Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Kiến Thức » Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 2.b

Chúa Giê-xu Tại Bắc Kinh – Chương 2.b

jib

CÁC GIÁO SĨ DÒNG TÊN

Phải chờ gần 2 thế kỷ sau Cơ Ðốc Giáo từ bên ngoài mới trở lại Trung Quốc dưới hình thức của một tổ chức khác.

Các cuộc thám hiểm của Bồ Ðào Nha vào thế kỷ thứ 14 và 15 cùng nhu cầu tìm hương liệu của các con buôn tại vùng Ðông Nam Á đưa đến các cuộc thám hiểm Á Châu trước khi Kha Luân Bố (Columbus) tìm ra thế giới mới vào năm 1492.  Chính cuộc cách mạng tôn giáo tại Âu Châu vào thế kỷ thứ 16 và cuộc cách mạng phản kháng của Giáo Hội Công Giáo La Mã đã khơi mào cho các cố gắng của Âu Châu đem Cơ Ðốc Giáo về Á Châu.  Lần này, những người rao truyền tôn giáo là các tu sĩ học thức của một cánh tay vừa được Công Giáo La Mã thành lập, Dòng Tên (The Society of Jesus).

Francis Xavier, một giáo sĩ Tây Ban Nha, là đồ đệ của Ignatius Loyola, nhà sáng lập Dòng Tên là tên được nhiều người biết như là Society of Jesus (Hội của Chúa Giê-xu).  Suốt đời ông lo việc truyền giáo cho Á Châu, đi nơi này nơi khác, giảng đạo, làm phép Báp-têm và tổ chức Giáo Hội tại Ấn Ðộ, bán đảo Mã Lai, Molucca, và Nhật Bản.  Ông qua đời vào năm 1552 tại đảo Shuangchuan ngoài Quảng Châu (Guangzhou) trong khi chờ phép để vào Trung Quốc.

Ước mơ nồng nhiệt muốn đem Phúc Âm vào Trung Quốc được các tu sĩ Dòng Tên theo sau thực hiện, và một trong những người đặc biệt nhất là một người Ý tên là Matteo Ricci.  Ông đến một vùng đất do người Bồ Ðào Nha chiếm gọi là Ma-cao khi ông mới 30 tuổi.  Ricci có thể nói là nhà truyền giáo tri thức, có tài và thông minh nhất trong lịch sử Cơ Ðốc Giáo.  Hầu hết các giáo sĩ Dòng Tên trong thời kỳ đó được huấn luyện trong các ngành khoa học tân tiến nhất xuất phát trong thời kỳ Phục Hưng, Ricci được huấn luyện bởi các chuyên gia chuyên về phương pháp học nhớ (memorization).  Khi được nhập cư vào Trung Quốc, ông làm cho các thực khách phải ngạc nhiên khi ông lập lại từ đầu đến cuối các bài thơ cổ điển của Trung Quốc sau khi ông nghe một lần. (15)

Ricci đầu tiên lập chỗ đứng tại Quảng Ðông (Guangdong), và dần dần tiến lên Bắc Kinh, và cuối cùng vào năm 1661 ông nhận được phép sống tại Bắc Kinh từ các nhà cầm quyền Trung Quốc hay ngờ vực.  Chín năm ông sống ở đó trước khi qua đời là những năm kết quả cho Cơ Ðốc Giáo tại Trung Quốc.  Cách truyền giáo của ông là trước hết làm sao chiếm đoạt cảm tình của các nhà lãnh đạo, đám tri thức của Trung Quốc.  Lần đầu tiên đến Trung Quốc, ông mặc áo của các tu sĩ Phật Giáo, nhưng khi ông khám phá ra là các tu sĩ Phật Giáo cũng như Hồi Giáo không được kính trọng bằng tầng lớp các học giả trí thức,  Ricci thay đổi và mặc quần áo của các học giả Khổng Giáo.  Ông học nói và viết tiếng Trung Quốc, và có thể viết sách bằng tiếng Trung Quốc để giải thích các ý niệm Cơ Ðốc cho tầng lớp trí thức Trung Quốc.  Nhưng tài năng làm đồng hồ đã giúp ông có thể vào triều đình và gặp Hoàng Ðế.  Lần đầu tiên gặp Hoàng Ðế ông dâng cho Hoàng Ðế một đồng hồ mà trong các quan lại triều đình không người nào biết lên dây hay xử dụng.

