Thư Viện Tin Lành: Trang Nhà » Lịch Sử » Hạ Xuyên Phong Ngạn – Toyohiko Kagawa – Phần 19

Hạ Xuyên Phong Ngạn – Toyohiko Kagawa – Phần 19

Hạ Xuyên Phong Ngạn  – Toyohiko Kagawa – Phần 19

Phong Ngạn nói: “Tôi ước gì chúng ta có thể xây dựng một hội thánh – không phải giống như một câu lạc bộ chỉ thảo luận về đạo đức – Hội Thánh phải là một tổ chức xã hội được xây dựng trên tình thương và trong đó mọi người đều giúp lẫn nhau.”

Rất nhiều người trẻ chân tình và nhiệt thành, nghe về những việc Phong Ngạn làm, đã đến hiệp tác với ông. Với sự giúp đỡ của họ, nhiều trung tâm giữ trẻ và trường mẫu giáo được tổ chức tại ba thành phố. Những nông trại kiểu mẫu được hình thành. Tại các làng mạc, nhiều nhà thờ được xây dựng. Vào những ngày trong tuần, ban ngày cơ sở nhà thờ hoạt động như những nhà giữ trẻ khi cha mẹ các em làm việc ngoài đồng, và trở thành trường học vào ban đêm. Ngày Chúa Nhật, cơ sở nhà thờ dùng để thờ phượng Chúa.  Vào mùa đông, lúc các nông dân nghỉ việc, những lớp dạy về kỹ thuật nông nghiệp được tổ chức để giúp nông dân. Có những hợp tác xã bán thực phẩm và quần áo với giá rẻ mà những người nghèo nhất cũng có thể mua được.  Âu phục theo kiểu Tây Phương được may và bán tại đây. Một bộ đồ tây gồm áo sơ-mi, quần, và áo vét được bán với giá 30 xu tiền Mỹ. Có những nhà bếp nấu những món ăn dinh dưỡng, bán giá rẻ cho những gia đình ít người vì phải bận rộn làm việc không có thì giờ nấu nướng. Giá ba bữa ăn mỗi ngày chỉ có 14 xu. Còn những người bệnh thì có những bệnh viện điều trị với giá chỉ bằng 1/5 những bệnh viện khác. Cũng có hợp tác xã tín dụng để gởi tiền và vay với phân lời thấp.

Điều đáng tiếc là những người cộng sản len lõi trong nội bộ dần dần chiếm quyền kiểm soát liên đoàn lao động, và sau đó chiếm luôn hiệp hội nông dân.  Trước việc đáng buồn đó, Phong Ngạn quyết định xây dựng lại những tổ chức mới để phục vụ quyền lợi các thành viên thay vì làm theo lệnh của Moscow.

Những xóm nghèo ở Kobe là động lực tạo nên ước mơ của Phong Ngạn.  Lúc ông được 40 tuổi, ước mơ này không chỉ trở thành hiện thực tại đây nhưng được thực hiện khắp Nhật Bản.  Để có thể trở thành hiện thực, điều này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và năng lực mà ông không bao giờ nghĩ rằng mình có được.   Hằng ngày thức dậy vào lúc 5 giờ sáng, ông dành một giờ để tĩnh nguyện. Sau đó dành cả buổi sáng để viết, kiếm tiền trang trải những chi phí cho những hoạt động của ông. Ông cũng đi khắp Nhật Bản thuyết trình và hướng dẫn dân chúng cách tổ chức và cùng làm việc chung với nhau.

Sau khi Tokyo phục hồi từ trận động đất và hỏa hoạn, thành phố đã được xây dựng lại với những chi phí kinh khủng.  Sau đó, nạn suy thoái diễn ra khắp cả nước.  Ngay tại Tokyo, vài trăm ngàn người không có việc làm.  Thị trưởng Tokyo cử người mời Phong Ngạn làm lãnh đạo Sở Xã Hội với lương 4.500 đô-la một tháng và một xe hơi cho ông xử dụng.  Điều này có nghĩa là phải bỏ tất cả những việc mà ông đã làm.  Mục sư Phong Ngạn trả lời: “Tôi sẽ làm cố vấn nhưng không lãnh lương.  Thành phố đã mắc nợ quá nhiều rồi không cần phải tốn thêm nữa.”

