740 tín hữu đã nhận Báp-têm tại Trung Quốc vào năm 1949, các giáo hội Tin Lành gồm tất cả 936.000 người [3].  Dầu vậy con số này chỉ nói lên một phần ảnh hưởng của cộng đồng Cơ Ðốc tại Trung Quốc.  Công Giáo và Tin Lành đã lập 429 trường Trung Học cấp 2 và cấp 3, 538 bệnh viện, 40% các bác sĩ hành nghề tại Trung Quốc được đào tạo trong các trường Y Khoa Tin Lành.  Ảnh hưởng văn hóa của những người Tin Lành có uy tín và địa vị trong xã hội cũng rất quan trọng.

Vì vậy sau khi cướp chính quyền, người Cộng Sản đối đầu với hai thách thức về cộng đồng Cơ Ðốc.  Trước  nhất, họ hăm dọa tất cả những người này phải tuân theo hoàn toàn hoặc đòi hỏi các nhà lãnh đạo Công Giáo lẫn Tin Lành chống lại chính quyền giữ yên lặng, không trung tâm dân sự nào có nhà lãnh đạo, có khả năng chống đối chính trị, được phép tồn tại dưới chế độ mới.  Thứ hai, để tránh không làm cho đám đông tín đồ Cơ Ðốc tại Trung Quốc phẫn nộ, trong khi các nhà cầm quyền mới củng cố quyền hành, người Cộng Sản cần xử dụng một số lớn các tu sĩ.  Họ không phải chỉ là những người ủng hộ yếu kém song là những người ủng hộ nhiệt tình.  Họ có thể được mô tả như là “yêu nước” vì họ có thể sẵn sàng chấp nhận đường lối Cộng Sản như là ích lợi cho Trung Quốc.

Khi Ðội Quân Ðường thứ 8, sau này đổi thành Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân, chiếm được toàn quốc, những kẻ chinh phục này tỏ ra tàn ác trong cách họ xử với kẻ thù.  Ðịa chủ bị đấu tố tại các tòa án nhân dân, và đôi khi bị hành quyết tập thể, tá điền được gọi đến để đấu tố hoặc làm chứng nhân khi điền chủ bị hành quyết.  Tại vùng Cộng Sản chiếm trong các nội chiến 1946-1949, tòa án nhân dân thường được dùng đển lên án và hình phạt các giáo sĩ ngoại quốc, đặc biệt là các linh mục Công Giáo.  Có khoảng 40 linh mục Công giáo ngoại quốc và 20 giáo sĩ Tin Lành bị tử hình, qua hoặc không qua các tòa án xét xử của Cộng Sản trong thời kỳ nội chiến thứ hai (1927-1935 và 1945-1949) [4].  Khi quân đội Trung Quốc tham gia chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950 và bắt đầu chống lại Mỹ, bất cứ tổ chức Trung Quốc nào có liên hệ với các tổ chức Cơ Ðốc Mỹ, hoặc bất cứ tổ chức khác nào đều bị gọi là làm “chó săn cho đế quốc.”

Như chúng ta sẽ thấy trong chương 7, Cộng Sản đã bàn tính việc thâm nhập và kiểm soát các nhà thờ Tin Lành một cách kỹ lưỡng và chu đáo.  Ðối với Giáo Hội Công Giáo vì cơ cấu toàn cầu của Giáo Hội La Mã cho nên họ khó xâm nhập.  Vào tháng 4 năm 1951, một cơ quan nhà nước, Ban Tôn Giáo được thành lập theo sự chỉ đạo của Ðảng Cộng Sản.  Họ mời 151 lãnh đạo Tin Lành có uy tín đến Bắc Kinh để dự một Ðại Hội tại đó họ yêu cầu những vị này cắt đứt mọi liên lạc với các tổ chức Cơ Ðốc ngoại quốc.  Ðại Hội cũng thành lập Phong Trào Cải Cách Tam Tự.  Tên này được đổi thành Phong Trào Yêu Nước Tam Tự Tin Lành vào năm 1954.  Mục đích của tổ chức này rất rõ ràng:  Hoàn toàn và mãi mãi cắt đứt mọi liên lạc với các Hội Truyền Giáo Mỹ và các Hội Truyền Giáo khác để thực hiện tự quản, tự dưỡng và tự truyền cho Hội Thánh Trung Quốc [5].