Ricci cũng nhờ các tu sĩ thông thái Dòng Tên đến sau ông tìm cách tạo ảnh hưởng trong triều đình qua các khả năng đặc biệt của họ: khả năng máy móc, toán, vẽ bản đồ, thiên văn học, cũng như khả năng ngoại giao.  Thành quả ban đầu của họ thật tuyệt vời.  Vào khoảng năm 1605, Ricci cho biết là đã có hơn một ngàn người Trung Quốc chịu Báp-têm và trở thành người Công Giáo.  Năm năm sau khi Ricci chết, con số đó lên đến 5,000 và càng ngày càng gia tăng.  Ricci và những người tiếp theo ông đã đem nhiều quan lại trong triều và nhiều đàn bà trở về với đức tin Cơ Ðốc.  Một học giả Trung Quốc có tên là Li Chowu đã viết những dòng sau đây cho một người bạn của ông trong những năm đầu của thế kỷ thứ 17.  “Ricci là một người rất đặc biệt ấn tượng.  Ðầu óc thông sáng và hình dáng đơn giản.” (16)  Các bạn Dòng Tên của ông cho biết ông muốn trở thành người Trung Quốc và muốn truyền đức tin Cơ Ðốc theo những nguyên tắc đạo đức của lối suy tư Khổng Học.  Vào năm 1632, một trong những người đã tin Chúa qua Ricci, Xu Guangqi (1562-1633) được nhà vua cho làm tể tướng, một trong các chức cao nhất trong hệ thống quan lại theo Khổng Giáo.

Khả năng ngoại giao của các tu sĩ Dòng Tên được thể hiện rõ ràng là khi nhà Mãn Châu thay thế cho nhà Minh, ảnh hưởng của họ vẫn không bị thay đổi.  Mãn Châu là một triều đại của những người chiến thắng chiếm Trung Quốc từ miền Ðông Bắc.  Hai người thừa kế Ricci với nhiều tài năng là Adam Schall Von Bell, một người Ðức và người thừa kế của ông là Ferdinand Verbiest, họ được nhà vua giao cho các chức quan trọng lo về thiên văn học.  Các tu sĩ Dòng Tên chứng minh là họ có thể tiên đoán các biến cố thiên văn như nguyệt thực đúng hơn các nhà thiên văn Trung Quốc chuyên về nghiên cứu các ngôi sao.  Khả năng ngoại ngữ của họ cũng giúp cho Trung Quốc trong các tiếp xúc với các cường quốc bên ngoài.  Vào năm 1680 Hiệp Ước Nerchinsk thiết lập qui định bang giao giữa Trung Quốc và Nga, một cường quốc đang lên, những người thương thuyết cả hai bên là các tu sĩ Dòng Tên nói tiếng La-tinh.

Schall qua đời năm 1666, người thừa kế của ông là Verbiest tạo được quan hệ cá nhân với Hoàng Ðế Khang Hy (Kangxi, 1654-1722).  Hoàng Ðế thứ hai của Triều Minh, và theo ý kiến của một số sử gia, ông là một trong những vị vua tài giỏi nhất trong 2 ngàn năm lịch sử của Trung Quốc.  Khang Hy tin cẩn Verbiest và thích hỏi Verbiest những câu hỏi triết học.  Verbiest cố gắng thuyết phục Khang Hy tin theo đức tin Công Giáo và tuyên xưng công cộng qua phép Báp têm.  Khang Hy từ chối một cách mạnh mẽ.  Ông ta ý thức được vai trò của ông như là trụ cột của nền văn hóa Trung Quốc.  Một trong các học giả khôn ngoan nhất  về địa hạt bang giao của Trung Hoa và Tây Phương của thế kỷ trước đã đưa ra lời bình luận này: “Việc cải đạo của một Hoàng Ðế Trung Quốc về với một tôn giáo ngoại lai có thể là một điều oan trái nhất đối với tầng lớp quan lại cai trị, khác nào Giáo Hoàng trở thành tín đồ Hồi Giáo mà vẫn làm đầu Giáo Hội Công Giáo.” (17)