Vài năm trước đó, Phong Ngạn thường bị các mật vụ theo dõi và đôi khi bị bắt vì những chuyện cải cách xã hội mà giờ đây chính quyền nhờ ông cố vấn để thực hiện.  Một dự luật mà ông soạn thảo đã được thông qua.  Dự luật này cấp trợ cấp thất nghiệp cho những người lao động không có năng khiếu.  Đây là luật thất nghiệp đầu tiên cho cả vùng Đông Á.  Những khu định cư, bệnh viện, và nhà trẻ được thành lập trên những kế hoạch mà ông đã từng thực hiện trước đây.

Uy tín của Phong Ngạn truyền đến nhiều nơi trên thế giới.  Albert Einstein đến Nhật, cả hai cùng sóng bước dọc theo bờ biển Kobe thảo luận thế nào những tư duy khoa học đã giảm bớt tính duy vật.  Khi Phong Ngạn còn là một sinh viên tại đại học, người ta tin rằng khoa học và tôn giáo không thể hòa hợp với nhau.  Bây giờ thì Einstein nói rằng ông không thấy có sự khác biệt giữa vật chất và năng lượng. Phong Ngạn nói:  “Càng nghiên cứu thiên nhiên, chúng ta càng thấy bằng chứng sáng tạo bên trong và suốt cõi thiên nhiên.”

Công trình nghiên cứu một giọt nước có thể khám phá ra những huyền nhiệm quan trọng nhất.  Một người có thể tin vào Đấng Tạo Hóa, là Đấng đã tạo dựng toàn thế giới, từ những kiến thức tìm thấy trong một giọt nước nhỏ.  Các bước sóng cũng vậy – không có một bước sóng nào không có trật tự – tất cả đều có một hướng.  Người đó có thể nhận thấy sự sáng tạo qua sự xoay vần của các tinh tú.  Cấu trúc của thái dương hệ và cấu trúc nguyên tử cũng giống như nhau.

Mặc bộ đồ âu phục may từ những hợp tác xã, Phong Ngạn viếng thăm nhiều quốc gia trên thế giới – vừa giảng dạy vừa học hỏi.  Phong Ngạn là khách mời của Gandhi tại Ấn Độ.  Cả hai là những môn đệ của tư tưởng bất bạo động của Tolstoy.  Hai người đã trao đổi về những điều họ đã làm cho dân chúng tại quốc gia của mình.

Gandhi nói:  “Tôi rất vui vì được ông đến thăm.  Tôi đã nghe rất nhiều về ông.”  Gandhi ngạc nhiên vì thấy Mục sư Phong Ngạn còn quá trẻ.  Gandhi cũng vậy, trong mảnh áo choàng nội hóa, với một phần thân thể ở trần, trông trẻ hơn tuổi bảy mươi của ông.

Phong Ngạn hỏi:  “Nếu ông là tôi, ông sẽ chọn thái độ nào tại Nhật?”

Gandhi trả lời:  “Chẳng có gì khác ngoại trừ lương tâm.”

“Chỉ thụ động và không phạm tội thì chưa đủ.  Nếu một ngón tay nhỏ bị thương, ngón tay kế cận không thể nào không bị ảnh hưởng.” Bác sĩ Phong Ngạn nhận xét.

Phong Ngạn đã nghiên cứu cách điều hành các hợp tác xã từ các nông trại sản xuất sửa và ngành ngư nghiệp tại Đan Mạch. Ông cũng tự hỏi làm thế nào có thể áp dụng thành công của các hợp tác xã nông nghiệp, các phân xưởng sản xuất, và các tiệm buôn tại Na Uy và Thụy Điển.

Tại Anh Quốc, Phong Ngạn được tiếp chuyện với Ramsay McDonald, Bộ trưởng Ngoại Giao – người đã sáng lập Đảng Lao Động đầu tiên tại Anh, và sau đó thành lập nội các từ Đảng  Lao Động. Phong Ngạn muốn có một Đảng Lao Động tại Nhật Bản.

Từ Anh, Phong Ngạn sang Hoa Kỳ.  Vào thời điểm này, danh tiếng Phong Ngạn được nhiều nơi biết đến.  Mỗi khi ông thuyết trình, nhiều người đổ xô đến tham dự. Ông được so sánh với Albert Schweitzer, Thánh Francis ở Assisi, và Gandhi tại Ấn Độ.

Lúc này, có lẽ dễ dàng cho Phong Ngạn dùng phần còn lại của cuộc đời để an nghỉ; nhưng nhóm quân phiệt đã dành quyền kiểm soát tại Nhật.  Từ một chuyến đi thuyết trình trở về, Phong Ngạn  cảm thấy bầu không khí tại Nhật thật căng thẳng với những chuẩn bị cho chiến tranh.  Quân đội được điều động và sau đó xâm chiến Trung Hoa.