Ðể xúc tiến chương trình này, các buổi huấn luyện dành cho mục sư và sinh viên chủng viện được tổ chức khắp Trung Quốc để dạy “Yêu Nước” (hoàn toàn ủng hộ, không phê bình, tất cả những gì Ðảng Cộng Sản nói và làm), ý nghĩa của “Trung Quốc Mới” (chủ trương xã hội và kinh tế của Ðảng Cộng Sản), và bản chất của “Thực Dân” (sự gian ác của Tây Phương và đặc biệt là Hoa Kỳ).  Một phần của chương trình giáo dục này gồm cả “đấu tố” tại đó một số người đã được chọn lựa bị tố cáo công cộng giữa các bạn đồng nghiệp.  Các nhân viên điều tra Cộng Sản cũng yêu cầu nhiều người viết bản tự thú để tìm xem có ai có thái độ hay hành động không thuận với “Trung Quốc Mới”.  Chính trong khoảng thời gian này mà cuộc cải tạo toàn dân xảy ra trong toàn quốc và danh từ “cải tạo tư tưởng” và “tẩy não” được nhiều người biết.  Phần lớn các mục sư Tin Lành làm theo các điều đòi hỏi.  Giá phải trả cho những ai chống đối gồm: đấu tố, bắt bớ, giam tù và có lúc xử tử.

Một lần nữa Vương Minh Ðạo là một người đặc biệt.  Ông từ chối không gia nhập Phong Trào Tam Tự và chống lại cố gắng của Ðảng khuấy động cả nước chống lại Hoa Kỳ.  Tính cứng đầu của Vương Minh Ðạo được dùng để giải thích tại sao ông không chịu tham gia Phong Trào Tam Tự.  Năm 1949 ông đã từ chối ký vào một tài liệu được những người ủng hộ Cộng Sản truyền tay cách rộng rãi tố cáo “Cơ Ðốc giáo là công cụ của đế quốc.”  Ông hoàn toàn không đồng ý.  Suốt cả đời sống của ông, ông hoàn toàn độc lập không dính dáng gì đến các tổ chức truyền giáo ngoại quốc và đã thực hiện đường lối “tam tự” trong Hội Thánh của ông và không bị áp lực bên ngoài chèn ép.  Ông tiếp tục truyền giáo tại Bắc Kinh và đặc biệt giữa vòng sinh viên.  Năm 1954 ông bị đưa ra “đấu tố” song không có kết quả gì.  Không ai ngoài Ðảng Cộng Sản và những người ủng hộ Cộng Sản cho ông là công cụ của một ai hết.

Vì thái độ quá nguyên tắc của ông, ông bị tố trong tờ báo Thiên Phong (Tian Feng) của Phong Trào Tam Tự, ông và vợ bị bắt vào nữa đêm ngày 7 tháng 8 năm 1955.  Một số hội viên Hội Thánh Christian Tabernacle cũng bị bắt.

Qua nhiều tháng, hai bạn cùng tù dọa ông qua những câu chuyện tra tấn dành cho các tù nhân cứng đầu có thể bị.  Vào cuối năm, ông không chịu nổi và bắt đầu viết thư tự thuật cho những người cai tù cho họ biết là ông bắt đầu có những nghi ngờ về đức tin của ông.  Sau khi hứa với những người sách hại ông là ông sẽ tham dự Phong Trào Tam Tự và giảng những gì họ muốn ông giảng, ông được thả vào năm 1956 cùng với vợ ông.

Ông trở thành một người bị lương tâm cắn rứt.  Dầu đã hứa với chính quyền, song ông không thể nào tham gia Phong Trào Tam Tự hay giảng ở Hội Thánh của họ.  Trong lúc đó ông tin là ông đã phản bội Chúa hoàn toàn.  Có nhiều chuyện kể lại là ông đi quanh Bắc Kinh lằm bằm:  “Tôi là Phi-e-rơ, tôi là Phi-e-rơ”  nhắc đến việc Phi-e-rơ chối Chúa sau khi Chúa bị bắt (Luca 22:60).