Dầu vậy, có thể Khang Hy thật đã đến gần đức tin Cơ Ðốc dầu không nhận bí tích Báp têm của Giáo Hội Công Giáo.  Nhiều người Cơ Ðốc tại Trung Quốc đưa ra hai bài thơ thường được gán cho Khang Hy.  Một bài gọi là “Thập Tự Giá” và bài kia là “Gia tài của cuộc sống”.  Họ cho là hai bài thơ này bày tỏ lòng tin quyết của đức tin Cơ Ðốc.  Chẳng hạn bài thơ Thập Tự Giá.

Khi công việc trên Thập tự giá hoàn tất

            Huyết chảy như dòng suối

            Ân điển từ miền Tây thấm nhập hàng ngàn thước

            Người đi vào con đường khuya

            Lao mình vào bốn cuộc thử thách

            Trước khi gà gáy hai lần, môn đệ của Người chối Người ba lần

            Năm trăm lằn roi đánh rách da Người

            Hai tên trộm treo hai bên Người sáu thước trên cao

            Buồn thảm chưa bao giờ cảm nhận

            Bảy lời nói, một công tác, hàng ngàn tâm thần khóc.(18)

Nhưng các tu sĩ Dòng Tên không giữ độc quyền về công tác truyền giáo của đức tin Công Giáo tại Trung Quốc.  Theo sau họ là tu sĩ của dòng Franciscan, Dominican và Augustinian.  Họ không kiên nhẫn truyền giáo cho lớp cầm quyền tri thức của Trung Quốc, họ muốn trực tiếp đến các tầng lớp dân chúng thấp của Trung Quốc.  Vì danh tiếng về các thành quả của Dòng Tên lan tràn khắp Âu Châu, những ganh tị về tổ chức và tranh luận nguy hại nhất được gọi là cuộc tranh luận về Lễ (Rite Controversy).  Ricci cũng như những người thừa kế ông lý luận là sự thờ phượng tổ tiên của người Trung Quốc thường được tổ chức trong gia đình là một hành động văn hóa không liên hệ gì đến đức tin Cơ Ðốc, song những người Công Giáo khác không đồng ý.  Họ lý luận là: Sự thờ phượng tổ tiên của người Trung Quốc không phải là một hình thức đa thần sao?  Cuộc tranh luận này trở nên căng thẳng hơn vào cuối thế kỷ thứ 17 và đầu thế kỷ thứ 18.  Các tu sĩ Dòng Tên kêu gọi Khang Hy quyết định.  Là người hiểu biết về giáo lý Cơ Ðốc và có lẽ là một tín hữu, Khang Hy ủng hộ quan điểm truyền thống của các tu sĩ Dòng Tên, ông cho là các lễ nghi đó có tính cách văn hóa hơn là tâm linh.