“Một lần nữa, tôi trở thành đứa con của những lo âu, phải nhận trách nhiệm về tội của nước Nhật.  Xin lỗi Trung Hoa.  Xin lỗi thế giới.”  Phong Ngạn viết những dòng chữ trên trong một bài thơ của mình.

Phong Ngạn bị đưa vào hoàn cảnh giống như ông đã làm lúc còn là sinh viên vào thời chiến tranh với Nga.  Ông phê bình những đường lối vô lương tâm của giới cầm quyền hiếu chiến: họ gây chiến rồi để cho dân chúng đau khổ. Dân Nhật lúc đó đang bị đói và không có đủ thức ăn.

Phong Ngạn viết: “Những kẻ chủ chiến của nước Nhật, các người biết quá ít.  Tại quốc gia này cũng có những tâm hồn dịu dàng đang nhặt củi từ phía sau của những rặng núi.”  Và sau đó ông viết một bức thư gởi cho nước Trung Hoa, được đăng trên một tạp chí tại Hoa Kỳ: “Xin hãy tha thứ cho tội mà nước Nhật đã phạm trên đất nước của các bạn.  Những người có thiện chí tại Nhật không có quyền kiểm soát những nhóm quân phiệt; nhưng những người có nhận thức đau khổ vì tội ác của nước Nhật.  Tôi thành thật hy vọng rằng qua lời cầu nguyện và những hành động của chúng tôi, hòa bình giữa hai quốc gia sẽ được phục hồi.”

Sau đó, nhiều biểu ngữ được giăng khắp Tokyo, viết rằng:  “Hãy giết kẻ phản bội Phong Ngạn!  Hắn chống lại quốc gia!  Hắn là kẻ phản bội tổ quốc!”

Một ngày nọ, sau khi Mục sư Phong Ngạn giảng một bài về bất bạo động, trong đó có trích câu Kinh Thánh: “Lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận!”  Hai người lạ đã đến bắt ông.  Những người bạn thấy ông bị dẫn đi, một lần nữa, họ biết ông sẽ bị cầm tù.  Một trong những cộng sự của ông là Mục sư Ogawa cũng bị bắt cùng với ông.

Sau đó, một nhân viên của cảnh sát được cử đến phỏng vấn những người trong nhà thờ để tìm bằng chứng buộc tội phản quốc của Phong Ngạn, nhưng sau khi nghe tất cả những điều tốt đẹp mà ông đã làm, nhân viên điều tra này đã thay đổi thái độ.  Ông bắt dầu dùng chữ Sensei (thầy, sư phụ) khi nhắc đến Phong Ngạn.  Sau đó, khi Haru cùng với vợ của Mục sư Ogawa mang quà đến cho hai người bị bắt, thì họ cũng được đối  xử thật kính trọng.

Mười tám ngày sau đó, Bộ trưởng Ngoại Giao Nhật đã thuyết phục Bộ trưởng Tư Pháp thả hai người này. Phong Ngạn bị phạt vì đã nói rằng người lao động cũng đáng được kính trọng như hoàng đế.

Mười năm kế tiếp, sau khi Phong Ngạn ra khỏi tù, chiến tranh lan rộng khắp nơi. Các lãnh tụ trở thành những nhà độc tài bất kể nguyện vọng của dân chúng. Mussolini đã gởi quân sang Ethiopia. Quân đội của Hitler tiến vào Cộng Hoà Czechoslovakia.  Nga xâm chiếm Phần Lan. Các quốc gia Áo, Ba Lan, Anh, Pháp đều tham chiến.   Mỹ và Nhật chuẩn bị binh lực; những hiệp ước cũ bị phá vỡ.  Tuyên truyền cổ động cho lòng hận thù và nghi ngờ lan truyền khắp nơi.

Năm 1936, trong một bài diễn văn tại Hoa Kỳ, Phong Ngạn đã nói rằng: “Hãy biết  rằng nước Nhật yêu mến các bạn.  Nếu Nhật là một quốc gia dại dột, thì sẽ gây chiến.  Nhưng ở Nhật cũng có nhận thức: 98% giới trí thức Nhật chống chiến tranh.”