Ðau khổ này đem đến một kết quả lạ thường.  Vương Minh Ðạo trong nhiều tháng sống trong lo sợ bị bắt trở lại, ông tham dự các buổi thờ phượng nơi đó họ đọc lời tự thuật của ông, một lần tại Hội Trường YMCA năm 1949 đã trở thành địa điểm Cộng Sản bắt đầu các cố gắng kiểm soát Tin Lành tại Trung Quốc.  Dầu vậy ông cũng không thực hiện điều ông hứa khi ông được thả: Tham gia Phong Trào Tam Tự.  Cộng Sản đã bẻ gãy ý chí của ông, đã làm tổn thương tinh thần của ông, song họ không “thay đổi” ông được.

Vì vậy vào ngày 29 tháng 4 năm 1958, ông và vợ bị bắt trở lại. Lần này ông bị kết án tù chung thân và vợ ông 15 tù ở.  Không lâu sau khi ông bị bắt, ông bị bệnh cảm nặng.  Sau khi lành vào năm 1961, chính quyền xem thử ông có bằng lòng cộng tác với họ không.  Nhưng ông đã phục hồi lòng kiên quyết.  Ông đã hổ thẹn và buồn rầu về những yếu đuối của ông trước đây.  Sau này ông kể cho bạn ông biết là chỉ khi ông nhớ lại đoạn Kinh Thánh (Mi-chê 7:7-9), ông mới nhận ra là án tù chung thân của ông là sự hình phạt của Ðức Chúa Trời đối với bao nhiêu thất bại của ông, đặc biệt ông quá sợ khi viết bài tự kiểm.  Ðoạn Kinh Thánh mà ông đã học thuộc lòng nhiều năm trước đọc như sau:

Nhưng ta sẽ nhìn xem Ðức Giê- hô- va chờ đợi Ðức Chúa Trời của sự cứu rỗi ta Ðức Chúa Trời sẽ nghe ta. Hỡi kẻ thù ta, chớ vui mừng vì cớ ta. Ta dầu bị ngã, sẽ lại dậy, dầu ngồi trong nơi tối tăm, Ðức Giê-hô-va sẽ làm sự sáng cho ta, Ta chịu lấy sự thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va vì ta đã phạm tội nghịch cùng Ngài, cho đến chừng Ngài đã binh vực ta, phán xét ta, thì Ngài sẽ dắt ta đến sự sáng và ta sẽ thấy sự công bình của Ngài.

Vương Minh Ðạo bây giờ làm một điều đã gây kinh ngạc với nhà cầm quyền.  Trước đó ông nói và sau này ông viết một bài dài.  Ông rút lại tất cả các bài tự kiểm thảo của ông và cho đó là các lời nói dối, hậu quả của đàn áp.  Ông ở trong tù 22 năm, với các năm 1966-1976 thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa rất tàn ác.  Có lúc ông bị còng 4 tháng liên tiếp và bị đánh đập, nhục mạ hàng ngày.

Vợ của ông được thả vào năm 1975 và được phép thăm ông vài lần.  Cuối cùng ông được thả vào năm 1980.  Cháu nội của Hudson Taylor, James Hudson Taylor III viết: “Không một nhà lãnh đạo Cơ Ðốc Trung Quốc nào ở thế kỷ thứ 20 bày tỏ quyền phép của Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu, hay kinh nghiệm một cách sâu xa điều Phao lô mô tả là thông công và chia xẻ trong sự đau khổ của Ngài như Vương Minh Ðạo” [6].

Vì bị tù hơn 20 năm, Vương Minh Ðạo không tự mình ảnh hưởng được các cộng đồng Cơ Ðốc lúc đó đã bắt đầu phục hồi,  nhưng lòng can đảm tuyệt diệu chống lại áp lực Cộng Sản của ông đã kêu gọi các nhà lãnh đạo Hội Thánh đứng lên.

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top