Tại Âu Châu Dòng Tên bị tấn công đặc biệt là những người Pháp theo nhà Thần Học nói tiếng Pháp của Otto Jansen, nhà sáng lập phong trào Jansenist vào thế kỷ thứ 17.  Những người theo Jansen cho các tu sĩ Dòng Tên đã nhấn mạnh quá nhiều tự do ý chí và việc làm, thay vì ân điển và đức tin.  Họ đã hòa đồng nhiều quá trong căn bản thần học trong các cố gắng làm vừa lòng giới học thức và lãnh đạo Trung Quốc.  Năm 1715 trong một giáo lệnh, Giáo Hoàng chỉ trích các tu sĩ Dòng Tên về các cố gắng hòa đồng các chân lý Phúc Âm, trong khi họ chịu phục dưới ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Khang Hy giận dữ không những về giáo lệnh của Giáo Hoàng song về cách giáo lệnh đó được chuyển đến ông qua mấy nhà ngoại giao của Giáo Hoàng, những người này không biết gì về văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc.  Khang Hy bắt đầu bàn tính về việc cấm các hoạt động Cơ Ðốc tại Trung Quốc.  Ông chết vào năm 1722 và không làm được điều đó.  Nhưng vào năm 1724, người thừa kế ông là Hoàng Ðế Yongzheng ra một chiếu chỉ gọi là “Chiếu Chỉ Loại Trừ và Tịch Thu.”  Trong toàn cõi Trung Quốc các nhà thờ bị phá hủy và biến thành vựa lúa, trường học, hội trường.  Dầu chiếu chỉ không áp dụng đồng đều trong toàn quốc.  Trong khoảng thời gian này, có vào khoảng 300,000 Cơ Ðốc Nhân tại Trung Quốc.  Con số này giảm dần trong các thập niên kế tiếp, vì cớ bách hại địa phương, cũng như chèn ép trên những hoạt động của các người Trung Quốc.

Sự tranh cãi và tranh đấu giữa các nhóm Công Giáo tại Trung Quốc đã góp phần vào việc chống đối của Hoàng Ðế.  Song một lý do nữa là sự suy đồi phẩm chất của các tu sĩ Dòng Tên phục vụ trong triều đình.  Vua Khang Hy than phiền là không một người nào trong số các Cơ Ðốc nhân làm việc trong triều đình vào cuối triều của ông biết tiếng Trung Quốc. (19)  Khi người bảo trợ cho Dòng Tên này ở Trung Quốc qua đời, không còn một người nào có quan hệ cá nhân giữa ngôi vua tại Trung Quốc và những người Cơ Ðốc Tây Phương làm việc tại triều đình.

Vào cuối thế kỷ thứ 18 v đầu thế kỷ thứ 19, các giáo sĩ Công Giáo Tây Phương tiếp tục hoạt động tại Trung Quốc với nhiều nguy hiểm (Risk).  Các cộng đồng họ phục vụ chịu nhiều bách hại.  Một số giáo sĩ tử vì đạo vào đầu thế kỷ thứ 19.  Dầu vậy vào năm 1807, có hơn 1800 người nhận phép Báp têm tại Trung Quốc, dấu hiệu là sự hiện diện của đức tin Công Giáo vẫn tiếp tục trong quốc gia trước kia đã được nhà vua tiếp đón.  Nói chung dường như là Cơ Ðốc Giáo Trung Quốc được đem vào trong nước với nhiều hứa hẹn vào cuối triều nhà Minh, một lần nữa đang gặp nạn và đang suy sụp đến độ gần như hoàn toàn tiêu diệt.

CÁC NGƯỜI TIN LÀNH ANH

Ứớc đoán là Cơ Ðốc Giáo sẽ bị tiêu diệt không xảy ra cũng nhờ cố gắng lớn bên ngoài muốn truyền giáo cho Trung Quốc, và lần này là do các người Tin Lành Anh.

Từ những cố gắng ban sơ buổi đầu, những cố gắng này xem như là quá yếu không có hiệu quả,  và các con số buổi đầu cho thấy nó không đem lại kết quả lớn.  Giáo sĩ Tin Lành đầu tiên đến Trung Quốc chỉ đem được 10 người đến với Chúa sau 27 năm làm việc.  Dầu vậy trong vòng nửa thế kỷ Tin Lành gần như đã lật đổ một triều đại qua các quân phản loạn đội lốt Cơ Ðốc, và qua một thế kỷ đã cung cấp cho quốc gia một nhà lãnh đạo có đức tin Cơ Ðốc.  Như chúng ta sẽ thấy, ảnh hưởng lâu dài của các công cuộc truyền giáo Tin Lành đã gieo hạt giống cho sự phát triển Tin Lành tại Trung Quốc trong thời hiện đại.