Năm 1937, chiến thuyền Panay của Mỹ bị đánh chìm bởi máy bay ném bom của Nhật trên sông Giang Tử tại Trung Hoa khiến 3 người chết và 11 người bị thương. Chính phủ Nhật xin lỗi và bồi thường. Nguy cơ chiến tranh giữa hai quốc gia xảy ra gần hơn bao giờ hết; tuy nhiên cũng có những người ở cả hai nước hy vọng cho giải pháp hòa bình.

Năm 1940, Phong Ngạn bị bắt một lần nữa với tội tuyên truyền chống lại quyền lợi của chính quyền. Ông nhận biết rằng chiến tranh không thể nào tránh khỏi, nhưng ông vẫn không ngừng tranh đấu cho những những giải pháp hòa bình và bất bạo động.

Lúc đó tại Nhật, những vết thương cũ được nhắc lại.  Một nòi giống tự hào, với một nền văn hóa cổ xưa, đã bị đối đãi như những kẻ nhược tiểu dưới luật Ngoại Lệ (Exclusion Act) của Hoa Kỳ, từ chối quốc tịch cho những người có huyết thống Á Đông.

Năm 1941,  Phong Ngạn đến Hoa Kỳ với những đại diện của những người tin Chúa tại Nhật Bản. Sau khi trở về, Phong Ngạn đến Thượng Viện và Hạ Viện Nhật thuyết phục cho giải pháp hòa bình.  Ông nói: “Tôi vừa từ Mỹ quốc trở về, tôi biết rằng dân Mỹ muốn hòa bình.”

Ngày 1 tháng 12 năm 1941, Phong Ngạn nhận một điện tín từ Stanley Jones. Một nhóm tín hữu Tin Lành đã cầu nguyện suốt một tuần, cả ngày lẫn đêm, cho việc đàm phán hòa bình giữa hai quốc gia Mỹ và Nhật. Phong Ngạn và những người cộng sự cũng cầu nguyện cho vấn đề này.  Họ thắp nến cầu nguyện suốt ngày đêm.  Hết ngày thứ bảy, nến tắt. Tin tức từ đài phát thanh cho biết về vụ ném bom tại Trân Châu Cảng.  “Tôi cảm thấy như tất cả ngọn đèn trên thế giới này vụt tắt.  Tâm hồn tôi tan vỡ.”  Về sau, Phong Ngạn đã viết như vậy.

Bốn năm kế tiếp thật là đen tối. Mục sư Phong Ngạn bị chính phủ quân phiệt Nhật bách hại. Bích chương “Giết kẻ phản bội Phong Ngạn” xuất hiện khắp nơi. Những bài công kích ông cũng in đầy trên báo chí. Mặc dù lúc đó ông đã viết 113 quyển sách, không cuốn nào được các nhà xuất bản nhận in; và trong những cuốn sách đã in từ trước, ngoại trừ vài tập thơ, tất cả đều bị cấm.  Phong Ngạn đã phải bán đi hàng trăm cuốn sách trong thư viện riêng để có tiền giúp cho khu định cư tại các xóm nghèo tiếp tục hoạt động.

Một năm sau khi chiến tranh diễn ra, Mục sư Phong Ngạn bị bắt một lần nữa nhưng chỉ bị giữ vài giờ tại đồn cảnh sát rồi sau đó được thả ra.  Vài tháng sau, có một thanh niên bị bắt vì không chịu đi lính. Thanh niên này nói rằng anh chịu ảnh hưởng bởi sự dạy dỗ của Phong Ngạn.  Phong Ngạn bị triệu đến trước tòa và bị tòa ra lệnh phải yên lặng trong suốt thời gian chiến tranh.

Sau đó, vì không được phép hoạt động giúp người nghèo, Mục sư Phong Ngạn phải về sống tại một hòn đảo ở Nội Hải (Inland Sea).   Tại đây, ông thành lập một trung tâm cho những người bị bệnh lao.  Phong Ngạn ở tại đó cho tới khi chiến tranh gần kết thúc.

Phong Ngạn chấp nhận yên lặng như đã hứa.  Không được diễn thuyết, ông đã trình bày tư tưởng mình qua những vần thơ.  Công việc chăm sóc bệnh nhân giữ ông bận rộn trong những năm tháng này.

Những ngôi sao không nói, những đóa hoa không ca
Nhưng ánh sáng và màu sắc có nhiều tiếng nói hơn chính lời nói
Và chúng tạo thành những lời ca hơn chính bài ca
Chúng không nói, chúng không ca
Nhưng thanh âm của chúng lan truyền khắp vũ trụ.

Thư Viện Tin Lành
www.thuvientinlanh.org

©2012-2017 by Thư Viện Tin Lành

Scroll to top