Tàu Buôn Nha Phiếu và Truyền Ðạo Ðơn

Vào ngày 4 tháng 9, năm 1807, một chàng thanh niên Anh 25 tuổi với dáng điệu gầy yếu tên là Robert Morrision, bước ra khỏi một tàu biển tại hải cảng Quảng Ðông (Canton, ngày nay gọi là Guangzhou), và đi đến xưởng Mỹ, một khu thương mại và dân cư của một nhóm nhỏ người Mỹ được chính phủ Trung Hoa cho phép buôn bán trong thành phố vào thời gian giữa các tháng Ba và tháng Chín.  Xưởng Mỹ (xưởng đây không có nghĩa là nơi sản xuất hàng hóa, nhưng là nơi các con buôn bán hàng hóa) là một trong các địa điểm người ta buôn bán và người Anh thường là nhóm người đồng nhất.

Morrison đã nung nấu nhiệt tâm để truyền giáo cho Trung Quốc và được Hội Truyền Giáo Luân Ðôn (London Missionary Society) tuyển mộ làm đại diện để sau này đến Á Châu.  Hội truyền giáo nghĩ là anh sẽ đi đến Penang, một đảo có nhiều người Trung Quốc ngoài biển Mã Lai để dịch Kinh Thánh ra tiếng Trung Quốc.  Tuy nhiên trong thời kỳ chiến tranh với vua Napoleon, tầu duy nhất đến Canton thuộc công ty British East India và công ty này chống đối công việc truyền giáo khắp nơi.  Vì vậy Morrison đi tàu biển đến Hoa Kỳ và từ đó lên một tầu Mỹ đến Trung Quốc.  Chủ tàu có vẻ bi quan.  Ông hỏi: “Anh Morrison, anh nghĩ anh sẽ tạo ảnh hưởng gì trên sự thờ thần tượng của Ðế Quốc Trung Hoa?”  Anh Morrison trả lời: “Tôi không, song tôi mong ước Ðức Chúa Trời sẽ làm.” (20)

Morrison lập tức nói tiếng Quan Thoại và thuê các giáo sư Trung Quốc dạy.  Những người này mạo hiểm dạy anh ta tiếng Trung Quốc vì một  giáo sư dạy tiếng Trung Quốc cho người ngoại quốc nếu bị bắt có thể bị tử hình.  Khả năng tiếng Trung Quốc của Morrison rất tốt đến nổi công ty British East India thuê ông làm việc dầu họ không ưa thích gì mục đích và và động lực đã đẩy ông học tiếng Trung Quốc.

Trong những tháng buôn bán giảm, Morrison sống trong một căn nhà nhỏ tại Macao một vùng đất do Bồ Ðào Nha quản trị, Morrison dịch Kinh Thánh ra tiếng Trung Quốc.  Tân Ước hoàn tất năm 1813, Cựu Ước năm 1819.  Bảy năm sau khi ông đến Trung Quốc vào tháng 9 năm 1814, ông làm Báp têm cho người tín hữu Tin Lành đầu tiên tại Trung Quốc.  Chỉ 9 tín hữu nữa được Morrison làm phép Báp têm trong suốt chức vụ của Morrison trước khi ông qua đời vào năm 1834.

Một trong những khó khăn của Morrison và thật ra đây là tảng đá lớn cột vào đầu tất cả các nhà truyền giáo hơn một thế kỷ là liên quan giữa các nhà truyền giáo và các nhà buôn đến Quảng Châu để buôn bán thuốc phiện.  Nói cho đúng thuốc phiện không phải là sáng chế của những người Tây Phương, nó được dùng làm thuốc nghiện tại Trung Quốc hàng chục năm trước khi Morrison đến Trung Quốc vào năm 1807.  Nhưng công ty Bristish East India đã kiểm soát hầu hết Ấn Ðộ từ năm 1759 trở đi, đặc biệt họ khuyến khích trồng thuốc phiện tại Ấn Ðộ để kiếm tiền buôn bán với Trung Quốc.  Ngay sau khi công ty này mất độc quyền buôn bán ở Á Châu vào năm 1833, các công ty khác của Anh cũng tiếp tục buôn nha phiến với Trung Quốc.  Chính phủ Anh làm ngơ trong việc buôn bán này và cũng không chính thức tuyên bố là họ không liên hệ gì đến vấn đề đem nha phiến đến Trung Quốc.  Dĩ nhiên là họ biết.

Một số giáo sĩ Tin Lành Tây Phương sẵn sàng tìm mọi cách để đến Trung Quốc.  Một trong những người có tài về ngôn ngữ là một người Ðức tên là Charles (Karl) Gutzlaff, ông tìm cách làm việc với hãng Jardine Mathesen một công ty lớn lúc bấy giờ buôn bán nha phiến, với mục đích để ông có thể đem truyền đạo đơn vào Trung Quốc.  Công ty British East India vào thế kỷ thứ 18 đã nhận thấy việc bán nha phiến ở Ấn Ðộ, một nước bị Anh cai trị, với Trung Quốc là một nguồn lợi giá trị cho việc kiểm soát Trung Quốc.  Jardine Mathesen và các công ty khác khám phá là việc bán nha phiến có thể đủ tiền để trả cho trà, lụa, ru-ba và đồ sứ, những sản phẩm tầng lớp trung lưu ở Anh cần.  Từ năm 1830 đến 1840 Gutzlaff là thông dịch viên cho công ty Jardine Mathesen và chính phủ Anh.  Ông đến Trung Hoa nhiều lần, nhiều lúc phát truyền đạo đơn cho hành khách trong các tàu chở thuốc phiện đến Trung Quốc.

Trung Quốc yêu cầu chính quyền Anh giảm buôn bán thuốc phiện, các thương gia buôn bán thuốc phiện đòi hỏi Trung Quốc phải mở các thương cảng cho thương mại ngoại quốc mà không bị ràng buộc bởi các hạn chế của chính quyền.  Ðiều này dẫn đến chiến tranh nha phiến vào năm 1839-1842.  Quân đội Anh đánh bại quân đội Hoàng Gia Trung Quốc đã được phái đến để đuổi họ ra khỏi Trung Quốc.  Vào năm 1842 một hiệp ước quan trọng được đưa ra để ép Trung Quốc ký, Hiệp ước Nam Kinh.  Hiệp ước này giao Hồng Kông cho Trung Quốc và mở năm thương cảng cho việc buôn bán cho các cường quốc.  Phúc Châu, Xiamen, Ninh Ba, Quảng Châu và Thượng Hải.  Các thương cảng hiệp ước này không phải chỉ là thị trường dành cho việc buôn bán quốc tế song trong các thương cảng này, người ngoại quốc còn được sống tự do như trên đất của họ, vì vậy họ không bị ràng buộc bởi luật pháp Trung Quốc.  Người Trung Quốc xem đó như là một loạt hiệp ước bất công do các cường quốc Tây Âu chèn lên họ.

Bị các cường quốc đánh bại, triều đình nhà Thanh mất uy tín khi triều đình bước vào thời kỳ suy yếu, tham nhũng trong chính quyền càng gia tăng, mùa màng hư hại, nông dân mất ruộng đất và trở nên bất mãn.  Vào thời buổi này Cơ Ðốc Giáo, ít ra là thành phần yếu của nó đã vào đời sống thường nhật của đám đông Trung Quốc.

(Còn tiếp)

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top